tín hiệu thẩm mỹ có nguồn gốc từ điển cố trong khúc ngâm nửa cuối thế kỷ xviii - đầu thế kỷ xix - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI HOÀNG LÊ ANH LY TÍN HIỆU THẨM MỸ CÓ NGUỒN GỐC TỪ ĐIỂN CỐ
TRONG KHÚC NGÂM NỬA CUỐI THẾ KỶ XVIII –
ĐẦU THẾ KỶ XIX

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.
ĐỖ VIỆT HÙNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ
HÀ NỘI, năm 2011
LỜI TRI ÂN

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn ban chủ nhiệm khoa
ngữ văn ñã tổ chức cho chúng tôi ñược thực hiện luận văn tốt
nghiệp cuối khoá.
Tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy cô giáo trong
khoa ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ñã nhiệt tình
giảng dạy và gợi mở cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong quá
trình học tập cũng như thực hiện luận văn.
Đặc biệt Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến

PGS.TS.
Đỗ Việt Hùng - người ñã trực tiếp hướng dẫn tôi, chỉ bảo tận
tình và giúp ñỡ tôi hoàn thành tốt luận văn của mình.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc ñến bạn bè và
những người thân, ñã giúp ñỡ ñộng viên trong thời gian học tập
và thực hiện luận văn.


CHƯƠNG 2: ĐIỂN CỐ TRONG KHÚC NGÂM NỬA CUỐI THẾ KỈ
XVIII- ĐẦU THẾ KỈ XIX 41
2.1 Sự hình thành và ñặc ñiểm của thể loại khúc ngâm nửa cuối thế kỉ XVIII
– ñầu thế kỉ XIX 41
2.1.1. Sự hình thành thể loại khúc ngâm 41
2.1.2. Đặc ñiểm của thể loại khúc ngâm 43
2.2. Điển cố trong một số khúc ngâm 45
2.2.1. Nguồn gốc ñiển cố trong khúc ngâm 45
2.2.2. Đặc tính ñiển cố trong khúc ngâm 51
2.2.2.1. Điển cố âm thuần Việt 51
2.2.2.2. Điển cố âm Hán Việt 56
2.2.2.3. Điển cố âm bán Việt hóa 59
2.2.3. Phương thức sử dụng ñiển cố trong khúc ngâm 62

2
2.2.4. Phương thức giải mã ñiển cố trong khúc ngâm 67
2.3. Tiểu kết 68
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ THẨM MĨ CỦA ĐIỂN CỐ TRONG KHÚC NGÂM
NỬA CUỐI THẾ KỈ XVIII - NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 70
3.1. Điển cố và biểu hiện giá trị thẩm mĩ với nội dung khúc ngâm 70
3.1.1. Điển cố thể hiện quan hệ ñạo ñức, tình cảm trong Chinh phụ ngâm 70
3.1.2. Điển cố thể hiện chí làm trai, tư tưởng lập thân, công danh trong Chinh phụ ngâm
84
3.1.3. Điển cố góp phần xây dựng hình tượng người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc
92
3.1.4. Điển cố góp phần khắc họa hình tượng bọn vua chúa phong kiến trong Cung
oán ngâm khúc 105
3.1.5. Điển cố góp phần thể hiện lập trường, tư tưởng của tác giả 108
3.2. Điển cố và biểu hiện giá trị thẩm mĩ với hình thức nghệ thuật khúc ngâm
114

tức là chuyển hoá các tín hiệu thẩm mĩ vào hệ thống từ ngữ, cú pháp của văn bản
nghệ thuật. Tín hiệu thẩm mĩ có nhiều nguồn gốc khác nhau. Nhưng có thể khái
quát thành hai nguồn gốc chính ñó là nguồn gốc từ hiện thực khách quan, từ các
mẫu gốc của một nền văn hoá, nó gắn liền với sự nhận thức về bản chất của ñối
tượng trong những ñiều kiện lịch sử văn hóa, xã hội nhất ñịnh. Chúng chính là
những tín hiệu thẩm mĩ nguyên cấp. Trong quá trình phát triển của các ngành nghệ
thuật, do sự giao lưu, tiếp xúc văn hoá, các tín hiệu thẩm mĩ của một nền văn hoá,
văn học này có thể gia nhập vào một nền văn hoá, văn học khác gọi ñó là những
tín hiệu thẩm mĩ thứ cấp.
Trong văn học Việt Nam trung ñại các tín hiệu thẩm mĩ thứ cấp ñược sử dụng
rất nhiều ñặc biệt là các ñiển tích, ñiển cố. Chính vì vậy muốn tìm hiểu giá trị thẩm
mĩ của một tác phẩm văn học trung ñại ta phải nghiên cứu hệ thống tín hiệu thẩm
mĩ hay nói cách khác ta phải giải mã ñược các tín hiệu thẩm mĩ có nguồn gốc từ
ñiển tích ñiển cố.
Hiểu và vận dụng ñược ñiển tích, ñiển cố tức là tránh ñược bệnh rậm lời vô ích
và tránh ñược cả những ý thô lỗ không tiện nói trước mặt ñối tượng mà vẫn ñạt tới
hiệu quả “ít lời nhiều ý”, “lời ñã hết, ý vẫn còn”. Riêng với trường hợp Việt Nam,
vì lịch sử văn hóa Trung Quốc với lịch sử văn hóa Việt Nam có mối liên hệ ñặc
biệt do hoàn cảnh cùng dùng chung ngôn ngữ văn tự trong hàng nghìn năm nên
việc hiểu rõ và vận dụng ñúng «ñiển» lại càng ñược coi là quan trọng hàng ñầu.

4
1.2. Khúc ngâm là một thể loại trữ tình ñặc sắc của văn học Việt Nam trung
ñại. Có thể nói việc sáng tạo ra thể khúc ngâm có ý nghĩa ñáng kể về mặt phát
triển thể loại thơ trữ tình, ñồng thời nó cũng ñánh dấu cho sự phát triển vượt bậc
về quan niệm tự tình của thơ trữ tình trung ñại, ñến khúc ngâm còn người cá nhân
trong văn học trung ñại ñã thực sự xuất hiện. Nó bày tỏ thế giới nội tâm, phổ biến
qua những tác phẩm thơ trường thiên, bày tỏ tình cảm suy tư, giải bày xúc cảm,
thể hiện sự tin tưởng, mối hoài nghi và ước vọng mà thời ñại trước chưa từng có.
Việc xuất hiện hàng loạt các khúc ngâm như: Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ

ích cho bản thân sau này trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy văn học trung
ñại. Nghiên cứu vấn ñề này hứa hẹn sẽ ñem lại những bất ngờ lí thú về hiệu quả
của ñiển cố trong việc làm nên sức sống trường tồn của những khúc ngâm giai
ñoạn văn học nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa ñầu thế kỉ XIX .
2. Lịch sử vấn ñề
Nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương có rất nhiều hướng ñi,
song những năm gần ñây, nhiều vấn ñề của văn học ñang ñược soi rọi dưới cái
nhìn của ngôn ngữ học hiện ñại trong ñó vấn ñề lí thuyết về tín hiệu tỏ ra rất có ưu
thế. Ở nước ta, vấn ñề tín hiệu và tín hiệu thẩm mĩ ñã ñược các tác giả như Bùi
Minh Toán, Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đào Thản,
Phan Ngọc, Đái Xuân Ninh… quan tâm nghiên cứu nhiều. Nhiều luận văn triển
khai theo hướng nghiên cứu này ñã khẳng ñịnh ñược ý nghĩa thực tiễn của hướng
nghiên cứu văn học từ góc ñộ ngôn ngữ, ñồng thời ñã có những ñóng góp bổ sung
quan trọng vào lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ. Tuy nhiên việc nghiên cứu tín hiệu thẩm
mĩ trong tác các phẩm văn chương từ góc ñộ ngôn ngữ học còn chưa nhiều ñặc
biệt là các tín hiệu thẩm mĩ có nguồn gốc từ ñiển tích, ñiển cố trong các tác phẩm
văn học trung ñại.
Do quan niệm thẩm mỹ ở thời trung ñại, ñiển cố văn học không có gì xa lạ nên
việc tiếp thu ñiển cố trong một tác phẩm văn học không có gì khó khăn. Điển cố
ñược tiếp thu bình thường như những ngôn ngữ khác, giống như chúng ta hiểu một
từ quốc âm mà không cần chú thích.

6
Từ khi chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nôm và chữ Hán trên văn ñàn, ñiển cố
trong các tác phẩm văn học trung ñại ngày càng trở nên bí ẩn và khó hiểu ñối với
ñộc giả hiện ñại. Vì vậy, khi phiên dịch các tác phẩm văn học trung ñại ra chữ
Quốc ngữ các học giả thường chú ý chú thích các ñiển cố.
Từ giai ñoạn cuối những năm 1940 trở ñi do khối lượng ñiển cố ñược chú giải
trong văn học ngày càng nhiều. Để giúp người ñọc thuận tiện tìm hiểu nghĩa của
các ñiển cố thì các nhà nghiên cứu bắt ñầu biên soạn các loại sách từ ñiển ñiển cố.

Truyện Kiều, Hoa Tiên, Sở kính tân trang (truyện thơ), Chinh phụ ngâm khúc, Tự tình
khúc, Cung oán ngâm khúc (ngâm khúc).
Đoàn Quang Lưu, Mở rộng ñiển tích trong chinh phụ ngâm, lại chủ yếu giới
thiệu, giải nghĩa các ñiển tích, ñiển cố trong Chinh phụ ngâm. Mở rộng giải thích
về lịch sử, văn học, ñịa lý, thiên văn của các ñiển tích mà nhiều sách cũ ñã diễn
giải nhưng chưa có. Chẳng hạn như các ñiển tích, ñiển cố lấy từ Kinh Thi, Kinh
Xuân Thu và thơ Đường ñều ñược truy tìm tận gốc và có một số ñiển tích dịch ra
nguyên bài Hán ra Việt, các ñiển tích liên quan ñến vật lí, thiên văn ñịa lý ñều
ñược tìm trong các từ ñiển, nhất là: The world book Ercyclopedia.
Ngoài hai công trình trên còn có một số bài viết bàn về nghệ thuật dụng ñiển
trong các khúc ngâm, nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức nêu vấn ñề ñể bàn luận.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên ñã khảo sát một cách hệ thống về
nguồn gốc, tính chất, ñặc trưng, ý nghĩa và ñưa ra nghệ thuật sử dụng ñiển trong
một số khúc ngâm nhưng các tác giả chưa nghiên cứu ñiển cố ở khía cạnh là một
tín hiệu thẩm mĩ văn chương ñồng thời xác lập vai trò của ñiển cố như khai mở
một thế giới nghệ thuật, truy tìm tới những giá trị chân, thiện, mĩ của các tác phẩm
khúc ngâm.
Thực hiện ñề tại này, chúng tôi sẽ kế thừa những kết quả của các công trình
nghiên cứu nói trên.
.
3. Mục ñích nghiên cứu

Dựa trên những cơ sở lí thuyết về tín hiệu thẩm mĩ, chúng tôi mong muốn thể
nghiệm phương pháp nghiên cứu văn học dưới cái nhìn của tín hiệu học nói chung,

8
ngôn ngữ học nói riêng ñể thấy ñược vai trò to lớn của các tín hiệu thẩm mĩ có nguồn
gốc từ ñiển cố trong việc thể hiện giá trị nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của các
khúc ngâm, ñồng thời khẳng ñịnh tính chất bác học của thể loại và sự khéo léo, uyên
thâm của các tác giả khi vận dụng ñiển cố trong tác phẩm.

cố trong các khúc ngâm nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa ñầu thế kỉ XIX.
- Trong luận văn chúng tôi cũng khảo sát và phân tích một cách cụ thể ñể thấy
ñược mối quan hệ thẩm mỹ giữa nội dung và hình thức nghệ thuật của ñiển cố
trong các ngâm khúc góp phần vào việc tìm một con ñường khép mở thế giới tâm
hồn và quan niệm thẩm mỹ của người xưa ñược thể hiện trong các khúc ngâm. Từ
ñó giúp cho tác giả luận văn có những nhận thức cơ bản về ñiển cố văn học và
khúc ngâm ñể phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy sau này.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở ñầu, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc
gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Tín hiệu thẩm mĩ có nguồn gốc từ ñiển cố trong khúc ngâm
nửa cuối thế kỉ XVIII - ñầu thế kỉ XIX
Chương 3: Giá trị thẩm mĩ của ñiển cố trong khúc ngâm nửa cuối thế kỉ
XVIII - ñầu thế kỉ XIX 10 Chương I : CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Khái niệm về tín hiệu thẩm mĩ
Khái niệm về tín hiệu thẩm mĩ (THTM) từ khi ra ñời cho ñến nay vẫn chưa
có một ñịnh nghĩa trọn vẹn, thống nhất. GS. TS. Bùi Minh Toán cho rằng THTM

một hệ thống cấu trúc nhiều tầng mang ñậm tính cấu trúc, tính hình tượng, tính
cá thể hoá, tính cụ thể hoá. Chúng làm cho người ta thông qua ñó tri giác ñược,
suy diễn ñược, lí giải ñược, biết về và biết tới cái gì khác, các ý nghĩa mới khác,
các thông tin bổ sung mới khác, ñó là các tín hiệu thẩm mĩ mở rộng ở ngoài
phạm vi hơn và ý nghĩa thẩm mĩ chìm sâu hơn ñối với nội dung tinh thần cơ bản
do tín hiệu ngôn ngữ mang lại.
Tuy chưa có một ñịnh nghĩa hoàn chỉnh nào về tín hiệu thẩm mĩ nhưng
nhìn chung các tác giả ñều thống nhất ở chỗ coi tín hiệu thẩm mĩ là yếu tố thuộc
phương tiện biểu hiện của nghệ thuật, chúng phải có ý nghĩa thẩm mĩ, việc sử
dụng chúng phải nhằm mục ñích thẩm mĩ và có khả năng kích thích mạnh mẽ tới
thế giới tinh thần của chúng ta. Nói ñến “phương tiện” của nghệ thuật phải tính
ñến hai mặt, mặt thể chất và mặt tinh thần. Mặt thể chất có thể dễ dàng nhận biết
qua các chất liệu ñược sử dụng trong các ngành nghệ thuật (như ñường nét, màu
sắc trong hội hoạ, âm thanh trong âm nhạc, ngôn ngữ trong văn học…). Còn mặt
tinh thần thì phức tạp hơn nó bao hàm nhiều lớp ý nghĩa, nhiều tầng khái quát
hoá, trìu tượng mang tính thẩm mĩ. Tín hiệu thẩm mĩ ñược coi là chìa khoá ñể ñi
vào khám phá chiều sâu của tác phẩm nghệ thuật và cái làm nên giá trị nghệ
thuật lại nằm ở sức khái quát của những nội dung hình tượng “ñồ sộ hơn rất
nhiều so với ý nghĩa của bản thân thực tế cuộc sống” (Trương Thị Nhàn).
1.2. Mối quan hệ giữa tín hiệu – tín hiệu ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ
Đã có nhiều ñịnh nghĩa khác nhau về tín hiệu nhưng ñể hiểu khái niệm tín
hiệu một cách giản tiện nhất chúng tôi lấy khái niệm về tín hiệu của tác giả Bùi
Minh Toán “tín hiệu là một yếu tố vật chất kích thích vào giác quan cuả con

12

người làm cho người ta tri giác ñược và thông qua ñó biết ñược một ñiều gì khác
ngoài vật ñó” [34; tr.68]. Điều kiện cần cho một sự vật trở thành một tín hiệu: 1)
Phải là một dạng vật chất (con người nhận ñược bằng các giác quan); 2) Phải gợi
ra một cái gì khác không phải là chính nó, nghĩa là tín hiệu dùng ñể biểu ñạt một

“nó có bề rộng: bề rộng ñó chỉ có thể trên một chiều mà thôi: ñó là ñường chỉ
một tuyến” [30, tr144].
Khi nói về ñặc trưng của tín hiệu ngôn ngữ, tác giả Đỗ Hữu Châu ñã chỉ ra
ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu nhân tạo, xã hội, có chức năng giao tiếp và so sánh
nó với các tín hiệu khác ñể thấy ñược ưu thế vựợt trội của tín hiệu ngôn ngữ.
Trước hết ngay trong các chức năng xã hội của mình, ngôn ngữ là một hệ thống
ña chức năng, trong ñó nổi bật là chức năng làm công cụ giao tiếp và tư duy.
Hai chức năng này thực hiện không tách rời nhau mà gắn chặt với nhau. Ngoài
ra ngôn ngữ còn thực hiện chức năng khá quan trọng, nó ñược coi là một thứ
công cụ ñể tổ chức xã hội, duy trì quan hệ giữa người với người nói như Charles
William Morris: “Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu xã hội mà nhờ nó các thành
viên trong cộng ñồng xã hội ñáp ứng lẫn nhau” [8, tr.209]. Để lưu trữ kinh
nghiệm mọi mặt cũng là chức năng không thể xem thường của ngôn ngữ. Và
cũng lưu ý ở chức năng thi pháp – chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ, chức năng
làm cho ngôn ngữ là phương tiện thứ nhất của văn học nghệ thuật. Như vậy tín
ña chức năng giúp phân biệt rõ ràng tín hiệu ngôn ngữ với các hệ thống tín hiệu
giao tiếp khác và làm cho ngôn ngữ ñóng vai trò là hệ thống cơ sở ñối với các hệ
thống tín hiệu khác nhau của con người.
Tín hiệu thẩm mĩ ñược xây dựng bằng chất liệu ngôn ngữ. Nếu như tín
hiệu ngôn ngữ là một dạng vật chất, chúng ta có thể cảm nhận bằng thính giác
hay thị giác và bản thân nó luôn có hai mặt cái biểu ñạt (âm thanh, chữ viết) và
cái ñược biểu ñạt (nội dung, ý thức, tư tưởng, tính cảm của con người). Thì khi
chuyển thành tín hiệu thẩm mĩ cái biểu ñạt của tín hiệu thẩm mĩ chính là tổng thể
hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ, còn cái ñược biểu ñạt của tín hiệu ngôn ngữ của
tín hiệu thẩm mĩ là ý nghĩa thẩm mĩ.
14


15

Như vậy giữa tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ ñều có tổ chức hai mặt cái
biểu ñạt và cái ñược biểu ñạt nhưng chúng có những khác biệt. Về chức năng tín
hiệu ngôn ngữ truyền tải thông tin về nhận thức, ñáp ứng nhu cầu tư duy nhận thức
thông thường của con người còn tín hiệu thẩm mĩ ñáp ứng nhu cầu thẩm mĩ, cảm
xúc, tư tưởng, tình cảm…Tín hiệu ngôn ngữ có mối qui ước võ ñoán giữa cái biểu
hiện và cái ñược biểu hiện còn ở tín hiệu thẩm mĩ mối quan hệ giữa hình thức biểu
ñạt và ý nghĩa thẩm mĩ ở tín hiệu thẩm mĩ là mối quan hệ có lí do, có một cơ sở nhất
ñịnh ñể từ ñó người sáng tạo xây dựng nên tín hiệu thẩm mĩ, ñồng thời người ñọc căn
cứ vào ñó ñể lĩnh hội ý nghĩa thẩm mĩ. Nhờ tính có lí do ñó mà ta có thể lí giải ñược
và rút ra các ý nghĩa thẩm mĩ. Cuối cùng tín hiệu ngôn ngữ là một dạng vật thể, có
hình thức biểu hiện vật chất trong khi ñó tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương thực ra là
một loại tín hiệu phi vật thể mặc dù nó cũng ñược xây dựng bằng chất liệu ngôn ngữ.
Bởi vì các tín hiệu ngôn ngữ mặc dù ñược xây dựng trong văn bản nhưng ñối với
ñộc giả tiếp nhận nó chỉ tồn tại trong sự tưởng tượng, sự liên tưởng chứ không thể
nào tiếp xúc bằng giác quan ñược.
1.3. Nguồn gốc ñể xây dựng tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ là phương tiện quan trọng nhất của hoạt ñộng sáng tạo
nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng. “Phương tiện sơ cấp của văn học
(primaire) là các tín hiệu thẩm mĩ …rồi cái tín hiệu thẩm mĩ ñó mới ñược thể
hiện bằng các tín hiệu thẩm mĩ thông thường” (Đỗ Hữu Châu, Những luận ñiểm
về cách tiếp cận ngôn ngữ các sự kiện văn học, Ngôn ngữ, số 2/1990, tr.9). Đây
chính là một luận ñiểm quan trọng cho thấy nguồn gốc ngoài ngôn ngữ của các
tín hiệu thẩm mĩ.
1.3.1 Nguồn gốc từ hiện thực khách quan
Tín hiệu thẩm mĩ bắt nguồn từ hiện thực khách quan, nó ñược xây dựng từ
nhhững sự vật, những hiện tượng trong thế giới thực – chúng chính là các tín
hiệu thẩm mĩ nguyên cấp. Nhà văn khi tiếp xúc với thế giới hiện thực phát hiện
ra ở các ñối tượng nào ñó những nét phù hợp với ý nghĩa thẩm mĩ mà mình ñịnh

dựng tín hiệu thẩm mĩ không nhất thiết là ñối tượng cao ñẹp mà có thể là những
ñối tượng tầm thường thậm chí xấu xa.

Nên có thể trong tác phẩm có những
nhân vật tiêu cực, xấu xa ñó vẫn là những tín hiệu thẩm mĩ và thông qua ñó nhà

17

văn thể hiện những mối quan hệ thích hợp với một ý tưởng thẩm mĩ nhất ñịnh.
Cũng có thể có nhiều trường hợp cùng một ñối tượng trong thực tế khách quan
nhưng lại ñược xây dựng thành tín hiệu thẩm mĩ ñể thể hiện các ý nghĩa thẩm mĩ
khác nhau.
1.3.2. Nguồn gốc từ truyền thống văn hóa dân tộc
Để xây dựng các tín hiệu thẩm mĩ các tác giả còn dựa vào truyền thống văn
hóa dân tộc. Huy Cận ñến thăm chùa Tây Phương nhiều lần và thấy trong chùa có
nhiều pho tượng chùa La Hán. Ông viết bài “Các vị la hán chùa Tây Phương”.
Mỗi vị La Hán là một tín hiệu thẩm mĩ, ñại diện cho một tầng lớp trong xã hội.
Hoàng Cầm cũng ñã dựa vào những nét truyền thống của dân tộc như: tranh Đông
Hồ, con sông quê, nếp sống quê…ñể sáng tác “Bên kia sông Đuống”.
Nhiều nhà văn nhà thơ, dựa vào thành ngữ, tục ngữ, ca dao ñể xây dựng tín
hiệu thẩm mĩ. Thành ngữ, tục ngữ, ca dao là những sản phẩm văn hóa lâu ñời của
dân tộc, chúng phù hợp cho việc thể hiện ý nghĩa thẩm mĩ và là nguồn vô tận cho
việc xây dựng tín hiệu thẩm mĩ.
Trong quá trình phát triển của các ngành nghệ thuật, do sự giao lưu tiếp xúc
văn hóa, các tín hiệu thẩm mĩ của một nền văn hoá, văn học này có thể gia nhập
vào một nền văn hoá, văn học khác, có thể gọi ñây là các tín hiệu thẩm mĩ thứ cấp
phái sinh. Các ñiển tích ñiển cố trong văn học trung ñại phần nhiều là những tín
hiệu như vậy. Để tạo tính trang nhã uyên bác cho tác phẩm thay vì sử dụng các tín
hiệu thẩm mĩ có nguồn gốc từ hiện thực khách quan thì ñiển cố là các sự tích nhân
vật trong văn học hoặc trong cuộc sống quá khứ mang nhưng nét tiêu biểu cho một

thức ẩn dụ có sự chuyển nghĩa thông thường sang nghĩa thẩm mĩ.
Trong ngôn ngữ hàng ngày, phương thức ẩn dụ ñược sử dụng thường xuyên
khi ta chuyển nghĩa cho từ ngữ, nếu sự chuyển nghĩa ñó ñã ổn ñịnh thì ñược gọi là
ẩn dụ từ vựng hoặc gọi là ẩn dụ trong ngôn ngữ. Vì phổ biến, không mang gì mới lạ
nên nó không có giá trị nghệ thuật mà chỉ có giá trị nhận thức (giá trị biểu hiện, giá
trị tên gọi). Ví dụ “cổ” là từ chỉ cơ thể người hoặc ñộng vật có thể dùng ñể chỉ “cổ
chai” là dựa trên sự giống nhau về ví trí giữa các ñối tượng.
Về bản chất, ẩn dụ tu từ vẫn dựa vào quan hệ tương ñồng nhưng là những
phát hiện mới mẻ có thể là ñầu tiên thuộc về một người, do ñó có sức hấp dẫn và

19

có giá trị nghệ thuật. Đây là sự sáng tạo riêng ñặc biệt trong văn chương nghệ
thuật. Khi ñó nó trở thành tín hiệu thẩm mĩ.
Trong thơ ca thì phép ẩn dụ ñược các nhà văn biến hoá một cách tài tình và
linh hoạt. Chẳng hạn những hiện tượng về sắc ñẹp, dung nhan, nụ cười của con
người trong thơ mới ñược ẩn dụ hoá thành những vật thể khác nhau như:
Nụ cười có thể ẩn dụ hoá như là một thực thể, vì vậy có màu sắc:
Nụ cười ñen láy sau tay áo
(Lưu Trọng Lư)
Còn giác quan của con người thì ñược xem như một nhiên liệu dễ bén lửa:
Trong men cháy, giác quan vừa bén lửa
(Vũ Hoàng Chương)
1.4.2 Phương thức hoán dụ
Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa (lấy tên gọi của ñối tượng này gọi
cho ñối tượng khác) dựa trên mối quan hệ kế cận, tức là thường xuyên ñi ñôi gần
gũi với nhau. Ví dụ: miệng, chân, tay vốn là các bộ phận chỉ cơ thể nguời có thể
dùng ñể chỉ người: Nhà có năm miệng ăn, anh ta có chân trong ñội tuyển bóng
ñá, chị ta la một tay súng giỏi…Như vậy, về mặt hình thức hoán dụ xuất phát từ
nhận thức nhận ra mối quan hệ tương cận thường ñi ñôi với nhau. Về mặt ngôn

sáng tác, do tính chất miêu tả hiện thực, lời văn, lời thơ vừa phải hàm chứa ý tưởng
linh hoạt ñể tránh câu nệ, vừa có âm hưởng và trang trọng ñể tránh dung tục tầm
thường, nên việc sử dụng chữ Hán và ñiển cố chiếm tỷ lệ cao.
Điển cố là một trong những thủ pháp nghệ thuật ñặc thù ñược sử dụng phổ
biến trong văn học Việt Nam trung ñại. Do ảnh hưởng của triết học và mĩ học
Phương Đông chủ yếu là của Trung Hoa, ñiển cố là một biện pháp tu từ ñộc ñáo
biểu hiện tư tưởng, tình cảm và quan ñiểm thẩm mĩ của tác giả. Có thể nói, trong
văn học cổ việc dụng ñiển là một chuẩn mực bắt buộc ñối với những nhà nho hay
nói cách khác nó là thước ño ñánh giá tài năng của tác giả và giá trị của tác phẩm,
“bất dụng ñiển, phí văn chương” (không dùng ñiển không phải là văn chương).
Ở Trung Hoa có thời kì người ta thấy thước ño dung lượng ñiển cố ñược sử
dụng trong tác phẩm ñể ñánh giá khả năng sáng tác. Có khi người ta lấy việc am

21

tường ñiển cố làm nội dung ñể thi thố kiến thức. Ở Việt Nam vào thời vua Lê
Thánh Tông, sách Lịch triều hiến chương loại chí, mục Nguyễn Bá Chí chép:
“Ông thường thấy vua làm văn ít dẫn ñiển cố trong kinh sử bèn giâng sớ can, vua
xuống chỉ yên ủi”. Điều này chứng tỏ việc vận dụng ñiển cố là một ñặc trưng thi
pháp quan trọng không thể thiếu trong văn học Việt Nam trung ñại.
Điển cố xuất hiện hầu hết ở các thể loại văn học như tản văn, biền văn và
vận văn. Mặt khác ñiển cố nói chung và lối sử dụng ñiển cố trong văn học Việt
Nam ñặc biệt là thể loại thơ và khúc ngâm so với Trung Hoa còn thể hiện nhiều
nét ñặc thù ñộc ñáo.
Điển cố có một ví trí nhất ñịnh trong ñời sống văn học. Về mặt nào ñó ñiển
cố có yếu tố tích cực tạo sức mạnh, hiệu quả cho câu văn, câu thơ: “phép dùng
ñiển cố thường tạo cho câu văn, câu thơ tính hàm súc, cô ñọng gây hứng thú cho
người ñọc vốn sành văn thơ cổ, tránh ñược việc nói thẳng những ñiều thô tục, sỗ
sàng khiến cho câu thơ văn giữ ñược vẻ trang nhã thanh cao” [22; tr.6]
.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status