Sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ 1954-1975
LỜI MỞ ĐẦU
Thời kỳ 1954 -1975 là khoảng thời gian nhân dân ta vừa kết thúc 80 năm
đô hộ của thực dân Pháp, bước sang giai đoạn vừa kháng chiến chống Mỹ cứu
nước vừa xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Đây là một thử thách đầy cam go đối với
Đảng cộng sản Việt Nam – một chính Đảng còn non trẻ. Lần này đối mặt với ta
là đế quốc Mỹ, tên thực dân hùng mạnh cả về kinh tế lẫn quân sự thời bấy giờ.
Tìm hiểu sự lãnh đạo của Đảng thời kỳ này giúp cho ta hiểu được đường lối lãnh
đạo của Đảng ta là rất đúng đắn. Đảng Cộng sản Việt nam do Bác Hồ sáng lập
và rèn luyện đã kết hợp tài tình Chủ nghĩa Mác Lê nin vào tình hình thực tiễn
của Việt Nam. Đảng đã lãnh đạo quân và dân ta chiến đấu anh dũng, biến cuộc
chiến tưởng chừng không cân sức thành chiến thắng vang dội cả thế giới, làm
chấn động địa cầu. Một nước Việt Nam tưởng chừng bé nhỏ, nhưng đã chiến
thắng tên đế quốc sừng sỏ nhất trên thế giới, nơi mà mọi nước đều phải e dè.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài 21 năm có nhiều giai đoạn, mỗi giai
đoạn là một thời kỳ đất nước ta có những chuyển biến lớn, nhằm chống lại âm
mưu và hành động của Mỹ - Ngụy. Mà trong đó, những chủ trương, sách lược,
những nhận định và hành động của Đảng là cực kỳ quan trọng.
Việc chia quãng thời gian 21 năm này ra làm nhiều thời kỳ cũng là một
cách nghiên cứu, tìm hiểu rõ hơn sự lãnh đạo của Đảng trong những năm từ
1954-1975.
Các giai đoạn gồm có:
1954-1960: Mở đầu sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước - Quá độ
lên CNXH ở miền Bắc.
1961-1965: Xây dựng miền Bắc - Đánh thắng chiến lược “chiến tranh đặc
biệt ” của đế quốc Mỹ.
1965-1968: Chuyển hướng xây dựng miền Bắc - Đánh thắng chiến lược
“chiến tranh cục bộ” của Mỹ.
Sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ 1954-1975
1969-1975: Nhân dân ta từng bước làm phá sản chiến lược “Việt Nam hóa
chiến tranh” – Hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Tình hình hai bên ta và địch lúc này có sự biến động lớn
Sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ 1954-1975
- Ta: Có ưu thế về chính trị và quần chúng nhân dân đông đảo, nhưng
không còn lực lượng vũ trang và không có chính quyền.
- Địch: Có đầy đủ sức mạnh về kinh tế, quân sự, có trong tay bộ máy
Ngụy quyền đồ sộ.
Hoàn cảnh lúc này đặt trách nhiệm lịch sử lên vai Đảng cộng sản Việt
Nam - đội quân tiên phong của nhân dân Việt Nam là tìm ra đáp số cho bài toán
về “con đường giải phóng miền Nam và con đường quá độ lên Chủ nghĩa xã hội
ở miền Bắc trong thời kỳ Mỹ thay chân Pháp thống trị miền Nam”.
2. Chủ trương, lãnh đạo của Đảng chống lại âm mưu và hành động của
Mỹ - Ngụy
Với tình hình diễn ra không có lợi cho việc tiếp tục tiến công, Đảng ta chủ
trương duy trì phong trào cách mạng, giữ gìn lực lượng cách mạng ở Miền Nam,
đấu tranh thích hợp nhằm hạn chế tổn thất. Hình thức đấu tranh bấy giờ là: đấu
tranh quân sự chủ yếu, các cuộc đấu tranh chính trị, cuộc biểu tình, bãi công
rộng lớn, huy động hàng triệu lượt người tham gia, đòi chúng phải thi hành việc
ngừng bắn, tổ chức Hiệp thương tổng tuyển cử với miền Bắc, đòi thực hiện các
quyền dân sinh, dân chủ, chống mọi hoạt động khủng bố, đàn áp người kháng
chiến cũ. Nhận định này của Đảng là rất sáng suốt, bởi trong thời kỳ đầu, việc
nghiêm chỉnh thực hiện điều kiện đã ký, ta sẽ có cơ sở hợp lý đòi Mỹ – Ngụy thi
hành những điều khoản trong hiệp định. Việc hợp thức hóa các hình thức đấu
tranh vũ trang thành đấu tranh chính trị không những tranh thủ được sự đồng
tình của nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế mà còn buộc chúng không dám vi
phạm hiệp định một cách trắng trợn như trước kia.
Bên cạnh đó, Đảng nhận định rằng sau quãng thời gian trường kỳ kháng
chiến chống Pháp mà mới đây là cuộc chiến khốc liệt ở Điện Biên Phủ, quân
đội, lực lượng cách mạng quần chúng nhân dân ta cũng bị tổn thất rất nhiều.
Trong khi đó đối phương lại là một đế quốc hùng mạnh, với tiềm lực kinh tế và
quân sự vượt trội, do đó ta cần có thời gian để khôi phục và phát triển. Rõ ràng
ở miền Nam có đến 466.000 người bị bắt, 400.000 người bị tù đày, 68.000 bị
Sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ 1954-1975
giết hại (Con số lấy từ sách Lịch sử Đảng - NXB Chính trị quốc gia-2001). Cách
mạng miền Nam một lần nữa đứng trước thử thách mới hết sức nghiêm trọng.
Trong tình hình nguy cấp này, Đảng ta nhận định rằng: chính sách phát xít
của Mỹ-Diệm đã gây nhiều khó khăn cho cách mạng miền Nam, nhưng cũng thể
hiện thế yếu của kẻ thù, mâu thuẫn giữa Mỹ-Diệm với nhân dân miền Nam ngày
càng bị khoét sâu. Do đó chủ trương mới của Đảng ta, mục tiêu trước mắt là:
Kiên trì phát động quần chúng nhân dân đấu tranh chính trị, tiếp tục giữ gìn lực
lượng. đi đôi với mục tiêu trước mắt là việc , củng cố, xây dựng các lực lượng vũ
trang, chuẩn bị đối đầu với những thử thách mới.
Thi hành chủ trương đó, phong trào cách mạng diễn ra rất mạnh mẽ, hàng
triệu lượt người tham gia các hình thức đấu tranh chính trị, đi đôi với đấu tranh
vũ trang. Sự kết hợp hai lực lượng đấu tranh này tạo nên sức mạnh mới trong
cuộc chiến tranh một mất một còn của nhân dân miền Nam đối với Mỹ-Diệm.
Trước khí thế mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc, Đảng ta nhận
định rằng: chúng ta không thể chờ đợi được nữa, phải có quyết định dứt khoát -
đánh hay không đánh?. Tháng 1-1959, hội nghị lần thứ 15 BCH Trung ương
Đảng (khóa II) đã thông qua Nghị quyết về đường lối cách mạng miền Nam.
Nghị quyết này được đưa ra sau quãng thời gian đắn đo, suy nghĩ rất lâu dài của
Bộ chính trị, vì nó là quyết định liên quan đến cả một vận mệnh của một dân tộc,
cần sự nhìn nhận chính xác về tình hình, về thời cuộc lúc bấy giờ. Tư tưởng chỉ
đạo cực kì quan trọng để chuyển cách mạng miền Nam sang bước chuyển biến
mới có tính nhảy vọt được đề ra trong Nghị quyết mang tính lịch sử này là:
“Nhân dân miền Nam phải dùng con đường bạo lực cách mạng để tự giải phóng
mình, ngoài ra, không còn con đường nào khác”.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết 15, cách mạng miền Nam đã có sự nhảy
vọt. Các cuộc khởi nghĩa nhỏ lẻ ở từng địa phương đã phát triển thành cao trào “
Đồng Khởi” trong toàn vùng, từ Tây Nguyên đến miền Đông, Tây Nam Bộ và
đồng bằng liên khu V. Từ thắng lợi của cao trào, ngày 20-12-1960, Mặt trận dân
Về triển khai, cuộc chiến dự định chia làm 3 bước:
- Bước 1: Trong 18 tháng dồn toàn bộ 16.000 dân vào ấp chiến lược – Cơ
bản bình định miền Nam – Gây gián điệp ở miền Bắc.
Sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ 1954-1975
- Bước 2: Khôi phục nền kinh tế miền Nam trong năm 1963 – Hoàn tất
việc tăng cường lực lượng quân Ngụy – Tiến hành gây rối, pha hoại miền Bắc.
- Bước 3: Tập trung phát triển kinh tế miền Nam – Tấn công miền Bắc.
2. Sự lãnh đạo của Đảng chống lại các âm mưu và hành động của Mỹ
-Ngụy
Để đối phó với âm mưu và hành động của địch, Hội nghị BCT tháng 1-
1961 và 2-1962 đã phân tích và nhận định một cách khoa học, so sánh lực lượng
giữa ta và địch ở miền Nam sau cao trào “ Đồng Khởi”. Hội nghị chỉ ra rằng
“chiến tranh đặc biệt” là một chiến lược thâm độc, nguy hiểm, gây nhiều khó
khăn cho cuộc chiến đấu của nhân dân ta. Tuy nhiên, chiến lược này ra đời trong
thế yếu của Mỹ, nó không những không phát huy tác dụng mà từng bước bị bẻ
gãy trước cao trào nổi dậy tiến công của lực lượng cách mạng. BCT cũng chủ
trương chuyển từ “ khởi nghĩa sang chiến tranh cách mạng”. Đây là chủ trương
cực kì quan trọng, đánh dấu thời kì đổi mới của cách mạng. Từ các cuộc đấu
tranh chỉ dừng ở mức khởi nghĩa nhỏ lẻ tại từng địa phương, nay đã chuyển sang
đấu tranh trên cả một vùng rộng lớn, ở mọi nơi mọi lúc. Hội nghị cũng đề ra chủ
trương chỉ đạo chính xác là tiếp tục giữ vững tư tưởng tiến công chiến lược, thực
hiện kế hoạch: “2 chân, 3 mũi, 3 vùng”. Tức là cách mạng miền Nam đứng vững
trên hai chân – hai loại hình đấu tranh kết hợp đấu tranh chính trị kết hợp vũ
trang; cuộc chiến của ta đánh địch bằng 3 mũi giáp công phối hợp: quân sự,
chính trị, binh vận và nổ ra trên cả 3 vùng chiến lược là: vùng núi, nông thôn,
đồng bằng. Ngày 15-2-1961 các lực lượng vũ trang cách mạng thống nhất thành
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đường Trường Sơn cũng được mở rộng,
tạo điều kiện cho việc chi viện cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ.
Dưới ngọn cờ đoàn kết cứu nước của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền
Nam do Đảng lãnh đạo, từ năm 1961, quân và dân ta đã từng bước thu được