Đảng bộ huyện thanh chương quá trình ra đời và lãnh đạo cách mạng trong thời kì 1930 1945 - Pdf 33

Trờng đại học Vinh
Khoa lịch sử

-----@-----

Nguyễn hoàng Hùng

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Đảng bộ huyện Thanh Chơng:
Quá trình ra đời và lãnh đạo cách
mạng trong thời kì 1930 - 1945
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Vinh - 2006

1


Lời cảm ơn
A. Mở đầu
B. nội dung

Chơng 1. Sự ra đời của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện
Thanh Chơng
1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội huyện Thanh Chơng
1.2. Điều kiện ra đời của Đảng bộ Thanh Chơng
1.2.1. Tình hình kinh tế - xã hội Thanh Chơng trớc năm 1930
1.2.2. Các tổ chức tiền thân của Đảng ở Thanh Chơng
1.3. Đảng bộ huyện Thanh Chơng ra đời
Chơng 2. Đảng bộ Thanh Chơng lãnh đạo nhân dân trong cao trào

18
22
24
24
24
27
36
36
37
40
43
43
43
45
49
51
54
59
62
67
69

C. Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

Lời cảm ơn

2


vào thử thách đầu tiên, đó là lãnh đạo quần chúng nhân dân trong phong trào
cách mạng 1930 - 1931 với đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh. Trong phong trào
cách mạng này, lần đầu tiên liên minh chiến đấu công nông đã hình thành.
Với nghị lực và sức mạnh của mình, liên minh công nông đã làm cho bộ máy
chính quyền của thực dân Pháp và bọn tay sai phong kiến lung lay tê liệt ở
nhiều vùng nông thôn, lập nên chính quyền Xô viết.
Sau phong trào cách mạng 1930 - 1931, Đảng bộ Thanh Chơng tiếp tục
lãnh đạo nhân dân đấu tranh để rồi cùng với nhân dân cả nớc, làm nên thắng
lợi vĩ đại vào mùa Thu năm 1945. Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, từ
năm 1930 - 1945, Thanh Chơng nổi lên là một điểm sáng của cả nớc. Vì thế
nghiên cứu vấn đề này sẽ làm sáng tỏ đợc quá trình đấu tranh hào hùng đó của
nhân dân Thanh Chơng dới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện. Hơn nữa từ truyền
thống đấu tranh của nhân dân Thanh Chơng trong thời kì 1930 - 1945 đã để lại
những bài học có giá trị cho Đảng bộ Thanh Chơng trong công cuộc đổi mới
hiện nay.
Là một ngời con sinh ra và lớn lên từ vùng đất Thanh Chơng, việc
nghiên cứu vấn đề trên nh là nghĩa cử cao đẹp, thể hiện tình cảm với Đảng bộ
và nhân dân huyện nhà.

4


Từ những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: Đảng bộ huyện Thanh
Chơng: Quá trình ra đời và lãnh đạo cách mạng trong thời kì 1930 - 1945 làm
khoá luận tốt nghiệp đại học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Chỉ 15 năm sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, từ năm 1930 1945, Đảng đã lãnh đạo quần chúng nhân dân làm nên thắng lợi vĩ đại trong
cuộc cách mạng Tháng Tám. Cách mạng Tháng Tám là biến cố vĩ đại trong
lịch sử dân tộc. Chính vì thế giai đoạn này đã thu hút đợc sự quan tâm nghiên

đấu tranh của nhân dân Thanh Chơng dới sự lãnh đạo của Đảng bộ trong giai
đoạn cách mạng 1930 - 1945.
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các tác giả đi trớc, chúng tôi đi
sâu nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và khách quan hơn để hoàn
thành công trình khoá luận tốt nghiệp đại học.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu về sự ra đời và lãnh đạo của các cấp bộ Đảng đối với
phong trào cách mạng của nhân dân Thanh Chơng trong những năm tháng đấu
tranh giành chính quyền từ 1930 - 1945. Tuy nhiên để thấy đợc những nét đặc
thù và làm nổi bật đợc Thanh Chơng so với các địa phơng khác ở Nghệ Tĩnh,
chúng tôi còn tìm hiểu thêm những nhân tố nh điều kiện lịch sử, truyền thống
đấu tranh trớc những năm 1930, đặt nó trong mối quan hệ chung với các địa
phơng khác ở Nghệ Tĩnh.
Đề tài của khoá luận đợc giới trong phạm vi không gian của huyện
Thanh Chơng, trong thời gian 15 năm sau khi Đảng bộ huyện ra đời (1930 1945).

6


4. Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.

Để hoàn thành đề tài khoá luận, chúng tôi đã su tầm và dựa trên các
nguồn tài liệu sau:
- Tài liệu thành văn: những công trình viết về phong trào cách mạng
của nhân dân Thanh Chơng trong giai đoạn 1930 - 1945, các công trình viết về
Xô viết Nghệ Tĩnh, báo cáo tham luận trong các hội thảo, các bài nghiên cứu
của nhiều tác giả trong và ngoài nớc, hồi kí của các vị lão thành cách mạng.
- Tài liệu điền dã: tiếp xúc, phỏng vấn một số vị lão thành cách mạng;
khảo sát thực tiễn những chứng tích của phong trào cách mạng thời kì này trên

Chơng 3. Đảng bộ lãnh đạo nhân dân khôi phục tổ chức, đấu tranh
trong cuộc vận động dân chủ, chuẩn bị lực lợng, nổi dậy giành chính quyền
(1932 - 1945).

8


B. Nội dung

Chơng 1
Sự ra đời của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam
huyện Thanh Chơng
1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội huyện Thanh Chơng.

1.1.1. Vị trí địa lí và dân c.
Thanh Chơng có một địa bàn khá cân đối, trải rộng hai bên bờ sông
Lam, là một huyện nằm ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, nằm trong toạ độ từ
18034 đến 18055 vĩ độ Bắc và từ 104055 đến 10503 kinh độ Đông. Phía Bắc
giáp huyện Đô Lơng và huyện Anh Sơn, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía
Đông giáp huyện Nam Đàn, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Anh Sơn và
tỉnh Bôlikhămxay của nớc bạn Lào với đờng biên giới quốc gia dài 53 km.
Diện tích tự nhiên của huyện là 1.127,63 km2. Đây là huyện có diện tích
đứng thứ 5 trong tổng số 19 đơn vị hành chính của tỉnh Nghệ An [4, 11].
Thiên nhiên đã ban tặng cho Thanh Chơng vẻ đẹp sơn thuỷ hữu tình. Tự nhiên
kiến tạo nên dòng sông Lam trong xanh, uốn mình nh những dải lụa chia cắt
Thanh Chơng thành hữu ngạn và tả ngạn. Ngoài ra, Thanh Chơng còn các
sông nh sông Giăng, sông Rộ, sông Nậy, sông Rào Gang. Nơi đây có núi rừng
hiểm trở nh những bức bình phong che chở cho con ngời nơi đây. Núi non
hùng vĩ nhất là dãy Giăng Màn có đỉnh cao 1.026 m, tạo thành ranh giới tự
nhiên với nớc bạn Lào. Tiếp đến là các đỉnh Nác La cao 838 m, đỉnh Vũ Trụ

giặc dã, c dân bản địa ngày càng đông đúc và tiếp nhận nhiều nguồn c dân từ
các nơi khác và khai thác đất hoang, lập thêm nhiều làng xã, định c hầu khắp
các vùng trong huyện. Cho đến năm 1930, dân số Thanh Chơng là 64.074 ng-

10


ời, đến năm 2000 con số đó đã lên tới 228.603 ngời. Mật độ dân số toàn huyện
là 202,7 ngời/km2 [4, 18].
Mặc dù là huyện trung du, đồi núi chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ, là
nơi từ rất sớm, con ngời đã đến khai phá. Tuy nhiên trên địa bàn Thanh Chơng
lại có ít đồng bào các dân tộc sinh sống. Khoảng đầu thế kỉ XIX trở về trớc ở
Thanh Chơng có các tộc ngời nh Đan Lai, Lý Hà sinh sống (vùng Thanh Hơng
ngày nay) còn phần lớn c dân chủ yếu là ngời Kinh.
Cũng nh c dân các địa phơng khác trong tỉnh, đồng bào Thanh Chơng
vẫn duy trì tục thờ cúng tổ tiên và các bậc tiền bối có công với nớc với dân.
Trong quá trình mở rộng giao lu với bên ngoài, Phật giáo sớm du nhập vào nớc ta, tuy vậy nó không phát triển mạnh ở vùng đất này nên chỉ có ảnh hởng ít
nhiều đến đời sống tâm linh của một bộ phận c dân. Trái với Phật giáo thì
Thiên chúa giáo vào nớc ta là theo gót chân của kẻ xâm lợc và du nhập vào nớc ta khá muộn. Tuy vậy nó lại có xu hớng phát triển mạnh ở vùng đất này,
vẫn còn nhiều nhà thờ với các xứ đạo, có nhiều giáo dân nh Mô Vĩnh (Thanh
Khê), Trung Hoà, Lơng Khế (Thanh Hoà). Hiện nay Thanh Chơng có 20 trên
38 xã của huyện có đồng bào công giáo sinh sống, bao gồm 1.165 hộ với
6.584 tín đồ [4, 20].
Thanh Chơng cũng có những đồng bằng không lớn lắm nhng bù lại đợc
phù sa của các con sông bồi đắp nên tơng đối màu mỡ. Hơn nữa các con sông
này là nơi cung cấp nớc tới cho đồng ruộng. Với điều kiện tự nhiên đó cho nên
đa số c dân Thanh Chơng làm nghề trồng trọt và chăn nuôi. Việc khai thác
lâm thổ sản và nhiều ngành nghề thủ công khác.
1.1.2. Truyền thống văn hoá.
Trải qua quá trình sinh sống lâu dài những c dân trên vùng đất này đã

ông đợc thăng là Trung phụng đại phu, Tham tri Bộ binh, kiêm Phó Đô ngự sử
Viện Đô sát, Tuần phủ các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị nhng vẫn sống thanh
bạch. Sách Đại Nam liệt truyện có ghi: Sĩ Thục làm quan hơn 40 năm trong

12


cái nhà tranh vách đất, hũ gạo luôn bị trống không mà vẫn thản nhiên. Có
nhiều ngời đỗ đạt nhng không ra làm quan mà trở về quê dạy học, bốc thuốc,
đợc nhân dân trọng dụng. Truyền thống nối tiếp truyền thống, thế hệ nối
tiếp thế hệ, trong thời đại ngày nay, Thanh Chơng vẫn là đất học. Trên nền
tảng truyền thống hiếu học đó, đã hun đúc nên những nhà tri thức nổi tiếng
nh Giáo s Đặng Thai Mai, Giáo s Tôn Quang Phiệt, Giáo s - bác sĩ y khoa
Hoàng Đình Cầu, Giáo s Nguyễn Tài Cẩn, Giáo s Trần Đình Hiệu, Giáo s
Viện sĩ Nguyễn Duy Quý
Trong lao động sản xuất mệt nhọc là thế, nhng ngời dân Thanh Chơng
vẫn sáng tạo ra những giá trị văn hoá tinh thần, vật chất, làm vơi đi nỗi mệ
nhọc thờng ngày. Những giá trị văn hoá tinh thần ấy đợc ngời dân duy trì từ
thế hệ này sang thế hệ khác. Ví nh văn học dân gian có các thể loại nh truyện
cổ tích, truyện trạng, tiếu lâm, ca dao, tục ngữ, câu đố, vè. Những tác phẩm
của các thể loại này phần nào cho chúng ta thấy đợc đời sống sinh hoạt cũng
nh tâm t nguyện vọng của ngời dân Thanh Chơng.
C dân Nghệ Tĩnh nói chung, Thanh Chơng nói riêng đều có tinh thần
lạc quan:
Hát cho đổ quán triều đình
Cho long lanh nớc, cho rung rinh trời
Họ mợn lời ca tiếng hát để làm dịu đi mệt nhọc trong lao động và đồng
thời gửi gắm tâm hồn, bày tỏ ớc vọng, thổ lộ tình yêu đôi lứa. Những lời ca
tiếng hát đó còn để chế giễu, mỉa mai, đả kích bọn đế quốc phong kiến tay sai.
Đoàn kết là sức mạnh to lớn của mỗi dân tộc, đó là nét đẹp văn hoá mà

đáng vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lý Bí. Đến thế kỉ VIII, nhân dân
Thanh Chơng hào hứng và tích cực tham gia khởi nghĩa của Mai Thúc Loan
chống lại ách cai trị của nhà Đờng. Vẫn còn đó những dấu tích lịch sử thành
Bình Ngô (ở Bích Triều), nơi đóng quân của nghĩa quân Lê Lợi. Nghĩa quân
đợc sự hởng ứng và ủng hộ của nhân dân Thanh Chơng đã đánh tan giặc Minh

14


tại Lục Niên thành (Hạnh Lâm). Vẫn còn đây đền Bạch Mã nơi lu niệm chiến
tích oanh liệt của Phan Đà, ngời anh hùng quê Chi Long (Võ Liệt) đã dũng
cảm chiến đấu với giặc Minh.
Trong suốt chiều dài lịch sử, nhân dân Thanh Chơng nhiều lần nổi dậy
hởng ứng tích cực các cuộc khởi nghĩa chống lại sự áp bức bóc lột của giai cấp
thống trị trong nớc. Lịch sử dân tộc đã ghi nhận những cuộc đấu tranh của
nhân dân Thanh Chơng chống lại sự hà khắc của các tập đoàn phong kiến
phản động nh vua Lê chúa Trịnh, đặc biệt là sau khi nhà Nguyễn thiết lập vơng triều một lần nữa nhân dân Thanh Chơng lại vùng lên đấu tranh để giành
quyền sống cho mình.
Ngày 1 - 9 - 1858, thực dân Pháp chính thức xâm lợc nớc ta, triều đình
nhà Nguyễn chống cự yếu ớt, từng bớc thoả hiệp và để mất nớc (1883 - 1884).
Trong khi đó, nhân dân cả nớc đang cố gắng kháng Pháp quyết liệt. Hoà
chung trong không khí đấu tranh quật cờng của dân tộc, nhiều ngời con Thanh
Chơng đã tích cực tham gia phong trào chống Pháp. Tiêu biểu nh: Trần Tấn
(làng Chi Nê, nay là xã Thanh Chi) lập ra hội văn thân và phát Hịch bình
Tây, hịch có đoạn Dập dìu trống đánh cờ xiêu /Trận này quyết đánh cả triều
lần Tây. Trần Tấn cùng với Đặng Nh Mai lãnh đạo khởi nghĩa Giáp Tuất
(1874), làm trấn động cả nớc mẹ đại Pháp. Khởi nghĩa Giáp Tuất lắng, thì
tiếng súng Cần vơng lại bùng nổ, làm nức lòng các sĩ phu yêu nớc. ở Thanh
Chơng, các sĩ phu đã có kế hoạch mở đờng Trờng Sơn, xây dựng cơ sở ở Động
Chè (Cát Ngạn) để khi cần thì rớc nhà vua về đó. Khi phong trào Cần vơng bị

bóc lột nhân dân ta. ở Thanh Chơng, ruộng đất canh tác đã ít, lại bị bọn thực
dân phong kiến bao chiếm, làm cho ngời dân không có ruộng cày cấy, buộc
phải cày ruộng cho địa chủ. Bên cạnh việc bao chiến ruộng đất, bọn chúng
còn đặt ra nhiều thứ thuế, đặc biệt loại thuế thân đánh vào nam đinh từ 18 đến
80 tuổi. Từ năm 1897 đến 1928, loại thuế này tăng lên gấp 10 lần và thậm chí

16


có trờng hợp ngời đã chết rồi cũng phải nộp thuế. Ngoài ra, chúng còn độc
quyền khai thác lâm thổ sản, thu mua các sản vật của ngời dân với giá rẻ mạt;
độc quyền muối, rợu, thuốc phiện. Trớc tình hình đó, để có thêm ruộng đất
canh tác, ngời nông dân phải khai phá đất đồi ở các chân đồi cao. Để giúp đỡ
nhau trong sản xuất, nhân dân đã lập ra các phờng hội nh phơng đốt rẫy, phờng đốt than, phờng thợ mộc. Ngoài ra, nhân dân còn biết trồng các loại cây
phù hợp nh cây ăn quả, lúa nớc, ngô khoai và các ngành nghề chăn nuôi khác.
Bên cạnh nghề nông là chủ yếu, ngời dân Thanh Chơng còn biết làm ra
những sản phẩm thủ công nghiệp, ví nh đan nong, đan cót ở Thanh La (Thanh
Lĩnh ngày nay), đan thúng, đan mủng, rổ giá ở chợ Cồn. Chợ là hình thức tổ
chức của nhân dân để phục vụ nhu cầu đời sống, là nơi bà con trao đổi hàng
hoá giữa các vùng với nhau. ở Thanh Chơng, trớc năm 1930 cả huyện có 30
chợ lớn nhỏ khác nhau, theo thời gian nhu cầu trao đổi của nhân dân tăng lên
nên chợ xuất hiện ngày càng nhiều.
Một đặc điểm nổi bật ở Thanh Chơng là diện tích ruộng đất công khá
lớn. ở nhiều làng, ruộng đất chiếm trên dới 50% tổng số ruộng. Ruộng đất
công là quyền lợi chung của mọi thành viên trong làng nhng trong thực tế, bọn
địa chủ và bọn hào lí đã tìm mọi cách để chấp chiếm ruộng đất công. Thanh
Chơng có trên 100 địa chủ, chiếm 5 - 25 ha ruộng đất, có trờng địa chủ chiếm
trên 50 ha trở lên nh Chúc Khuổn ở Liễu Nha chiếm 50 ha, Nguyễn Lâm Tín ở
Bích Hào chiếm 150 ha, đặc biệt ở Hạnh Lâm tên Nguyễn Trờng Viện chiếm
hàng trăm ha, chiếm cả lối đi lại, gây bất bình phẫn nộ trong nhân dân. Do vậy

Với những chính sách kinh tế xã hội mà bọn thực dân Pháp và phong
kiến thi hành đã đẩy nhân dân Thanh Chơng vào cảnh lầm than. Có áp bức thì
có đấu tranh, nhân dân Thanh Chơng không có con đờng nào khác là phải
vùng dậy đấu tranh để giành lại quyền sống cho mình. Tuy vậy, các cuộc đấu
tranh của họ trớc sau đều thất bại vì cha có một đờng lối đấu trannh đúng đắn,
cha có một chính đảng lãnh đạo nhân dân. Do vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra
18


cho lịch sử dân tộc ta nói chung và nhân dân Thanh Chơng nói riêng là phải
sớm có một đờng lối cứu nớc đúng đắn, khoa học, phù hợp với xu thế thời đại
dới sự lãnh đạo thống nhất của một chính đảng.
1.2.2. Các tổ chức tiền thân của Đảng ở Thanh Chơng.
Thanh Chơng là mảnh đất có truyền thống đấu tranh kiên cờng. Đầu thế
kỉ XX, những ngọn lửa đấu tranh lại bùng lên. Theo tiếng gọi thiêng liêng của
Tổ quốc, nhiều ngời con quê hơng Thanh Chơng đã ra đi, hởng ứng phong trào
yêu nớc theo khuynh hớng t sản do các sĩ phu phong kiến tiến bộ khởi xớng.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) cho đến giữa thập kỉ 20
của thế kỉ XX thì phong trào xuất dơng trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết,
không chỉ là Đông du sang Nhật mà còn Tây du sang Xiêm và Bắc du sang
Trung Hoa. Ngời đầu tiên góp công tìm hớng xuất dơng sang Xiêm là Đặng
Thúc Hứa - ngời con u tú của Thanh Chơng. Tại đây, Đặng Thúc Hứa đã đợc
bà con Việt kiều giúp đỡ và cùng với một số đồng chí khác thành lập ra trại
cày. Việc thành lập trại cày có ý nghĩa rất lớn trong công tác tuyên truyền giác
ngộ lòng yêu nớc cho Việt kiều, đồng thời cũng là nơi đón tiếp những thanh
niên Việt Nam xuất dơng sang Xiêm, là nơi huấn luyện chính trị cho họ. Có
một điều từ trớc đến nay, trong các tác phẩm lịch sử chúng ta ít đề cập đến vấn
đề trại cày từng đợc coi là cơ sở thứ hai của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên, đó là vào những năm 1927 - 1928 khi tình hình ở Trung Quốc không
thuận lợi cho Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên thì việc huấn luyện cán bộ

kiến nên cơ sở của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Thanh Chơng hình
thành khá muộn. ở một số làng xã thuộc hai tổng đầu và cuối huyện nh Xuân
Dơng, Xuân Tờng tổng Xuân Lâm và La Mạc, tổng Cát Ngạn. Nh vậy ở
Thanh Chơng lúc này cùng tồn tại hai tổ chức cách mạng là Hội Phục Việt và
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong quá trình tồn tại, từ 1925 - 1929,
các tiểu tổ của hai tổ chức này đã phát động 29 cuộc đấu tranh của nông dân ở
các làng xã với các mục tiêu đấu tranh đòi chia lại ruộng đất, chia tiền nghĩa

20


thơng, chống su thuế, chống bọn Tây đoan về bắt rợu lậu. Ngoài ra nhiều nơi
còn tổ chức các phong trào đấu tranh chống bọn cầm quyền bắt dân phải đóng
cửa các trờng t thục và ép một số học sinh phải đi học trờng Pháp - Việt. Đặc
biệt, các tiểu tổ thanh niên Tân Việt đã tổ chức trại cày theo kiểu của Đặng
Thúc Hứa ở trên. Trong khi đó vào cuối năm 1929, đầu 1930, thực dân Pháp
và bọn phong kiến tay sai ngày càng tăng cờng, đàn áp đợc tổ chức cách mạng
và gây ra những tổn thất nặng nề cho các tổ chức này. Trong số 22 đảng viên
Tân Việt ở Nghệ An bị bắt và bọ toà án Nam triều đa ra xét xử ngày 21 - 1 1930 thì có 9 ngời quê ở Thanh Chơng. Chúng lầm tởng rằng, có thể dùng vũ
lực với những hành động khủng bố đẫm máu đồng bào và các chiến sĩ cách
mạng của ta, nhng những hành động của kẻ thù càng làm cho ngọn lửa căm
thù của nhân dân ta dâng cao.
Trớc tình hình cách mạng bùng lên trên cả nớc, một số hội viên tiên tiến
của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Bắc Kì đã thành lập ra Chi bộ
Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam gồm 7 đồng chí, tích cực chuẩn bị tiến tới
thành lập một Đảng Cộng sản thay thế cho Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên. Tại Đại hội lần thứ nhất vào tháng 5 - 1929, khi kiến nghị của mình đa ra
về việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam không đợc chấp nhận rút khỏi Đại
hội về nớc rồi ra lời kêu gọi công nhân, nông dân các tầng lớp nhân dân cách
mạng ủng hộ chủ trơng thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 17 - 6 1929, biểu các tổ chức cơ sở Đảng ở miền Bắc họp Đại hội quyết định thành

Dơng Cộng sản Đảng, 1 tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.3. Đảng bộ huyện Thanh Chơng ra đời.

Vào năm 1928, khi phong trào vô sản hóa đã tổ chức truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin một cách sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là
công nhân. Từ đây, con đờng cách mạng vô sản ngày càng ăn sâu trong mọi
tầng lớp nhân dân, nó đã thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng trong phạm
vi cả nớc nói chung và Thanh Chơng nói riêng. Yêu cầu cấp bách của cách

22


mạng Việt Nam lúc này là phải có một tổ chức cách mạng thống nhất để lãnh
đạo phong trào. Tuy nhiên thực tế lại không diễn ra nh vậy, chúng ta thấy
trong khoảng thời gian ngắn, 3 tổ chức cộng sản đã ra đời. Nhng trong một nớc có 3 tổ chức cộng sản hoạt động riêng rẽ, công kích lẫn nhau, tranh giành
ảnh hởng đã gây nên một trở ngại lớn cho phong trào cách mạng, nếu kéo dài
sẽ có nguy cơ chia rẽ lớn. Trớc tình hình đó, đầu năm 1930, Nguyễn ái Quốc
với nhãn quan cách mạng đúng đắn của mình đã tổ chức Hội nghị hợp nhất
các tổ chức cộng sản, thành lập chính Đảng duy nhất ở nớc ta, lấy tên là Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Vừa mới ra đời Đảng đã xúc tiến ngay việc thành lập Đảng bộ các cấp.
ở Thanh Chơng, trên cơ sở có 3 Chị bộ Đông Dơng Cộng sản Đảng, lại đợc sự
chỉ đạo trực tiếp của phân cục Trung ơng Đảng ở Trung Kì, đã tổ chức Hội
nghị đại biểu các Chi bộ Cộng sản ở Thanh Chơng tại đền Tiến Sơn (nay thuộc
xã Thanh Long) vào ngày 20 - 3 - 1930. Tại Hội nghị đã bầu ra Ban Chấp
hành lâm thời Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Thanh Chơng, gồm:
Tôn Gia Tinh (Bí th), Hoàng Thuyết, Tôn Thị Quế, Trần Trạch, Nguyễn Đình
Thốc, Nguyễn Nh Kỷ, Nguyễn Thế Lâm, Nguyễn Văn Đông. Hội nghị quyết
định chuyển các Chi bộ Đông Dơng Cộng sản Đảng trong toàn huyện thành
các Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam.

2.1. Đảng bộ phát động nhân dân đấu tranh chống áp bức
bóc lột của đế quốc và phong kiến.

2.1.1. Chủ trơng của Đảng.
Vừa mới ra đời bằng việc thống nhất 3 tổ chức cộng sản Đảng, t tởng đờng lối của Đảng cha đợc thông suốt, quần chúng cha hiểu về Đảng. Trong
khi đó, bọn thực dân phong kiến ngày càng tăng cờng đàn áp, bóc lột các tầng
lớp nhân dân làm cho cuộc sống của quần chúng hết sức cực khổ. Trớc tình
24


hình nh vậy, Đảng cần phải có những chủ trơng phù hợp với tình hình để đa
phong trào cách mạng tiến nhanh, đồng thời phải làm cho quần chúng hiểu
hơn về Đảng. Từ đó Đảng đã có chủ trơng, thông qua phong trào đấu tranh,
chống khủng bố mà thống nhất cơ sở Đảng, qua đấu tranh để vận động quần
chúng, Đảng phải làm cho quần chúng hiểu rõ hơn về đờng lối mục đích của
Đảng để thu phục quần chúng về phía mình; đồng thời khuếch trơng phong
trào đấu tranh ra toàn cõi Đông Dơng nhng tránh xu hớng bạo động non. Chủ
trơng đó đợc cụ thể hoá bằng việc hoãn các cuộc khởi nghĩa và không hởng
ứng khởi nghĩa Yên Bái nhng lại đứng ra lãnh đạo phong trào chống khủng
bố, đòi các quyền dân sinh để lái quần chúng đi theo phong trào đấu tranh của
Đảng. Về mặt chỉ đạo sách lợc, mục đích, phơng pháp cách mạng, chủ trơng
của Đảng là không xa rời mục tiêu cơ bản là đánh đổ đế quốc phong kiến tay
sai. Nhng Đảng xác định mục tiêu trong giai đoạn cách mạng này là lãnh đạo
quần chúng nhân dân đấu tranh để đòi cho đợc các quyền lợi thiết thực của
mình.
Thực hiện những chủ trơng đó của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ
huyện Thanh Chơng nhanh chóng có những chủ trơng đúng đắn kịp thời để đa
phong trào cách mạng tiến lên, đồng thời tránh đợc những tổn thất cho tổ chức
Đảng và quần chúng nhân dân. Trớc hết, để tránh bọn đế quốc và phong kiến
tay sai, lấy cớ đàn áp khủng bố các cuộc đấu tranh của quần chúng, Đảng bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status