đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác đối ngoại tu nam 2006 den nam 2013 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

LÊ THỊ BÍCH THỦY

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃ NH ĐẠO
CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI
TƢ̀ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội-2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

LÊ THỊ BÍCH THỦY

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃ NH ĐẠO
CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI
TƢ̀ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2013

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lich
̣ sƣ̉ Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.03.15



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

APEC

Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương

ASEM

Diễn đàn hợp tác Á – Âu

ADB

Ngân hàng phát triển châu Á

ARF

Diễn đàn khu vực ASEAN

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

ĐCSVN

Đảng Cộng sản Việt Nam


Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc

WTO

Tổ chức thương mại thế giới

WB

Ngân hàng thế giới

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo công
cuộc đổi mới, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiến vào
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong thắng lợi to lớn đó,
đường lối đối ngoại đóng một vai trò quan trọng.
Bước vào thế kỷ XXI, chiến tranh lạnh đã chấm dứt được mười năm,
thế giới ở trong giai đoạn quá độ tiến tới một trật tự mới. Ngay sau khi Liên
Xô tan vỡ, Mỹ bắt đầu theo đuổi mục tiêu thiết lập một thế giới đơn cực do
Mỹ đứng đầu và thao túng. Việc Mỹ lấy cớ chống khủng bố đưa ra học thuyết
quân sự mới "đánh đòn phủ đầu", bất chấp có chứng cứ hay không, rồi lại
dùng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" để can thiệp vào công việc nội bộ
của các nước, phớt lờ vai trò của Liên hợp quốc khiến các nước phải cảnh
giác. Tình hình đó cho thấy, nhận định của Đại hội X: "Những cuộc chiến
tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang,

nghiệp đổi mới (1975-2002)”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Bộ
Ngoại giao, “Tổng kết chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Đảng và
Nhà nước ta qua 20 năm đổi mới”, Đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm
cấp bộ, Vụ Chính sách đối ngoại, Hà Nội, 2004; Trình Mưu - Nguyễn Thế
Lực - Nguyễn Hoàng giáp (đồng chủ biên) “Quá trình triển khai thực hiện
chính sách đối ngoại của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam”, Nxb Lý luận
chính trị, Hà Nội, 2005; Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần KhắcViệt, Lê
Ngọc Tòng (đồng chủ biên), Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của
Đảng (1986-2005),Tập 2, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005; Hội đồng lý
luận Trung ương, “Tổng kết lý luận, thực tiễn 20 năm đổi mới của Đảng
(1986-2006)”, Hà Nội, 2006; Lê Công Phụng, Đinh Xuân Quý, “Ngành
ngoại giao Việt Nam trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đất nước đến
năm 2010, Triển vọng phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2010”,
Nxb Thống kê, Hà Nội, 10/2007; Trình Mưu, Nguyễn Hoàng Giáp (đồng chủ
biên), “Quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại Việt Nam hiện nay (Hỏi đáp)”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2007); Nguyễn Mạnh Hùng - Phạm
Minh Sơn (đồng chủ biên), “Đối ngoại Việt Nam: Truyền thống và hiện đại”,
Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội; 2008; Học viện Ngoại giao, Phạm Bình Minh,

6


“Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến năm 2020”, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2010; Phạm Gia Khiêm, “Nền ngoại giao toàn diện Việt
Nam trong thời kỳ hội nhập”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 8/2012.
Bên cạnh đó, còn có một số luận án, luận văn đã bảo vệ đề cập đến chủ
đề này: Vũ Quang Vinh, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối
ngoại (1986 -2000)”, Luận án tiến sĩ lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, 2001; Vũ Đình Công, “Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt
Nam (1986-1995)”, Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử, Đại học Quốc gia Hà
Nội, 1997; v.v...

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Nghiên cứu đường lối, chủ trương và quá trình tổ chức chỉ
đạo công tác đối ngoại của Đảng từ năm 2006 đến năm 2013.
- Phạm vi:
+ Nô ̣i dung: Làm rõ sự lãnh đạo công tác đố i ngoa ̣i của ĐCSVN.
+ Không gian : ĐCSVN lañ h đa ̣o công tác đố i ngoa ̣i ta ̣i Viê ̣t Nam
(trong và ngoài nước).
+ Thời gian: Từ năm 2006 đến năm 2013.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: dựa vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác đối ngoại.
- Nguồn tư liệu:
+ Các Văn kiện của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị,
Ban Bí thư về đường lối đối ngoại.
+ Bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ
Ngoại giao.
+ Một số sách, báo, tạp chí trong và ngoài nước đã xuất bản.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận lich
̣
sử, phương pháp lôgíc, tổng hợp, phân tích, so sánh.
6. Đóng góp của luận văn
- Hê ̣ thố ng những nô ̣i dung chủ yếu quá trình hoạch định và lãnh đạo
công tác đối ngoại của Đảng từ năm 2006 đến năm 2013.

8


- Góp phần tổng kết đường lối đối ngoại của Đảng trong hơn 25 năm
đổi mới của Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn

phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã”[7, tr 661]. Sự nghiệp cách
mạng đó chỉ có thể hoàn thành khi các Đảng cộng sản và công nhân kết hợp
chặt chẽ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp; đoàn kết giữa giai
cấp công nhân, các dân tộc bị áp bức và cả loài người tiến bộ trong cuộc đấu
tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: giai cấp vô sản
10


ở mỗi nước phải nắm lấy ngọn cờ dân tộc và dân chủ, đưa phong trào giải
phóng dân tộc vào quỹ đạo cách mạng vô sản. Khẩu hiệu đoàn kết quốc tế đã
được Mác - Ăngghen nêu lên: “Vô sản tất cả các nước liên hiệp lại” và sau
này được Lênin phát triển “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức
toàn thế giới đoàn kết lại”.
Thứ hai, tôn trọng, đấu tranh cho quyền bình đẳng, quyền tự quyết của
các dân tộc.
Đấu tranh cho quyền bình đẳng, quyền tự quyết của các dân tộc là một
nội dung quan trọng trong học thuyết Mác - Lênin. Nghiên cứu vấn đề dân tộc
và phong trào dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, V.I. Lênin đã chỉ
rõ xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc trên thế giới đấu tranh
chống áp bức dân tộc, thành lập các quốc gia dân tộc độc lập và sự liên hiệp
của các dân tộc trong một quốc gia, các dân tộc của nhiều quốc gia nhằm mở
rộng, tăng cường quan hệ kinh tế, phá bỏ ngăn cách về kinh tế giữa các dân
tộc. Hai xu thế này vận động trong một thể thống nhất, mỗi nước vừa có nhu
cầu độc lập, tự chủ… nhưng đồng thời vừa phải mở rộng quan hệ với bên
ngoài, hòa nhập với cộng đồng quốc tế và ngày càng xích lại gần nhau trên
các lĩnh vực.
Trong “Cương lĩnh dân tộc”, V.I.Lênin đã chỉ rõ: quyền bình đẳng là
quyền thiêng liêng của mọi dân tộc, là mục tiêu phấn đấu của các dân tộc trong
sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc; các dân tộc có quyền tự quyết
về chính trị và con đường phát triển cho dân tộc mình, thực hiện quyền làm chủ

sản; lên án các cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa tư bản. V.I.Lênin đã tổ
chức, chỉ đạo hoạt động Quốc tế III, hướng các hoạt động của Quốc tế vào mục
tiêu chuyên chính vô sản và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, chống chiến
tranh thế giới... Về sau, Hội nghị các đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới
(1957, 1960, 1969...) cũng là những hình thức liên hệ đa dạng, tích cực của
phong trào cộng sản quốc tế nhằm phối hợp hành động thực hiện chiến lược
chung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
* Xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế

12


Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là “hệ thống quan điểm và đường
lối chiến lược và sách lược đối với các vấn đề quốc tế, chính sách đối ngoại và
hoạt động ngoại giao của Đảng và Nhà nước, là bộ phận hữu cơ của tư tưởng
Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam”[19, tr130-131]. Nội dung tư tưởng đối
ngoại Hồ Chí Minh thể hiện trên một số vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Xuất phát từ luận điểm: muốn cứu nước, giải phóng dân tộc phải tiến
hành cuộc cách mạng đánh đuổi thực dân giành độc lập dân tộc không chỉ
bằng lòng yêu nước, mà muốn thành công cách mạng Việt Nam phải đi theo
con đường cách mạng vô sản và là một bộ phận không thể tách rời của cách
mạng đó. Theo Hồ Chí Minh, vấn đề độc lập dân tộc là lợi ích cao nhất, tiên
quyết nhất của các nước thuộc địa và phụ thuộc. Lợi ích của dân tộc Việt
Nam trước hết là độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc, là chủ
quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất đất nước; đó cũng là quyền
tự quyết, quyền bình đẳng của dân tộc trước các nước trong quan hệ quốc tế.
Cùng với mục tiêu thiêng liêng là giành độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc,
Người còn hướng cách mạng Việt Nam tiến lên CNXH - đó là con đường
đúng đắn nhất bảo đảm giá trị thực sự của độc lập dân tộc trong nền hòa bình

quả, bền vững.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ, tự lực tự cường gắn liền với
đoàn kết và hợp tác quốc tế là hệ thống quan điểm thể hiện các nội dung về
kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế; về mối quan hệ giữa nội
lực và ngoại lực và các phương châm, phương pháp nhằm phát huy hiệu quả
của kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại phục vụ cho sự nghiệp
cách mạng nước ta. Đây là một nguyên lý cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh,
là cơ sở lý luận và tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại
của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ ba, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tạo nên sức
mạnh tổng hợp phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.
Xuất phát từ quan điểm cách mạng Việt Nam là một phận của cách
mạng thế giới, trên cương vị là Người đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh đặc
biệt coi trọng việc kết hợp sức mạnh tổng hợp của dân tộc với sức mạnh của
thời đại, dân tộc với quốc tế, tranh thủ thời cơ và sự giúp đỡ bên ngoài, tập
14


hợp lực lượng nhiều tầng nấc khác nhau, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để
dân tộc ta và sự nghiệp cách mạng nước ta lớn mạnh, chủ động vươn lên tự
giải phóng cho mình, qua đó góp phần vào cách mạng thế giới.
Xác định thực chất của việc giải quyết mối quan hệ này, Hồ Chí Minh
nhấn mạnh “thực lực” tổng hợp của dân tộc là nhân tố quyết định sức mạnh,
hiệu quả và vị thế của đất nước trong quan hệ quốc tế; sức mạnh của thời đại
là xu thế vận động phát triển tất yếu của xã hội loài người, là sức mạnh của
phong trào cách mạng thế giới và sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng tiến
bộ trên thế giới... đối với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân ta. Do vậy,
trong quan hệ đối ngoại phải phân tích đúng đắn tình hình thế giới, hiểu rõ đối
tác quan hệ, hiểu rõ nền chính trị thế giới, sự tác động trực tiếp và gián tiếp
của nó đến cách mạng nước ta để đề ra những đối sách xử lý các vấn đề của

bè quốc tế, láng giềng. Với đối phương, Hồ Chí Minh đấu tranh lý lẽ, đề cao
chính nghĩa, lẽ phải, thức tỉnh lương tâm, đồng thời tỏ rõ mong muốn hòa
bình, hợp tác cùng có lợi, quan tâm đến lợi ích chính đáng của nước đối
phương. Với các cá nhân bạn bè quốc tế, Hồ Chí Minh chú trọng tranh thủ sự
ủng hộ của họ bằng những cứ chỉ tượng trưng hoặc xử thế tinh tế, mang tính
biểu tượng cao… Thực tiễn chứng minh ngoại giao tâm công hòa bình, chống
chiến tranh phi nghĩa theo truyền thống nhân văn của dân tộc của Hồ Chí
Minh đã làm tăng sức tiến công của ngoại giao Việt Nam phục vụ cho những
nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta.
1.1.2. Từ truyền thống ngoại giao của dân tộc
Việt Nam có truyền thống ngoại giao lâu đời, chống giặc mạnh, giao
thiệp với nước lớn, cùng với đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao luôn luôn
được các thế hệ cha ông ta sử dụng như một công cụ, một phương thức và
biện pháp đấu tranh quan trọng, sắc bén và hiệu quả, góp phần tạo nên sức
mạnh tổng hợp để dân tộc ta đấu tranh giữ nước và dựng nước. Lịch sử ngoại
giao của ông cha ta để lại những bài học thực tiễn phong phú, quý giá cho nền
ngoại giao cách mạng Việt Nam:
Thứ nhất, nêu cao ý thức độc lập dân tộc, tự chủ, bảo vệ chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đề cao và bảo vệ lợi ích quốc gia, bản sắc
văn hoá, danh dự dân tộc.
16


Đây là thể hiện sâu sắc chủ nghĩa yêu nước trong quan hệ quôc tế, thực
tế lịch sử dân tộc đã chứng minh rằng ở bất cứ thời kỳ nào, tổ tiên ta giương
cao ngọn cờ độc lập tự chủ, phát huy được ý thức tự cường, kiên quyết bảo vệ
lợi ích dân tộc, chủ quyền quốc gia thì thời kỳ đó giành được nhiều thắng lợi
trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, ngoại giao, đất nước phát triển ổn
định, vững chắc, có vị thế cao trong quan hệ quốc tế. Trái lại, các triều đại và
vua chúa nào hạ thấp hoặc hy sinh lợi ích dân tộc, chạy theo lợi ích của các

ta trong tiếp đón, đàm phán với địch đúng nghi lễ, vừa khôn khéo nhún
nhường của nước nhỏ, vừa kiên quyết giữ vững nguyên tắc kết hợp binh lực
thị uy, phô trương thanh thế, khuyếch trương lực lượng răn đe chúng, kiên
quyết đánh địch giành và giữ độc lập dân tộc, nâng cao vị thế của đất nước.
Thứ ba, kiên định mục tiêu chiến lược, giữ vững nguyên tắc song mềm
dẻo khôn khéo về sách lược.
Trong đấu tranh ngoại giao, phương châm xử lý của ông cha ta là luôn
quán triệt sâu sắc tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Không bao giờ từ bỏ,
nhân nhượng những vấn đề về chiến lược, quan hệ đến lợi ích cơ bản, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và danh dự dân tộc.
Đấu tranh ngoại giao rất khó khăn, phức tạp và căng thẳng. Đây thực sự
là vấn đề mưu lược, đấu trí, đấu tài, đòi hỏi sự thông tuệ, sáng suốt, bản lĩnh
và cả sự khôn khéo, mềm dẻo, tính kiên trì theo đuổi mục tiêu. Ông cha ta đã
cung cấp cho chúng ta nhiều kinh nghiệm phong phú về nghệ thuật đàm phán
và hoạt động ngoại giao. Trên cơ sở đặt quyền lợi tối cao của dân tộc lên trên
hết, nhất quán với mục tiêu đã xác định, song biết thắng từng bước, từng
phần, biết cái gì, khi nào có thể nhân nhượng, cái gì không thể nhân nhượng,
dùng lời lẽ sắc sảo, nhún nhường nhưng không quỵ lụy. Đặc biệt bằng thực
tiễn lịch sử, tổ tiên ta cho thấy trong quan hệ với kẻ thù, không bao giờ được
lơ là mất cảnh giác, ảo tưởng mơ hồ bản chất, âm mưu của chúng. Đồng thời
phải luôn cảnh giác cao, kịp thời nắm bắt mọi diễn biến và động thái của đối
phương, nhận rõ ý đồ, thủ đoạn của chúng để có phương sách đúng đắn, đấu
tranh đạt được kết quả cao nhất, nhờ đó ta thắng địch về ngoại giao góp phần
to lớn về thắng lợi chung của dân tộc.
18


Thứ tư, nắm chắc đặc điểm, tình hình đối phương, tình hình thực lực của
đất nước để đề ra chủ trương, biện pháp đấu tranh phù hợp, đem lại hiệu quả
cao nhất.

tinh thần lạc quan, tinh thần chịu đựng khó khăn nguy hiểm, tuyệt đối trung
thành với dân tộc, với đất nước… Và những hoạt động đấu tranh ngoại giao
của họ đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi của dân tộc trong lịch sử giữ
nước và cứu nước.
1.1.3. Từ kinh nghiệm thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở đa
phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế
Hơn hai mươi lăm năm, một khoảng thời gian không dài trong quá trình
tiếp tục lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới của ĐCSVN, nhưng xét trên
lĩnh vực đối ngoại, là một giai đoạn có ý nghĩa vô cùng to lớn, để lại những
bài học kinh nghiệm quý báu cả về lý luận và thực tiễn cho đối ngoại Việt
Nam thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.
Thứ nhất, đánh giá đúng sự biến đổi của tình hình quốc tế, khu vực;
bám sát thực tiễn đất nước, nhạy bén phân tích và dự báo chính xác xu thế
vận động của thế giới, kịp thời điều chỉnh chính sách đối ngoại, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế.
Trong quá trình hoạch định đường lối cách mạng nói chung và đường lối
đối ngoại nói riêng, việc đánh giá đúng đắn tình hình thế giới và khu vực, dự
báo chính xác thời cuộc, vận nước là một nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt
của công tác đối ngoại. Đảng ta đã chỉ rõ: nhiệm vụ công tác đối ngoại là “Cần
nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu
sắc trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu
hướng quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới để có những chủ trương đối ngoại
phù hợp”[3, tr 38]. Thực hiện nhiệm vụ đó, trong bối cảnh sự nghiệp đổi mới
diễn ra vào lúc đất nước đang lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội
trầm trọng; tình hình thế giới có nhiều biến động với những diễn biến phức tạp,
bất lợi cho cách mạng Việt Nam; trong quan hệ quốc tế xuất hiện các xu thế
mới khác với thời kỳ chiến tranh lạnh. Tỉnh táo và sáng suốt, Đảng ta đã phân
tích sâu sắc thực trạng đất nước, tìm được nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng
kinh tế - xã hội và lý do dẫn đến các nước bao vây, cấm vận Việt Nam. Đảng ta
20

tìm kiếm khả năng, tháo gỡ những vướng mắc đẩy nhanh tiến trình gia nhập
21


ASEAN (1995); chủ trương giảm bớt căng thẳng không đối đầu với Mỹ, từng
bước cải thiện quan hệ và tiến tới bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ năm
1995, thúc đẩy mở rộng quan hệ kinh tế - thương mại, tranh thủ đầu tư, viện
trợ công nghệ của Mỹ và các nước phương Tây khác. Đồng thời mở rộng
quan hệ hợp tác với Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước tư bản phát triển…,
Thực tế cho thấy, chủ trương đổi mới chính sách đối ngoại và những thành
tựu đạt được trong quan hệ đối ngoại trên đã đưa Việt Nam thoát khỏi thế bị
bao vây, cấm vận, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước và
từng bước hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Thứ ba, xác định rõ mục tiêu, biện pháp đối ngoại thích hợp cho từng giai
đoạn; không ngừng hợp tác quốc tế, đấu tranh trong những trường hợp cần thiết
nhằm tìm kiếm thị trường, tranh thủ vốn, khoa học - công nghệ hiện đại; nắm
vững phương châm vừa hợp tác vừa đấu tranh trong quan hệ quốc tế.
Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, cục diện thế giới đã có sự thay đổi
sâu sắc khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ,
trật tự thế giới hai cực tan vỡ, những quan hệ truyền thống với nước ta không
còn. Trước tình hình đó, để phá thế bị bao vây cấm vận, từng bước mở rộng
quan hệ quốc tế, Đảng ta đã kịp thời điều chỉnh tư duy và chính sách đối
ngoại từ chỗ nhấn mạnh nhân tố chính trị sang chú trọng phát triển kinh tế,
giữ vững chủ quyền, độc lập dân tộc và mở rộng hợp tác quốc tế. Đảng và
Nhà nước ta hết sức kiên trì đối thoại bằng nhiều hình thức, biện pháp ngoại
giao linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo để giải quyết vấn đề Campuchia từ đó làm
cho các nước hiểu rõ hơn thiện chí và lập trường của Việt Nam trong việc giải
quyết các vấn đề khu vực, giải toả sự nghi kỵ và trở ngại trong quan hệ của
Việt Nam với các nước. Trong quá trình bình thường hóa quan hệ giữa nước
ta với Mỹ, Trung Quốc, mở rộng quan hệ với các nước và các tổ chức quốc tế

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng ta
đã phát huy ở mức cao nhất tinh thần độc lập tự chủ, giành thắng lợi to lớn
giải phóng dân tộc. Ngay sau khi đất nước thống nhất, đi vào xây dựng chủ
nghĩa xã hội với những khó khăn chồng chất, nhất là quan hệ đối ngoại chưa
được mở rộng, bị đế quốc Mỹ bao vây, cấm vận, hệ thống XHCN thì hầu như
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status