ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI LÃNH ĐẠO KINH TẾ ĐỐI NGOẠI GIAI ĐOẠN 2001 - 2006 - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
------------------

NGUYỄN MINH THÙY

ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI
LÃNH ĐẠO KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
GIAI ĐOẠN 2001 - 2006

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng
Người hướng dẫn khoa học
ThS. CHU THỊ THU THỦY

HÀ NỘI – 2015


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc của mình tới ThS. Chu
Thị Thu Thủy người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo cho tôi hoàn
thành khoá luận này.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong khoa
Lịch sử và các bạn sinh viên trong nhóm khoá luận đã giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khoá luận.
Mặc dù đã có những cố gắng tìm tòi nhất định, song chắc chắn trong
quá trình hoàn thành khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất
mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và tất cả các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2015
Tác giả khoá luận

1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỈNH LÀO CAI ........................................ 7
1.1.1. Điều kiện tự nhiên ........................................................................... 7
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội .............................................................. 12
1.2. THỰC TRẠNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI CỦA TỈNH LÀO CAI
TRƯỚC NĂM 2001.................................................................................... 17
1.3. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ LÃNH ĐẠO KINH TẾ ĐỐI
NGOẠI ........................................................................................................ 19
Chương 2. ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI LÃNH ĐẠO KINH TẾ ĐỐI
NGOẠI GIAI ĐOẠN 2001 – 2006 ................................................................. 25
2.1. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI VỀ LÃNH
ĐẠO KINH TẾ ĐỐI NGOẠI GIAI ĐOẠN 2001 - 2006........................... 25
2.2. ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI LÃNH ĐẠO KINH TẾ ĐỐI
NGOẠI GIAI ĐOẠN 2001 - 2006 ............................................................. 29
2.2.1. Hoạt động xuất – nhập khẩu ........................................................ 29


2.2.1.1. Khái quát công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lào Cai
đối với hoạt động xuất nhập khẩu giai đoạn 2001 - 2006 .................. 29
2.2.1.2. Một số chính sách ưu đãi của Đảng bộ tỉnh Lào Cai đối
với hoạt động xuất nhập khẩu trong giai đoạn 2001 – 2006 .............. 32
2.2.1.3. Một số thành quả đạt được của Đảng bộ tỉnh Lào Cai đối
với công tác lãnh đạo hoạt động xuất – nhập khẩu của tỉnh giai
đoạn 2001 – 2006 ................................................................................ 36
2.2.1.4. Hạn chế trong công tác lãnh đạo hoạt động xuất nhập
khẩu của Đảng bộ tỉnh Lào Cai và nguyên nhân dẫn đến hạn chế ..... 41
2.2.2. Hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài .................................... 42
2.2.2.1. Đảng bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo Hoạt động thu hút vốn
đầu tư nước ngoài giai đoạn 2001 - 2006 ........................................... 42
2.2.2.2. Chính sách khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài
của Đảng bộ tỉnh Lào Cai trong giai đoạn 2001 – 2006 ..................... 46

chính là lí do để Đảng và Nhà nước Việt Nam chú trọng đầu tư phát triển
kinh tế đối ngoại tại Lào Cai.
Chính vì lẽ đó, vấn đề kinh tế đối ngoại có ý nghĩa đặc biệt đối với sự
phát triển của tỉnh Lào Cai. Đề án phát triển kinh tế cửa khẩu giai đoạn 20012005- 2010 được Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt theo quyết định số 50/QPUB ngày 18/12/2002 đã xác định mục tiêu “Điều chỉnh quy hoạch và đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu du lịch kinh tế cửa khẩu, đặc biệt là khu
cửa khẩu quốc tế Lào Cai, đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế, thương mại, du

1


lịch, dịch vụ cho trước mắt và tương lai lâu dài, tương xứng với tầm cửa khẩu
quốc tế văn minh, hiện đại” [5, tr.1]. Đồng thời tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ
tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2000-2005, Đảng bộ tỉnh đã định hướng phát triển
thương mại tỉnh Lào Cai trong giai đoạn tới là: “Coi phát triển thương mại du lịch, dịch vụ là mũi nhọn; phát triển thương mại - dịch vụ, du lịch để khai
thác hiệu quả lợi thế. Phát triển thương mại Lào Cai có đặc thù khác so với
các tỉnh khác không có biên giới” [1,tr.8].
Ta có thể thấy rõ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nói chung cũng
như Đảng bộ tỉnh Lào Cai nói riêng đến vấn đề phát triển kinh tế đối ngoại
của tỉnh. Trên những ý nghĩa đó, tôi quyết định chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh
Lào Cai lãnh đạo kinh tế đối ngoại giai đoạn 2001 – 2006” làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đảng bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo kinh tế đối ngoại giai đoạn 2001 – 2006
là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan tổ chức của Đảng nói
chung và Đảng bộ tỉnh nói riêng. Đây cũng là vấn đề được nhiều nhà nghiên
cứu về kinh tế, chính trị tìm hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, cụ thể như:
- Trong tác phẩm Lào Cai Vận hội mới do Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2005, thì vấn đề kinh tế đối ngoại của tỉnh Lào
Cai cũng được nghiên cứu sâu và nhìn theo góc độ đa chiều.
- Ngoài ra còn có các Dự án “Điều chỉnh Quy hoạch phát triển thương

trương của Đảng đối với hoạt động kinh tế đối ngoại của tỉnh. Đồng thời, rút
ra một số bài học kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo kinh tế đối ngoại
tỉnh Lào Cai giai đoạn 2001 – 2006.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề “Đảng bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo kinh tế đối ngoại
giai đoạn 2001 – 2006”, đề tài hướng đến giải quyết những nhiệm vụ sau:

3


Thứ nhất, khóa luận tiến hành khái quát những cơ sở thực tiễn và cơ sở
lý luận để Đảng bộ tỉnh Lào Cai về lãnh đạo kinh tế đối ngoại của tỉnh giai
đoạn 2001- 2006.
Thứ hai, khóa luận hệ thống hóa và phân tích quá trình Đảng lãnh đạo
hoạt động kinh tế đối ngoại của tỉnh Lào Cai giai đoạn 2001- 2006 và một số
thành quả đạt được cũng như bài học được đúc rút ra trong quá trình lãnh
đạo đó.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Trên phạm vi tỉnh Lào Cai
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2001 đến năm 2006
3.4. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu những chủ trương, chính sách của Đảng nhằm
lãnh đạo kinh tế đối ngoại của tỉnh Lào Cai giai đoạn 2001 – 2006. Từ chủ
trương, đường lối chung của trung ương đến những bước đi cụ thể mà Đảng
Bộ tỉnh chỉ đạo, thực trạng và thành quả mà ngành kinh tế đối ngoại của tỉnh
đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Khóa luận không đi sâu vào phân tích
từng hạng mục cụ thể của ngành kinh tế đối ngoại tỉnh, mà chỉ tiến hành
nghiên cứu hai hoạt động chính đó là hoạt động xuất – nhập khẩu và hoạt
động thu hút vốn đầu tư nước ngoài, để từ đó làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh đối với kinh tế đối ngoại trong giai đoạn 2001 – 2006.

kinh tế đối ngoại của Đảng bộ tỉnh Lào Cai từ năm 2001 đến năm 2006; nêu
những thành tựu của tỉnh Lào Cai đã đạt được, những ưu điểm và hạn chế của
Đảng bộ tỉnh trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện.
- Khóa luận nêu lên một số kinh nghiệm lịch sử trong quá trình Đảng
bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại, đề xuất một số giải
pháp, định hướng chủ yếu góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của hoạt
động kinh tế đối ngoại trong tương lai.

5


6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
Khóa luận gồm hai chương chính như sau:
Chương 1: Cơ sở để Đảng bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo kinh tế đối ngoại
giai đoạn 2001- 2006
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo kinh tế đối ngoại giai đoạn
2001- 2006.

6


NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ ĐỂ ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI LÃNH ĐẠO KINH TẾ
ĐỐI NGOẠI GIAI ĐOẠN 2001- 2006
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỈNH LÀO CAI
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
 Vị trí địa lý
Lào Cai là một tỉnh miền núi biên giới nằm giữa nằm giữa vùng Đông

qua tỉnh là 124 km) và sông Nậm Mu (có chiều dài chạy qua tỉnh là 122km).
 Khí hậu
Lào Cai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, song do nằm sâu trong vùng lục
địa bị chi phối bởi nhiều yếu tố địa hình phức tạp nên diễn biến thời tiết có
phần bị thay đổi, khác biệt theo thời gian và không gian. Khí hậu Lào Cai chia
thành hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ trung bình năm ở vùng cao từ
150C – 200C, lượng mưa trung bình từ 1.800mm – 2.000mm. Nhiệt độ trung
bình năm ở vùng thấp từ 230C – 290C, lượng mưa trung bình từng 1.4000mm
– 1.700 mm.
 Sinh vật
Đặc điểm nổi bật của sinh vật Lào Cai là tính đa dạng sinh học. Toàn
tỉnh có hơn 2000 loài thực vật , 442 loại chim, thú, bò sát, ếch nhái. Trong đó
có 60 loại động vật chỉ tìm thấy ở Lào Cai, 9 loại thực vật chỉ tìm thấy ở Sa
Pa. Lào Cai có kho tàng quỹ gen đặc biệt quý hiếm (chiếm tới gần 50% số
loại thực vật đặc biệt quý hiếm ở nước ta).
 Tài nguyên
Lào Cai là mảnh đất giàu tài nguyên như tài nguyên đất, tài nguyên
rừng, khoáng sản, du lịch... tất cả đã tạo điều kiện thuận lợi để Lào Cai phát
triển một cách bền vũng và lâu dài có thể kể đến như sau:
8




Tài nguyên đất

Có 10 nhóm đất chính, được chia làm 30 loại đất, 10 nhóm đất là: đất
phù sa, đất lầy, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ, đất mùn alit trên núi,
đất mùn thô trên núi, đất đỏ vàng bị biến đổi do trồng lúa, đất sói mòn mạnh
trơ sỏi đá và đất dốc tụ. Xin giới thiệu một số nhóm đất đang được sử

đoạn chảy qua tỉnh là 124 km. Ngoài 2 con sông lớn, trên địa bàn tỉnh còn có
hàng nghìn sông, suối lớn nhỏ (trong đó có 107 sông, suối dài từ 10 km trở
lên). Đây là điều kiện thuận lợi cho Lào Cai phát triển các công trình thuỷ
điện vừa và nhỏ.
Bên cạnh đó, nguồn nước nguồn ước tính có trữ lượng xấp xỉ 30 triệu
m3, trữ lượng động khoảng 4.448 triệu m3 với chất lượng khá tốt, ít bị
nhiễm vi khuẩn.
Theo các tài liệu điều tra, trên địa bàn tỉnh có bốn nguồn nước khoáng,
nước nóng có nhiệt độ khoảng 400oC và nguồn nước siêu nhạt ở huyện Sa Pa,
hiện chưa được khai thác, sử dụng.
 Tài nguyên rừng
Rừng: 307.573 ha, trong đó có 249.434 ha rừng tự nhiên và 58.139 ha
rừng trồng.
Thực vật rừng: rất phong phú cả về số lượng loài và tính điển hình của
thực vật. Riêng tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Sơn đã phát hiện được
847 loài thực vật thuộc 164 họ, 5 ngành, trong đó có nhiều loại quý hiếm như:
Lát Hoa, Thiết Sam, Đinh, Nghiến,...
Động vật rừng: theo các tài liệu nghiên cứu, Lào Cai có 442 loài chim,
thú, bò sát, ếch nhái. Trong đó, thú có 84 loài thuộc 28 họ, 9 bộ; chim có 251
loài thuộc 41 họ, 14 bộ; bò sát có 73 loài thuộc 12 họ,...
 Tài nguyên khoáng sản
Tới nay đã phát hiện được 150 mỏ và điểm mỏ với trên 30 loại khoáng
sản, trong đó có một số mỏ khoáng sản đã được thăm dò, đánh giá trữ lượng,

10


chất lượng thuộc loại quy mô lớn nhất nước và khu vực như: mỏ A Pa Tit
Cam Đường với trữ lượng 2,5 tỷ tấn, mỏ sắt Quý Sa trữ lượng 124 triệu tấn,
mỏ đồng Sin Quyền trữ lượng 53 triệu tấn, mỏ Molipden Ô Quy Hồ trữ lượng

chữ Nôm. Đặc biệt tại huyện Sa Pa có bãi đá cổ được chạm khắc hoa văn thể
hiện các hình tượng, bản đồ, chữ ký, ký hiệu,...Hơn nữa, những biến động
trong lịch sử đã để lại cho Lào Cai nhiều di tích nổi tiếng như đền Bảo Hà,
đền Thượng, kiến trúc nhà Hoàng A Tưởng,... Không chỉ nhiều di sản vật thể
và phi vật thể được phát hiện, bảo tồn mà một kho tàng văn học dân gian đồ
sộ đến nay vẫn chưa được khám phá hết.
Trên cơ sở những tiềm năng đó đã tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế đối
ngoại tỉnh Lào Cai phát triển. Bởi lẽ vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, sinh vật và
các nguồn tài nguyên đều tạo nên các cơ sở vững chắc để kinh tế hoạt động
kinh tế đối ngoại của tỉnh có điều kiện phát triển. Ví như đặc thù về vị trí địa
lý giúp tỉnh Lào Cai có cơ sở để giao thương thuận lợi với nước bạn Trung
Quốc hay nói cách khác là việc phát triển hoạt động của các cửa khẩu được đề
cao. Bên cạnh đó sự đa dạng về sinh học cũng như sự giàu có về tài nguyên
thiên nhiên giúp cung cấp đầy đủ nguồn nguyên liệu cho hoạt động xuất khẩu
hay sản xuất hàng xuất khẩu. Ngoài ra cơ sở về địa hình và khí hậu cũng góp
phần nào vào công cuộc phát triển kinh tế đối ngoại của tỉnh nhà.
1.1.2.Điều kiện kinh tế - xã hội


Về kinh tế

Lào Cai là mảnh đất đầy tiềm năng với nhiều điều kiện thuận lợi để
phát triển về kinh tế. Nơi đây có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi,
bên cạnh đó là sự đa dạng về sinh học cũng như sự giàu có về tài nguyên
thiên nhiên. Cùng với đó Lào Cai còn được thiên nhiên ưu đãi cho khí hậu
chan hòa phục vụ tốt cho cả nông nghiệp lẫn du lịch.
Trước khi tái lập tỉnh,từ 1986 đến 1991, mặc dù kinh tế có những biến
chuyển bước đầu, nhưng Lào Cai vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử

12

13


Thành tựu vượt trội về nông nghiệp là tăng mạnh về năng suất và sản
lượng cây lương thực. Công tác khuyến nông, khuyến lâm, ứng dụng tiến bộ
khoa học – kỹ thuật được đẩy mạnh. Chăn nuôi phát triển theo hướng sản xuất
hàng hóa, nhất là chăn nuôi đại gia súc. Thủy sản khá phát triển. Công tác bảo
vệ và phát triển rừng được quan tâm. Hợp tác xã được chuyển đổi, củng cố,
đã và đang thích ứng với cơ chế mới, sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn.
Chính những điều đó đã làm bộ mặt nông thôn Lào Cai có nhiều đổi mới. Đời
sống vật chất và tinh thần của nông dân được cải thiện đáng kể; tỷ lệ hộ nghèo
giảm nhanh, từ 29,96% năm 2000 xuống còn 7% năm 2005 [1,tr.3].
 Công nghiệp
Sản suất công nghiệp của địa phương có nhiều chuyển biến tích cực, đã
triển khai thực hiện các dự án phát triển đầu tư chiều sâu, đầu tư mở rộng quy
mô sản xuất và ngành nghề, đã tạo lên nhiều sản phẩm mới. Song bên cạnh đó
công nghiệp Trung ương lại gặp phải không ít khó khăn do thị trường tiêu thụ
sản phẩm không ổn định, sản phẩm khai thác và chế biến phân bón tồn kho
nhiều, ảnh hưởng đến sản xuất.
Tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn mới đang dần dần được khơi dậy,
phục hồi và phát triển một số ngành nghề thủ công, mỹ nghệ: đan lát, dệt thổ
cẩm, chế biến nông lâm sản… Tuy nhiên còn ở mức thấp, công nghệ sản xuất
lạc hậu, manh mún, chưa thu hút được nhiều lao động nên chưa tạo nên nhiều
sản phẩm hàng hoá…
Cụ thể giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2002
đạt 350 tỷ đồng. Trong đó: công nghiệp Trung ương đạt 165,4 tỷ đồng; công
nghiệp địa phương đạt 184,6 tỷ đồng. Một số sản phẩm của công nghiệp địa
phương tiêu thụ tương đối ổn định là: Quặng sắt, Fenspat, gạch xây, tinh
quặng đồng (Cu 18%), xi măng, giấy vàng kim xuất khẩu. Một số doanh
nghiệp địa phương đã năng động sản xuất một số sản phẩm mới như: gạch

Những thành tựu về kinh tế của tỉnh Lào Cai đã có những tác động nhất
định đến đời sống xã hội, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao mức sống
15


của dân cư. Thu nhập bình quân của hộ gia đình ở nông thôn Lào Cai tăng từ
6,6 triệu đồng năm 2000 lên 15 triệu đồng năm 2005. Sự tăng trưởng về kinh
tế còn góp phần xoá đói giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo trong toàn tỉnh giảm
nhanh từ 29,69% năm 2000 xuống còn 6,94% năm 2005 (theo tiêu chí cũ),
năm 2006 giảm 7,5% (theo tiêu chí mới còn 43%). Cơ sở hạ tầng cũng có
nhiều thay đổi. Đến nay, 100% số xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã, 82%
số xã có điện lưới quốc gia, 62% số hộ dân được sử dụng điện, 70% số dân
được sử dụng nước hợp vệ sinh. Lĩnh vực văn hóa- xã hội được quan tâm
đúng mức và đạt nhiều thành tựu quan trọng. Giáo dục đào tạo được nâng cao
về chất lượng và mở rộng về quy mô. Năm 2005, Lào Cai đã đạt chuẩn phổ
cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, 50% trường lớp được kiên cố hóa. Công
tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân được chú trọng, toàn tỉnh có 213
cơ sở khám chữa bệnh, 100% số thôn bản có nhân viên y tế. Việc gắn kết giữa
phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội đã có nhiều chuyển biến
tích cực [14, tr15].
 Dân cư
Theo số liệu thống kê năm 2004, Lào Cai có số dân trên 55,69 vạn
người, trong đó số người trong độ tuổi lao động xấp xỉ 50% và mật độ dân cư
là 88 người/km2 [2, tr.47].
Lào Cai có 25 dân tộc anh em sinh sống. Dân tộc kinh có 194.666
người, dân tộc H’mông có 122.825 người, dân tộc Tày có 82.516 người, dân
tộc Dao có 72.543 người, dân tộc Thái có 51.061 người, dân tộc Giáy có
24.360 người, dân tộc Nùng có 23.156 người, dân tộc Phù Lá có 6763 người,
dân tộc Hà Nhì có 3099 người, dân tộc Lào có 2134 ngưòi, dân tộc Kháng có
1691 người, dân tộc Laha có 1572 người, dân tộc Mường 1263 người, dân tộc

Hoạt động xuất, nhập khẩu về cơ bản chỉ diễn ra nhỏ lẻ, chưa được nhà nước
quản lý chặt chẽ. Năm 1991, hàng hóa xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam tại
cửa khẩu Lào Cai chỉ là nguyên liệu thô chưa qua chế biến, tính cạnh tranh

17


thấp, phải phụ thuộc nhiều và chính sách biên mậu của của Trung Quốc. Còn
hàng nhập khẩu trong thời gian này chủ yếu là hóa chất, thiết bị máy móc,
chất lượng không được đảm bảo, thiếu sự quản lý của các cơ quan chức năng
[25, tr.135]. Bên cạnh đó, hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn
chưa được Đảng bộ tỉnh quan tâm rõ ràng, chưa có nhiều chính sách ưu tiên
để thu hút vốn đần tư nước ngoài.
Cũng chính bởi lẽ đó, tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ trong năm
1991 chỉ đạt một trăm tỷ đồng, năm 2000 cũng mới chỉ đạt 490 tỷ đồng. Thời
kỳ trước năm 1989 khi tỉnh Lào Cai chưa có chính sách ưu đãi phát triển kinh
tế cửa khẩu thì hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhật cảnh còn nhỏ lẻ, tổng
kim ngạch xuất nhập khập khẩu chỉ đạt 2,6 triệu USD – một con số quá nhỏ
bé. Đến năm 1992 kim ngạch xuất khẩu là 9,4 triệu USD, năm 2000 đạt 95
triệu USD, tuy có sự tăng trưởng rõ rệt xong vẫn còn thấp, chưa thực sự đột
phá [18, tr.30]. Hơn nữa hệ thống các cửa khẩu quốc tế vẫn còn nhỏ hẹp, điều
kiện để đảm bảo giao thương vẫn còn nhiều hạn chế. Thị trường trao đổi lưu
thông hàng hóa trong thời gian này được đánh giá là chưa sôi động và có phần
trầm lắng. Từng ấy thời gian cũng là từng ấy tháng ngày trắc trở khó khăn,
đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Lào Cai phải xây dựng được bước phát triển đột phá để
đưa ngành kinh tế đối ngoại của tỉnh lên một tầm cao mới.
Chính những số liệu cụ thể của hoạt động kinh tế đối ngoại trước năm
2001 đã cho chúng ta thấy rõ được cơ sở để Đảng bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo
hoạt động kinh tế đối ngoại của tỉnh giai đoạn 2001 – 2006. Bởi lẽ, khi dựa
trên những số liệu cụ thể này Đảng bộ tỉnh sẽ đánh giá được tỉnh hình hiện

“Về hội nhập kinh tế quốc tế”. Tại Đại

hội X, Đảng ta đã nhấn mạnh chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác”. Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/T

“ ề một số

chủ trương, chính sách lớn để nền inh tế phát triển nhanh và ền v ng hi
iệt am là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới”. Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đối
ngoại của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, trong đó có chủ trương rất
19


quan trọng là “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Từ “hội nhập kinh tế
quốc tế” của các kỳ đại hội trước, chuyển sang “hội nhập quốc tế” một cách
toàn diện là một phát triển quan trọng về tư duy đối ngoại của Đảng ta tại Đại
hội XI [15, tr.21].
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/T

về hội nhập quốc

tế. Đây là văn kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, làm rõ và thống nhất
nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Nghị quyết đã xác định rõ hội nhập quốc tế sẽ được triển khai sâu rộng trên
nhiều lĩnh vực, đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn với yêu cầu đổi mới mô
hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế.
Xuyên xuốt quá trình xây dựng đất nước đồng thời thông qua các kỳ
đại hội của Đảng ta có thể thấy những quan điểm cụ thể của Đảng về vấn đề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status