TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
DƢƠNG ĐÌNH QUYỀN
ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
GIAI ĐOẠN 1954 – 1968
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo là giảng viên Khoa Lịch sử,
trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, giúp đỡ để tôi hiểu hơn về
lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Nhờ
có quá trình tích lũy đó mà tôi hoàn thành đƣợc khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Trần Thị Vui, ngƣời đã
trực tiếp hƣớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khóa luận.
Tôi xin cảm ơn, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Thọ, Cục Thống kê tỉnh
Phú Thọ đã cung cấp cho tôi những tài liệu về vấn đề nghiên cứu để tôi hoàn
thành khóa luận.
Do hạn chế về thời gian, nguồn tƣ liệu cũng nhƣ trình độ nghiên cứu nên
khóa luận còn thiếu sót, rất mong đƣợc sự đóng góp của các thầy cô và các
bạn sinh viên để khóa luận đƣợc hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hòa, tháng 4 năm 2016
Tác giả
điều kiện có chiến tranh (1965-1968) ........................................................ 44
Chƣơng 3: THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM ........ 49
3.1 Thành tựu .............................................. Error! Bookmark not defined.
3.2 Hạn chế ............................................................................................... 50
3.3 Một số kinh nghiệm........................................................................... 515
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 57
Bản đồ hành chính tỉnh Phú Thọ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một thành phần kinh tế có vai trò, vị trí hết sức quan
trọng đối với nền kinh tế quốc dân, là cơ sở để phát triển công nghiệp, cung
cấp lƣơng thực thực phẩm, góp phần đáng kể vào ngân sách Nhà nƣớc
đồng thời nâng cao đời sống nhân dân.
Nƣớc ta đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội xuất phát thấp từ nền kinh tế
nông nghiệp. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng
và chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Nông nghiệp tốt, công
nghiệp tốt, thì xây dựng tốt chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở vững
mạnh cho sự nghiệp đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nƣớc nhà”
[23,tr.136]. Đảng và Nhà nƣớc rất chú trọng phát triển kinh tế nông
nghiệp.Trong kháng chiến chống Mĩ cứu nƣớc (1954-1975) việc phát triển
kinh tế nông nghiệp có ý nghĩa rất to lớn.Cung cấp lƣơng thực, thực phẩm
cho tiền tuyến, đáp ứng nhu cầu lƣơng thực cho ngƣời tham gia chiến đấu
và phục vụ chiến đấu. Bảo đảm nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân
dân. Các địa phƣơng đều nỗ lực, hăng hái sản xuất, đáp ứng khẩu hiệu:
“Tiền tuyến gọi địa phƣơng trả lời”, “Thóc không thiếu một cân, quân
không thiếu một ngƣời”.
Hồng Đức Nhuận, Nguyễn Quang Phát (2007), Đảng lãnh đạo công
cuộc đổi mới đất nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội…
Đỗ Mai Thành (2011), Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Việt Nam: lý luận và thực tiễn.
Nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phƣơng đối với phát triển
nông nghiệp đã có một số học giả tiến hành. Trên địa bàn tỉnh có một số tài
liệu: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ (2003), Nxb Chính trị Quốc gia, chủ
yếu liệt kê sự kiện lịch sử Đảng của tỉnh, đã phản ánh đƣợc một phần kinh
2
tế của tỉnh. Ngoài ra còn phải kể đến một số tác giả và công trình nghiên
cứu sau đây:
Tống Thị Nga (2013), Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo phát triển
nguồn nhân lực nông nghiệp thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tống Thị Nga (2014), Đảng bộ huyện Phù Ninh (Phú Thọ) lãnh đạo
phát triển làng nghề trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tống Thị Nga (2014), Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện ứng
dụng khoa học và công nghệ trong nông nghiệp, nông thôn.
Tống Thị Nga (2014), Một số kinh nghiệm thực hiện Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở tỉnh Phú
Thọ.
Nhƣ vậy, các công trình ở trên đều nghiên cứu về nông nghiệp tỉnh
Phú Thọ thuộc giai đoạn từ sau khi tiến hành Đổi mới (1986 trở đi), còn các
giai đoạn trƣớc đó chƣa nhận đƣợc nhiều sự quan tâm.
Đề tài “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp
giai đoạn 1954-1968” là một đề tài mới mẻ, hiện chƣa có công trình nào đi
sâu nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng kết những kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Phú Thọ đối với phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1965-1968, làm rõ
ý nghĩa của những kinh nghiệm đó vận dụng vào công cuộc đổi mới, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở nƣớc ta trong
giai đoạn hiện nay.
6. Bố cục
Khóa luận gồm 4 phần: Mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham
khảo.
Trong đó, nội dung của khóa luận gồm 3 chƣơng:
4
Chƣơng 1: Chủ trƣơng của Đảng bộ Phú Thọ về phát triển nông
nghiệp trong giai đoạn 1954-1968.
Chƣơng 2: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ chỉ đạo việc xây dựng và phát triển
nông nghiệp trong giai đoạn 1954-1968.
Chƣơng 3: Thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm.
5
NỘI DUNG
Chƣơng 1
CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ VỀ PHÁTTRIỂN
NÔNG NGHIỆP TRONGGIAI ĐOẠN 1954-1968
1.1 Khái quát về tỉnh Phú Thọ
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và truyền thống lịch sử
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Phú Thọ là một tỉnh thuộc trung du và miền núi Bắc Bộ, đƣợc coi là
rác trong tỉnh.Vùng núi chiếm 79% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; vùng trung
du chiếm 14,35% diện tích; vùng đồng bằng chiếm 6,65% diện tích. Ðiểm
cao nhất có độ cao 1.200m so với mực nƣớc biển, điểm thấp nhất cao 30m;
độ cao trung bình là 250m so với mực nƣớc biển.
Đặc điểm nổi bật là địa hình bị chia cắt tƣơng đối mạnh do nằm ở cuối
dãy Hoàng Liên Sơn, căn cứ vào địa hình, tỉnh Phú Thọ gồm 2 tiểu vùng:
Tiểu vùng núi miền núi: gồm các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên
Lập và một phần của hai huyện Cẩm Khê, Hạ Hòa có diện tích tự nhiên
khoảng 182.475 ha. Độ cao trung bình so với mặt nƣớc biển từ 200 – 500
m, tuy gặp một số khó khăn về giao thông, trình độ dân trí còn lại nhiều dân
tộc ít ngƣời nên việc khai thác tiềm năng nông lâm, khoáng sản…để phát
triển kinh tế xã hội còn hạn chế.
Tiểu vùng trung du, đồng bằng: gồm: thành Phố Việt Trì, thị xã Phú
Thọ, các huyện: Lâm Thao, Phù Ninh, Tam Nông, Thanh Thủy, Đoan
Hùng, Thanh Ba và một phần thuộc hai huyện Cẩm Khê, Hạ Hòa. Diện tích
tự nhiên khoảng 169.489 ha, có độ cao trung bình so với mặt nƣớc biển từ
50 – 200 m. Đây là tiểu vùng có kinh tế-xã hội phát triển.Tiềm năng nông lâm - khoáng sản đƣợc khai thác tƣơng đối triệt để. Đây cũng là nơi sản
7
xuất nhiều nông sản hàng hóa xuất khẩu nhƣ chè, đậu tƣơng, lạc, sản xuất
lƣơng thực, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm…
Khí hậu
Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có một mùa
đông khô và lạnh. Nhiệt độ trung bình năm là 23oC, số giờ nắng trong năm
là 3000 - 3200 giờ, tổng lƣợng nhiệt hàng năm khoảng 8000 oC, lƣợng mƣa
trung bình hàng năm trên toàn tỉnh là 1600 – 1800 mm/năm; độ ẩm trung
bình 85%.
Nhìn chung khí hậu của Phú Thọ phù hợp với việc sinh trƣởng, phát
chiếm 51,6%. Do diện tích đất dốc lớn đã đã gây cản trở cho việc bố trí sản
xuất nông lâm nghiệp, phát triển hạ tầng giao thông thủy lợi tốn kém, việc
giao lƣu kinh tế trong và ngoài tỉnh hiện còn gặp nhiều khó khăn.
Tỉnh Phú Thọ có 351.858 ha đất tƣ nhiên, trong đó có 95.971 ha đất
nông nghiệp (chiếm 28% diện tích đất tự nhiên), diên tích đất lâm nghiệp
có rừng là 134.888 ha (39%), diện tích đất chuyên dùng là 21.090 ha (6%),
diện tích đất chƣa sử dụng là 92.495 ha (27%).
Trong đất nông nghiệp: diện tích đất trồng cây hàng năm là: 59.235 ha
chiếm 61%; riêng đất lúa có 48.437 ha (81,7 % đất trồng cây hàng năm),
gieo trồng 2 vụ. Diện tích đất trồng cây lâu năm là 12.047 ha, chiếm 12, 57
%, diện tích đất có mặt nƣớc nuôi trồng thủy sản là 2.321 ha. Diện tích đất
trống đồi trọc cần phủ xanh là 68.836 ha, bãi bồi có thể sử dụng là 2438,1
ha.
Do có sự tiếp giáp giữa hai khu vực đồi núi và đồng bằng nên đất đai
khá đa dạng: đất phù sa, đất đồi núi, đất lầy thụt..thuận lợi cho việc phát
triển nhiều loại cây trồng, nhất là cây lƣơng thực, cây công nghiệp và cây
ăn quả.
9
Nhƣ vậy, với những thuận lợi về tự nhiên cho phép tỉnh có điều kiện
để phát triển nông nghiệp theo hƣớng đa dạng hóa các loại giống cây trồng,
vật nuôi. Ngoài ra, những thuận lợi về vị trí địa lí, địa hình, đất đai, giao
thông thuận lợi, tỉnh Phú Thọ còn có điều kiện để phát triển công nghiệp và
dịch vụ thƣơng mại. Hiện nay, kinh tế của tỉnh đang phát triển theo hƣớng
công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
1.1.1.2 Truyền thống lịch sử
* Truyền thống yêu nƣớc cách mạng
Phú Thọ từ xa xƣa đã đƣợc đƣợc xem là vùng Đất Tổ linh thiêng của
nƣớc, vừa tích cực tham gia lao động sản xuất để chi viện cho tiền tuyến
miền Nam. Những đóng góp to lớn ấy đã góp phần đƣa cuộc kháng chiến
trƣờng kỳ của ta đến thắng lợi cuối cùng, miền Nam đƣợc hoàn toàn giải
phóng, đất nƣớc ta hoàn toàn thống nhất.
* Truyền thống văn hiến
Phú Thọ có nền văn hoá rực rỡ từ lâu đời. Những di chỉ khảo cổ văn
hoá Sơn Vi, Đồng Đậu, Làng Cả và nhiều đình, chùa, lăng, tẩm,còn lại
quanh vùng núi Nghĩa Lĩnh cho thấy đất Phong Châu là một trung tâm văn
hoá của dân tộc Việt.
Nhân dân Phú Thọ không chỉ anh dũng trong chiến đấu mà còn sáng
tạo trong lao động sản xuất và phát triển kinh tế - văn hóa.
Dù sống dƣới ách đô hộ nghìn năm của chế độ phong kiến phƣơng
Bắc và hơn nửa thế kỷ dƣới ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật
nhƣng nhân dân Phú Thọ vẫn bảo tồn, giữ gìn đƣợc bản sắc văn hóa dân
tộc: những làn hát xoan, hát ghẹo, hát ví, ca trù…đƣợc biểu diễn trong các
dịp lễ, Tết.
Phú Thọ còn là mảnh đất của rất nhiều lễ hội truyền thống: Lễ hội Đền
Hùng (Thị xã Phú Thọ), Đền Mẫu Âu Cơ, Đền Nghè (Hạ Hòa), Hội chọi
trâu Phù Ninh, Lễ hội Gia Thanh…
11
Phú Thọ còn có nhiều điểm du lịch nổi tiếng: các danh lam thắng cảnh
đẹp nổi tiếng Ao Giời, Suối Tiên, Đầm Ao Châu (Hạ Hòa), Thác Chín tầng
(Tân Sơn)…; các địa điểm du lịch tâm linh: Đền Hùng (Thị xã Phú Thọ),
đền mẫu chùa Bồng Lai, Đền Tam Giang – Chùa Đại Bi…
Bên cạnh đó, nơi đây còn có nhiều làng nghề truyền thống: làng nghề
đan nón lá Sai Nga (huyện Cẩm Khê), làng ủ ấm Sơn Vi (Lâm Thao), làng
làm bún Hùng Lô (Việt Trì), nghề đan thúng Tùng Khê (Cẩm Khê ), nghề
kể thù xâm lƣợc. Từ đây, các phong trào yêu nƣớc chống Pháp theo trào
lƣu phong kiến và tƣ sản đã chuyển sang phong trào cách mạng vô sản do
Đảng lãnh đạo mà trực tiếp là Đảng bộ tỉnh Phú Thọ và đã góp phần xứng
đáng vào sự nghiệp cách mạng chung của cả dân tộc.
Năm 1945, dƣới sự lãnh đạo của Đảng với chỉ hơn hai chục Đảng
viên, Đảng bộ đã tập hợp rộng rãi đƣợc các tầng lớp nhân dân trong mặt
trận , kịp thời phát động toàn dân nổi dậy làm nên thắng lợi của cách mạng
Tháng Tám (1945) vĩ đại.
Từ cuối năm 1946 đến năm 1954, khi cuộc kháng chiến toàn quốc
bùng nổ với đội ngũ 280 đảng viên, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo nhân dân
trong tỉnh tiến hành cuộc kháng chiến trƣờng kỳ theo phƣơng châm “toàn
dân, toàn diện” của Đảng đã góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của dân
tộc. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơnevơ đƣợc ký kết
đã vĩnh viễn chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trên mảnh đất quê
hƣơng. Bằng những chiến công vang dội trong trận Sông Lô, Tu Vũ, Trạm
Thản, Chân Mộng đã in sâu vào trang sử hào hùng của quân đội nhân dân
Việt Nam cũng nhƣ lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ.
13
1.2 Chủ trƣơng của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp đáp ứng yêu
cầu xây dựng hậu phƣơng miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu
nƣớc
1.2.1 hủ trương của Đảng về lãnh đạo quá trình cải cách ruộng đất và
hàn gắn vết thương chiến tranh (1954-1957)
Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ đƣợc ký kết , miền Bắc nƣớc ta đƣợc hoàn
toàn giải phóng. Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới. Đảng chủ
trƣơng đƣa miền Bắc quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu
phƣơng để miền Nam tiếp tục chiến đấu chống đế quốc Mĩ và tay sai, hoàn
Trung ƣơng 8 (8 - 1955), Hội nghị Trung ƣơng 11 (12 - 1956), Hội nghị
Trung ƣơng 12 (3-1957).
Nghị quết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ƣơng khóa II ( 5 1955) nêu rõ chủ trƣơng: để củng cố miền Bắc, trƣớc hết phải hoàn thành cải
cách ruộng đất và coi đây là chính sách bất di bất dịch. Để đảm bảo cho công
cuộc cải cách giành đƣợc thắng lợi, Đảng xác định rõ phƣơng pháp tiến hành
là: “dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt trẽ với trung nừng nông, liên hiệp
với phú nông xóa bỏ chế độ chế độ chiếm hữu ruộng đất có từng bƣớc, có
nông nghiệp, có lãnh đạo” [12, tr.425 - 426].
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ƣơng khẳng định: cải cách
ruộng đất quan hệ đến củng cố miền Bắc, chẳng những đem lại quyền sở hữu
ruộng đất cho nông dân mà còn tạo điều kiện cho công cuộc khôi phục và
phát triển sản xuất, củng cố quốc phòng, củng cố cơ sở của Đảng và chính
quyền ở nông thôn [13,tr 419].
Ở miền Bắc, căn cứ vào hoàn cảnh thực tế và yêu cầu quyền lợi về
kinh tế, chính trị của nông dân, củng cố khối liên minh công-nông, mở rộng
mặt trận dân tộc thống nhất. Đảng và Chính phủ quyết định: “đẩy mạnh
phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất”, “cải tạo quan hệ sản
15
xuất, bƣớc đầu phát triển kinh tế xã hội” (1958-1960), trong đó có cải tạo
nông nghiệp.
Từ thực tiễn miền Bắc sau chiến tranh, Đảng và nhà nƣớc đã quyết
định thực hiện kế hoạch 3 năm (1955-1957), nhằm hàn gắn vết thƣơng
chiến tranh, khôi phục kinh tế. Trong quá trình thực hiện kế hoạch, Đảng và
Nhà nƣớc chủ trƣơng khuyến khích, vận động nhân dân tham gia các tổ đổi
công.Thông qua các hội nghị tổ đổi công toàn quốc lần thứ nhất (5/1955),
lần thức 2 (3/1955), lần 3 (5/1957). Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ƣơng Đảng lần thứ 8 khóa II, Đảng chủ trƣơng xây dựng một số hợp tác xã
“Dựa hẳn vào bần nông và trung nông lớp dƣới, đoàn kết chặt trẽ với trung
nông, hạn chế sự bóc lột kinh tế cho phú nông, cải tạo tƣ tƣởng cho phú
nông, ngăn chặn địa chủ ngóc đàu dậy; tiếp tục mở đƣờng cho địa chủ lao
động thành con ngƣời mới, kiên quyết đƣa nông dân vào con đƣờng hợp tác
hóa nông nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội” [15,tr.371].
Nguyên tắc: tự nguyện cùng có lợi, quản lý dân chủ và phƣơng châm
tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội đƣợc quán triệt
và thực hiện.
Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 10 (6/1959) xác định: “Hợp tác hóa
nông nghiệp là con đƣờng duy nhất đƣa nông dân tiến lên chủ nghĩa xã
hội”.
1.2.3.
hủ trương của Đảng trong thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm
lần thứ nhất (1961 -1965)
Tháng 9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã
đƣợc tổ chức.Đảng xác định đây là “Đại hội xây dựng xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nƣớc nhà”. Để xây dựng xã hội
chủ nghĩa miền Bắc, đại hội đề ra nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm (19611965) là: “Khi công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa giành đƣợc thắng lợi có
tính chất quyết định thì chúng ta cần chuyển sang lấy xây dựng xã hội chủ
17
nghĩa làm trọng tâm, thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, đồng thời
hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Chỉ có làm nhƣ vậy, miền
Bắc nƣớc ta mới có thể mau chóng có một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa”
[3,tr.125].
Về nông nghiệp, Đại hội III đã xác định phƣơng hƣớng phát triển
trọng thúc đẩy cách mạng Việt Nam tiến lên giành thắng lợi to lớn trên
chiến trƣờng. Để cứu nguy cho sự sụp đổ của ngụy quân, ngụy quyền, Mỹ
đã cho không quân và hải quân đánh phá miền Bắc. Để đối phó với tình
hình chiến sự ác liệt, từ năm 1965-1973, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội nói chung và nông nghiệp nói riêng ở miền Bắc chuyển từ thời bình
sang thời chiến.
Tại Hội nghị Trung ƣơng 11 Khóa II (3-1965) nhấn mạnh: Trƣớc
tình hình mới, vấn đề phát triển mạnh mẽ nông nghiệp ngày càng có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng hậu phƣơng tăng cƣờng
tiềm lực kinh tế và quốc phòng.
Đảng chủ trƣơng chuyển hƣớng xây dựng kinh tế phù hợp với tình
hình cả nƣớc đang có chiến tranh với đế quốc Mỹ [18, tr.312].
Tiếp đó hội nghị Trung ƣơng 12 Khóa III (12/1965), Đảng tiếp tục
khẳng định: Trong bất kỳ tình huống nào cũng phải đẩy mạnh sản xuất
nông nghiệp, đảm bảo sản xuất đủ lƣơng thực, thực phẩm để nuôi quân
đánh giặc và có dự trữ, đẩy mạnh cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác
xã, cải tiến kỹ thuật ở đồng bằng, trung du và miền núi, thâm canh tăng
năng suất. Sản xuất nông nghiệp đƣợc đặc biệt coi trọng, đẩy mạnh thâm
canh tăng năng suất cây trồng và vật nuôi.[18, tr.313].
Tháng 3/1966, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng đã ra thông tri số 176
về tiếp tục đẩy mạnh công cuộc vận động, cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật
19
vòng 2 nhằm uốn nắn những lệch lạc trong quá trình tiến hành quản lý cải
tiến hợp tác xã.
Trong quá trình cải tiến, bắt đầu hình thành chế độ ba khoán, hợp tác
xã trở thành đơn vị quản lý thống nhất, trong đội sản xuất là đơn vị nhận
khoán.