LUẬN VĂN:
Đảng lãnh đạo công tác đối với
người Việt Nam ở nước ngoài từ
năm 1986 đến năm 2005
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cách đây hàng trăm năm đã có những người Việt Nam đầu tiên ra nước ngoài
sinh sống. Từ đó đến nay đã hình thành một cộng đồng người Việt Nam gồm khoảng
2,7 triệu người ở gần 90 nước và vùng lãnh thổ. Về căn bản, cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài đang phát triển theo chiều hướng ổn định, hòa nhập vào xã hội nơi
cư trú và có nhiều hoạt động thiết thực nhằm duy trì bản sắc văn hóa dân tộc, hướng về
quê hương đất nước. Hiện tượng trên là một biểu hiện thông thường, phù hợp với quy
luật chuyển dịch dân cư trên thế giới. Vì những lý do khách quan và chủ quan của từng
nước, sự di chuyển dân cư này diễn ra nhiều hay ít ở những thời kỳ khác nhau, nhất là
trong những thời kỳ biến động lịch sử đặc biệt như đấu tranh giai cấp quyết liệt hay
chiến tranh. Ngày nay, khi mà thế giới đang chuyển biến nhanh chóng trong xu thế
toàn cầu hóa, quy luật này có thể trở nên phổ biến hơn, theo đó cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài sẽ có những phát triển mới về số lượng cũng như về tính đa dạng.
Vì những mục đích khác nhau tất cả các nước có người dân của mình sinh
sống ở nước ngoài đều có chính sách bảo hộ, hỗ trợ, vận động bộ phận dân cư này.
Đây không chỉ là việc làm có ý nghĩa về mặt tình cảm dân tộc, có tác động về chính
trị, văn hóa, xã hội và an ninh quốc gia, mà việc huy động tiềm năng của bộ phận dân
cư này vào mục tiêu xây dựng đất nước có ý nghĩa kinh tế to lớn. Riêng đối với Việt
Nam, lịch sử công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã gắn liền với lịch sử
cách mạng dân tộc từ gần một thế kỷ nay, đặc biệt được quan tâm và thúc đẩy từ khi
Đảng ra đời, in đậm dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ đã trực tiếp tiến hành
tổ chức và lãnh đạo công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Do những tác
mọi tiềm năng và lợi thế của kiều bào phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Chọn đề tài “Đảng lãnh đạo công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ
năm 1986 đến năm 2005” làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử, chuyên ngành
lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là góp phần tạo sự chuyển biến đối với công tác này
trong tình hình mới. Qua đó, đánh giá một cách khách quan những thành tựu, hạn chế
của công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần bổ sung, hoàn thiện
đường lối đổi mới của Đảng là hết sức cần thiết. Những kinh nghiệm rút ra từ việc
lãnh đạo thực hiện công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong những năm
1986-2005 có tác dụng thiết thực phục vụ cho việc tổng kết sự lãnh đạo của Đảng
trong những năm đổi mới đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu
Thực tiễn công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài gần một thế kỷ qua
bộc lộ tình hình sau: Trong khi những hoạt động thực tiễn là hết sức phong phú và hiệu
quả thì việc nghiên cứu về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và về công tác đối
với cộng đồng chưa được quan tâm đầy đủ, chưa theo kịp sự phát triển của tình hình.
Công tác hồ sơ tư liệu, ghi chép lịch sử, sự kiện không liên tục, chặt chẽ, việc đúc kết,
tổng kết để nêu lên những bài học kinh nghiệm chưa được chú trọng thúc đẩy. Thực tế
là cho đến nay có rất ít các công trình nghiên cứu về lĩnh vực công tác này kể cả ở
trong nước và ngoài nước.
Nghiên cứu những vấn đề về người Việt Nam ở nước ngoài có các công trình:
“Thuyền nhân Việt Nam định cư hay hồi hương” của Vũ Ngọc Bình, Nxb Chính
trị quốc gia, năm 1996. Trong cuốn sách, tác giả chủ yếu nghiên cứu những vấn đề về
người tị nạn trên thế giới; về thuyền nhân Việt Nam và quá trình ra đi cũng như hồi
hương của họ; về luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam đối với thuyền nhân. Cuốn
sách đã thống kê nhiều số liệu về người tị nạn trên thế giới và thuyền nhân Việt Nam.
Đặc biệt những số liệu về người Việt Nam vượt biên bằng đường biển, số người hồi
hương, số người còn trong các trại tị nạn ở Hồng Kông và một số nước Đông Nam á,
Cộng sản, Quê hương, Thông tin đối ngoại; trên các báo Nhân Dân, Đại đoàn kết, Tiền
phong…Đáng chú ý là các bài viết của tác giả Nguyễn Phú Bình như: “Tiềm năng
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài” (Tạp chí Quê hương, số 10, năm 2004),
“Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài và những bài học thực tế” (Tạp chí
Cộng sản, số 2, tháng 1-2005), “Những chuyển biến tích cực trong công tác vận động
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài năm 2005”(Tạp chí Cộng sản, số 2+3, năm
2006)…Trên sách, báo của người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều bài đề cập đến khía
cạnh này hay khía cạnh khác của vấn đề Đảng lãnh đạo công tác đối với người Việt
Nam ở nước ngoài, nhưng chưa có các công trình nghiên cứu khoa học, hệ thống. Một
số tác giả người nước ngoài cũng đã có những công trình về người Việt Nam ở nước
ngoài hoặc liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài. Tác giả Trần Trọng Đăng
Đàn, trong cuốn Người Việt Nam ở nước ngoài cho biết ở Pháp có nhà dân tộc học
Georges Boudarel, giáo sư đại học Pari VII, đã có một công trình nghiên cứu về người
Việt Nam ở nước ngoài và hoàn cảnh lưu vong của họ. ở Mỹ, ký giả Sonni Efron đã
thực hiện một phóng sự điều tra về thực trạng của cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ
sau 15 năm, đăng trên tờ “Los Angeles Times” năm 1990. Tại các nước thuộc Liên Xô
trước đây và Đông âu có giáo sư, tiến sĩ N.I.Niculin- nhà Việt Nam học nổi tiếng đã để
gần như suốt cả cuộc đời hơn 40 năm nghiên cứu khoa học của mình cho Việt Nam
trong đó có nhiều công trình nghiên cứu về Việt kiều tại đây…
Nhìn chung ở từng chừng mực về công tác đối với người Việt Nam ở nước
ngoài từ năm 1986 đến năm 2005 đã được đề cập trong những công trình kể trên. Tuy
nhiên cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào chuyên về Đảng lãnh đạo
công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ năm 1986 đến năm 2005.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn:
Nhận thức rõ vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và quan điểm,
chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về công tác đối với người Việt Nam ở nước
ngoài. Góp phần củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết giữa người
- Nguồn tư liệu để thực hiện luận văn này bao gồm:
+ Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX;
những chỉ thị, nghị quyết, quyết định, nghị định của Trung ương, Bộ Chính trị và
Chính phủ về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; về đại đoàn kết dân tộc;
về Mặt trận; về dân vận trong thời kỳ đổi mới.
+ Những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đã được công bố.
+ Báo Nhân Dân, báo Đại đoàn kết, tạp chí Cộng sản, báo Tiền phong, tạp chí
Quê hương điện tử...
- Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lô gích là chủ yếu.
Đồng thời kết hợp sử dụng một số phương pháp khác như thống kê, so sánh, đối chiếu
nhằm làm nổi bật quá trình lãnh đạo công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
của Đảng từ 1986 đến 2005.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Trình bày có hệ thống, làm rõ tính đúng đắn, nhất quán trong đường lối, chủ
trương, chính sách và tổ chức thực hiện công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
của Đảng từ 1986 đến 2005.
- Bước đầu nêu lên một số kinh nghiệm thực tiễn góp phần làm tốt hơn công tác
đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
luận văn được gồm 2 chương 5 tiết.
Chương 1
sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam
về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
(1986 – 1993)
1.1. tình hình cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
nữa.
Khái niệm kiều bào là khái niệm được sử dụng nhiều trong các nghị quyết của
Đảng, phát biểu của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Từ điển tiếng Việt năm 1997
nói “Kiều bào là người dân nước mình sinh sống ở nước ngoài”. Tuy nhiên trong thực
tế người ta không sử dụng kiều bào để chỉ những người Việt Nam đi lao động, học tập
có thời hạn ở nước ngoài.
Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài lần đầu tiên được giải thích
một cách chính thức trong Luật Quốc tịch Việt Nam 1998. Điều 2, Khoản 4 của Luật
nêu rõ: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc
Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” [63, tr.12]. Định nghĩa này
cũng chỉ mang tính ước lệ. Trong thực tế để xác định rõ quy chế định cư của người
Việt Nam ở nước ngoài, người ta thường phải xem xét trong từng trường hợp cụ thể
trên cơ sở các giấy tờ của đương sự, các mối quan hệ, luật pháp nước sở tại.
Khái niệm người Việt Nam ở nước ngoài được sử dụng phổ biến hiện nay. Năm
1993 Ban Việt kiều Trung ương cũng đổi tên thành ủy ban về người Việt Nam ở nước
ngoài. Điều 2, Khoản 3 Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 định nghĩa: “Người Việt Nam
ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam thường trú hoặc tạm trú ở
nước ngoài” [63, tr.12]. Có thể nói, đây là khái niệm rộng nhất, bao hàm tất cả các đối
tượng người Việt Nam không phụ thuộc vào yếu tố quốc tịch hay cư trú.
Trong thực tiễn chúng ta gặp nhiều khái niệm khác nhau để chỉ người Việt Nam
ở nước ngoài. Tuy nhiên, cho đến nay, một số khái niệm lại chưa được định nghĩa một
cách chính thức và đầy đủ. Tình trạng này đã gây không ít khó khăn trong công tác xây
dựng chính sách, trong thực tiễn áp dụng pháp luật cũng như trong công tác đối với
người Việt Nam ở nước ngoài. Thực tế này xuất phát từ tình trạng phức tạp về quốc
tịch của kiều bào. Vì vậy những khái niệm để chỉ người Việt Nam ở nước ngoài còn là
vấn đề cần được hệ thống, nghiên cứu hơn nữa và phải được luật hóa trong tương lai.
Trong luận văn này, để rút gọn khi viết và để sinh động trong cách trình bày, nhiều chỗ
vẫn sử dụng chữ “Việt kiều” hoặc “kiều bào” thay cho người Việt Nam ở nước ngoài.
1954-1975 số người Việt Nam ra nước ngoài tăng hơn, chủ yếu là để học tập và một
phần là ra đi để trốn quân dịch. Cho đến khi Mỹ thất bại ở miền Nam Việt Nam, toàn
bộ ngụy quyền, ngụy quân sụp đổ thì cả một làn sóng di cư ồ ạt từ Việt Nam ra nước
ngoài, mà trước hết là đến Mỹ, Canada, ôxtrâylia, Pháp…đã làm cho số lượng người
Việt Nam ở nước ngoài tăng vọt.
Những năm 1975-1980, cuộc di cư ồ ạt do thất bại của Mỹ ở Việt Nam đã trở
thành những đường dây vượt biên theo nhiều cách. Tiếp đó là số người đi ra nước
ngoài do sự kiện xung đột quân sự tại biên giới phía Bắc và những biến động tại
Campuchia, tại mặt trận biên giới Tây Nam; có một phần nhỏ đi bằng đường bộ,
nhưng chủ yếu đi bằng đường thủy và họ được gọi là “thuyền nhân”. Theo thống kê
của Cơ quan Cao ủy tị nạn Liên hợp quốc (UNHCR) thì từ năm 1975 đến năm 1991,
có hơn một triệu người Việt Nam di cư ra nước ngoài. Năm 1979 là năm có người ra đi
nhiều nhất (khoảng hơn 20 vạn người), trung bình có hơn 1,5 vạn mỗi tháng. Số người
này đến Hồng Kông, Thái Lan, Malaixia, Philippin, Inđônêxia, Nhật Bản và chính
quyền ở đây chỉ cho “tạm trú” trong các trại tị nạn để được chọn chuyển đi định cư ở
nước thứ ba. Và cũng theo UNHCR cho biết đến tháng 2-1985, các nước phương Tây
đã tiếp nhận 555.573 “thuyền nhân” từ các tỉnh, thành thuộc miền Nam Việt Nam.
Nhìn một cách tổng quát, lịch sử di dân của người Việt Nam ra nước ngoài gắn
chặt với lịch sử cùng những biến cố lớn của đất nước và của thế giới. Quá trình di dân
ra ngoài nước Việt Nam có kèm theo quá trình hồi hương của người Việt Nam từ nước
ngoài về nước (chúng tôi sẽ đề cập ở phần sau). Lịch trình di dân càng về sau càng sôi
động và đặt ra nhiều vấn đề mới không chỉ thuộc phạm vi quốc gia mà là cả quốc tế.
1.1.2. Thực trạng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một cộng đồng phức tạp về thành
phần xã hội, xu hướng chính trị, địa vị pháp lý, thế hệ và đa dạng về nghề nghiệp, tôn
giáo, dân tộc… Sự phức tạp này cũng rất khác nhau giữa các địa bàn và thể hiện dưới
những nét chủ yếu sau:
-Số lượng, phân bố: tính đến năm 2004 có khoảng 2,7 triệu người Việt Nam
Thời gian qua, mặc dù tình hình thế giới có nhiều biến động, song cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài vẫn đang phát triển theo xu hướng ngày càng ổn định
cuộc sống và hòa nhập vào xã hội nơi cư trú; chịu ảnh hưởng của nền văn hóa và pháp
luật nước sở tại; có vị trí, ảnh hưởng nhất định ở nơi cư trú và có tác động ở mức độ
khác nhau trong mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước có đông người Việt Nam
sinh sống. Bên cạnh đó, trong những năm qua hàng trăm nghìn người Việt Nam đã ra
nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp, đoàn tụ gia đình, hình thành nên các cộng
đồng người Việt Nam tại một số địa bàn mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,
Malaixia… Trong quá trình định cư, kiều bào phải đối mặt với không ít khó khăn, thử
thách, để tạo dựng cơ nghiệp, chăm lo cho con cái học hành, tích lũy vốn liếng làm ăn
và dành dụm một phần để giúp đỡ người thân trong nước.
- Về quy chế pháp lý: Đánh giá chung về cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài cho thấy, tại các nước có đông người Việt Nam sinh sống, phần lớn thủ tục xin
nhập quốc tịch ít phức tạp, do nhu cầu làm ăn, sinh sống, tỷ lệ người Việt Nam đã có
quốc tịch nước sở tại khá cao, hiện có khoảng 80% kiều bào ở Mỹ, Pháp,
ôxtrâylia…đã nhập quốc tịch nước sở tại. Những người chưa có quốc tịch sở tại đều
hưởng quy chế định cư hoặc tạm cư. Số người bất hợp pháp ít. Định cư lâu dài và gia
nhập quốc tịch nước sở tại sẽ tiếp tục gia tăng trong cộng đồng người Việt Nam ở các
nước phát triển. Điều này giúp cho người Việt Nam có cơ hội thành đạt hơn, sẽ xuất
hiện nhiều người giàu có, nhiều người có bằng cấp khoa học và giữ các chức vụ cao
trong hệ thống chính trị của nước sở tại.
Bên cạnh đó, chỉ có một bộ phận người Việt Nam ở Nga và các nước Đông âu
có quy chế định cư, số có quốc tịch không đáng kể, vẫn còn nhiều người không có quy
chế định cư hoặc giấy tờ hợp pháp. Người Việt Nam tại các nước này, tuy đã đạt được
một số thành tựu kinh tế ban đầu, nhưng số đông vẫn chưa xác định lập nghiệp, định
cư lâu dài; thêm vào đó, một số người mới sang thăm thân nhân, du lịch ở lại bất hợp
pháp, càng làm cho cộng đồng có những diễn biến phức tạp, trong chừng mực nhất
định ảnh hưởng tới quan hệ song phương.
cầu nối hợp tác giữa doanh nghiệp nước ngoài với trong nước, góp phần thu hút thêm
đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam.
- Tiềm năng về trí thức khoa học và công nghệ: nhiều nguồn tài liệu nêu con số
hiện có khoảng 300.000 chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài (chiếm xấp
xỉ 10-15% cộng đồng) bao gồm người được đào tạo ở trình độ đại học và công nhân kỹ
thuật bậc cao ở các nước công nghiệp phát triển, có kiến thức cập nhật về văn hóa,
khoa học và công nghệ, về quản lý kinh tế. Trong đó một số người có vị trí quan trọng
trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh và các tổ
chức quốc tế. Tiềm lực về khoa học và công nghệ của thế hệ người Việt Nam ở nước
ngoài không ngừng phát triển; trong đó một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc
Việt Nam đang hình thành và phát triển, nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu và châu
úc. Đội ngũ này tập trung ở nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế mũi
nhọn như: tin học, viễn thông, điện tử, sinh học, quản lý kinh tế, chứng khoán… Ước tính
ở Mỹ hiện có hơn 150.000 trí thức người Việt, Pháp khoảng 40.000, Canada hơn 20.000,
Ôtxtrâylia có 7.000. Trong khi đó ở các nước Đông Âu chỉ còn khoảng 5.000 trí thức, số
đông đã chuyển sang hoạt động kinh doanh, ít người còn làm nghề gắn với chuyên môn
được đào tạo [19, tr.77].
- Về đời sống văn hóa tinh thần: người Việt Nam ở nước ngoài là một cộng
đồng không nhỏ, có những nơi tập trung cao như ở Mỹ, Canada, ôxtrâylia, Pháp, Lào,
Campuchia, Thái Lan…là môi trường thuận lợi cho việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc, các sinh hoạt lễ hội truyền thống và tiếng Việt. Từ trước tới nay, các sinh hoạt lễ
hội truyền thống và việc dạy tiếng Việt chủ yếu do các hội đoàn trong cộng đồng đứng
ra tổ chức, chưa có sự hỗ trợ tích cực từ phía trong nước. Nên nhìn chung, các hoạt
động văn hóa dân tộc còn nghèo nàn, thiếu sinh động; mặt khác, một số hoạt động này
ở một số nước phương Tây còn mang màu sắc chính trị chống đất nước, do bị bọn
phản động người Việt khống chế, lũng đoạn.
Có khoảng 750 người Việt Nam ở nước ngoài hoạt động trên các lĩnh vực văn
học, nghệ thuật (số liệu thống kê từ giữa những năm 90) tại các vùng kiều dân Việt
với quá khứ “vượt biên”, thành kiến nặng nề hoặc thiếu hiểu biết về chế độ mới, một
số ít còn mang trong mình tư tưởng hận thù cách mạng. Có thể nói, đây là đặc thù khá
điển hình của cộng đồng người Việt so với nhiều cộng đồng kiều dân khác trên thế
giới (nhiều cộng đồng kiều dân có ít hoặc thậm chí không có sự đối lập về chính trị với
Tổ quốc gốc của họ).
Trong những năm qua, các thế lực thù địch bên ngoài, đứng đầu là Mỹ tìm mọi
cách thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam. Được sự tiếp tay ủng
hộ của các thế lực cực hữu nước sở tại, tổ chức phản động chống cộng cực đoan đã lôi
kéo, thâm nhập, lũng đoạn phần lớn các tổ chức, hội đoàn của người Việt (trong cộng
đồng hiện có khoảng 695 tổ chức hội đoàn; 415 tờ báo, tạp chí; 46 đài phát thanh và
truyền hình bằng tiếng Việt; 74 nhà xuất bản của người Việt); chúng nắm hầu hết các
phương tiện thông tin đại chúng, khống chế phần lớn dư luận trong cộng đồng, triệt để
khai thác chiêu bài “tự do, dân chủ, nhân quyền”, hằng ngày tuyên truyền lặp đi lặp lại
những luận điệu xuyên tạc, bôi xấu chế độ ta. Trong khi đó do nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan, công tác thông tin đối ngoại của ta còn nhiều hạn chế chưa
thâm nhập được sâu rộng trong cộng đồng, nhất là những nơi tập trung đông người
Việt sinh sống ở các nước phương Tây.
Sống trong hoàn cảnh môi trường như vậy, nhiều người Việt Nam ở nước ngoài
không có cơ hội tiếp xúc với thông tin thật, nên chưa hiểu đúng về thực trạng tình hình
đất nước, còn hoài nghi về công cuộc đổi mới, về chính sách đoàn kết dân tộc cũng
như các chính sách khác của Đảng và Nhà nước ta đối với kiều bào. Phần lớn những
người chưa về nước lần nào đều giữ trong mình một hình ảnh đất nước Việt Nam
nghèo khó sau chiến tranh, họ không hình dung được những thay đổi lớn lao của đất
nước thời gian qua.
Một thực tế khách quan không thể phủ nhận là, người Việt Nam ở nước ngoài
tuy sống xa Tổ quốc nhưng vẫn mang trong mình tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự
tôn dân tộc, luôn hướng về cội nguồn, dòng tộc, có tình cảm gắn bó với gia đình, quê
hương xứ sở và đã có đóng góp công sức, của cải và cả xương máu cho sự nghiệp đấu
xuyên tạc các “vụ việc” xảy ra ở một số địa phương như Thái Bình, Đồng Nai, Tây
Nguyên; xuyên tạc hoặc tuyên truyền sai trái về xử lý của ta đối với một số nhân vật
như Nguyễn Đan Quế, Trần Độ, Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Lê Quang
Liêm, Nguyễn Văn Lý...; đưa các đối tượng được ta đặc xá đi tuyên truyền vu cáo ta ở
các nơi; liên kết các tổ chức phản động ở một số địa bàn để tổ chức hội nghị, hội thảo
về nhân quyền chống Việt Nam, tìm cách tham gia phát biểu tại các diễn đàn, gửi
kháng thư cho Liên Hợp quốc, tiếp xúc vận động hoặc gửi thư đến các nghị sĩ Quốc
hội Mỹ và các nước phương Tây lên án ta vi phạm nhân quyền, kêu gọi có biện pháp
can thiệp đối với ta; đòi cho phép treo cờ ngụy tại nơi công cộng ở một số thành phố
có đông người Việt Nam sinh sống; tìm cách móc nối, kích động các phần tử chống
đối, “bất đồng chính kiến”, tạo dựng ngọn cờ, gây rối chính trị ở trong nước; âm mưu
công khai hóa, hợp pháp hóa các tổ chức chính trị chống đối và quốc tế hóa các vụ
việc phức tạp trong nước; phát tán rất nhiều tài liệu phản động, đồi trụy vào trong
nước.
Nguy hiểm hơn là các tổ chức phản động cực đoan đã tiến hành một số vụ
chống đối quyết liệt, mang tính chất khủng bố, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng và
tài sản của các cơ quan đại diện ta, như vụ đặt bom ở cơ quan đại diện ta tại Thái Lan,
Philippin; đe dọa đặt bom tàu biển chở gạo từ Việt Nam tới Trung Đông; gây nổ ở
ngoài tường cơ quan đại diện ta tại Campuchia; đốt phá cơ quan đại diện ta tại Anh,
Pháp; rồi vụ ép buộc máy bay của Thái Lan vào rải truyền đơn trên vùng trời thành
phố Hồ Chí Minh…
Mục tiêu hoạt động của các tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài là, cố
gắng tạo ra một hình ảnh xấu về Việt Nam trong dư luận cộng đồng quốc tế và kiều
bào, cản trở các hoạt động đối ngoại của ta, làm xói mòn lòng tin của quần chúng đối
với sự lãnh đạo của Đảng, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân, làm mất ổn định về
chính trị xã hội, đi đến bạo loạn lật đổ chế độ. Một số tổ chức phản động tích cực hoạt
động theo dạng này là: Uỷ ban cứu trợ người vượt biên của Nguyễn Đình Thắng;
mạng lưới nhân quyền của Nguyễn Thanh Trang (Mỹ); Uỷ ban bảo vệ quyền làm
người Việt Nam của Võ Văn ái, Văn phòng liên lạc các hội đoàn người Việt tự do của
Tuy nhiên, bên cạnh xu thế chủ yếu đó,
Người Việt Nam ở một số nước còn khó khăn trong việc ổn định cuộc
sống, chưa được hưởng quy chế rõ ràng, thậm chí ở một số nơi còn bị kỳ
thị, đời sống vật chất còn gặp nhiều khó khăn. Một bộ phận chưa có dịp về
thăm đất nước, tận mắt thấy được những thành tựu của công cuộc đổi mới
hoặc do thành kiến, mặc cảm nên chưa hiểu đúng về tình hình đất nước.
Một số rất ít đi ngược lại lợi ích của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá
hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam. Tính liên kết cộng
đồng, sự gắn bó giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng chưa cao. Còn thiếu các
biện pháp duy trì, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, việc
gìn giữ tiếng Việt và bản sắc dân tộc trong thế hệ trẻ còn khó khăn, nhu cầu
giao lưu văn hóa cộng đồng với đất nước, giữ gìn và phát triển tiếng Việt
trong cộng đồng là rất lớn và trở nên bức thiết, song chưa được đáp ứng
đúng mức. Sự đóng góp của bà con vào xây dựng đất nước, nhất là về tri
thức, chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở
nước ngoài [37, tr.5].
Thực trạng người Việt Nam ở nước ngoài về cơ bản thể hiện trên những mặt
mạnh và yếu sau: kiều bào phân bố rộng, phức tạp về thành phần xã hội nhưng luôn
mang trong mình tinh thần yêu nước, luôn hướng về quê hương xứ sở. Cộng đồng
đang phát triển theo xu hướng ngày một ổn định và hòa nhập vào xã hội sở tại, có tiềm
năng về tri thức, kinh nghiệm quản lý, vốn và công nghệ. Ngày càng có đông đảo kiều
bào hoan nghênh và ủng hộ công cuộc đổi mới trong nước và sẵn sàng đóng góp xây
dựng quê hương. Tuy vậy việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong cộng
đồng có phần bị quên lãng, đặc biệt là tiếng Việt bị mai một theo thời gian. Thế hệ trẻ
người Việt Nam ở nước ngoài thành đạt, có trình độ về chuyên môn, khoa học, kỹ
thuật nhưng lại ít hiểu biết về đất nước, về văn hóa dân tộc và tiếng Việt. Một số nhỏ
còn có thái độ chính trị tiêu cực đối với đất nước. Thực chất các tổ chức phản động
người Việt ở nước ngoài được sự tiếp tay của các thế lực thù địch, luôn tìm mọi cách
đỏ Việt Nam và Thái Lan. Đây là lần đầu tiên một cơ quan chuyên trách về công tác
kiều bào của Nhà nước được thành lập, đánh dấu một bước tiến mới trong công tác đối
với người Việt Nam ở nước ngoài. Trong thời gian từ năm 1960 đến 1964 đã có
khoảng 45.000 kiều bào ở Thái Lan được đón tiếp hồi hương về nước. Cũng trong thời
gian này phong trào Việt kiều ở Campuchia, Pháp, Thái Lan… được tăng cường, trở
thành cầu nối phát triển công tác vận động kiều bào ra các địa bàn khác, thiết lập được
hệ thống nhiều tổ chức quần chúng có sự chỉ đạo, liên hệ chặt chẽ từ cơ sở đến trung
ương. Hình thành nhiều nhóm cốt cán và phong trào Việt kiều yêu nước vận động kiều
bào ủng hộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất đã tạo niềm phấn khởi với
đông đảo kiều bào yêu nước. Nhiều tổ chức Việt kiều yêu nước ra hoạt động công khai
và đổi tên thành Hội người Việt Nam tại Pháp, Mỹ, Canada, Đức…Cũng trong giai
đoạn này số lượng Việt kiều tăng nhanh chóng do nhiều người di tản sau chiến tranh.
Thành phần cộng đồng cũng thay đổi mạnh, với nhiều người có quan hệ với chính
quyền cũ hoặc gắn bó quyền lợi với chế độ thực dân, thù hận, mặc cảm với chính
quyền cách mạng. Các tổ chức phản động người Việt, được sự tiếp tay của các thế lực
thù địch nước ngoài mọc lên như nấm, chống phá quyết liệt, tìm cách phục quốc.
Giai đoạn từ năm1979 đến 1981 là giai đoạn khó khăn của công tác đối với
người Việt Nam ở nước ngoài. Làn sóng người di tản, vấn đề “thuyền nhân” tác động
mạnh cả trong và ngoài nước. Tâm tư kiều bào và nhận thức của trong nước có nhiều
biến động, xuất hiện tâm lý đề phòng, quản lý chặt chẽ đối với Việt kiều và thân nhân.
Ban Việt kiều Trung ương đã tích cực hoạt động để giữ vững phong trào Việt kiều yêu
nước, đồng thời phối hợp với các cơ quan liên quan chống các tổ chức phản động
người Việt “chuyển lửa về quê hương”. Ngày 4-10-1982, Ban Bí thư Trung ương
Đảng ra Chỉ thị số 09/CT-TW về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài,
trong đó nhấn mạnh: Phong trào Việt kiều yêu nước là một lực lượng quần chúng cách
mạng Việt Nam ở nước ngoài, là chỗ dựa của Đảng và Nhà nước ta trong công tác vận
động đồng bào ta ở nước ngoài, là người trợ thủ trên mặt trận chính trị và ngoại giao
tư nước ngoài khác, ngoài ra được hưởng một số ưu đãi dành riêng cho người Việt
Nam định cư ở nước ngoài như: được giảm 20% thuế lợi tức phải nộp so với đầu tư
của nước ngoài, mức thuế chuyển lợi nhuận ra ngoài là 5% (đầu tư nước ngoài từ 710%); khi về nước chuẩn bị cho việc đầu tư, kiều bào được cấp thị thực nhập cảnh có
giá trị nhiều lần, trong thời hạn từ 3 tháng đến 6 tháng và có thể ra hạn từng 6 tháng
một; trường hợp về nước để thực hiện giấy phép đầu tư kinh doanh được cấp thị thực