TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
Xác định các cơ hội và thách thức đối với Beeline tại thị trường Việt Nam năm 2011
MỤC LỤC
Chương 3. CƠ SƠ LÝ THUYẾT.....................................................................................5
Xác định các cơ hội và thách thức đối với Beeline tại thị trường Việt Nam năm 2011
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHNN: Ngân hàng nhà nước.
BTTTT: Bộ thông tin và truyền thông.
USD: Đô la Mỹ.
TT: Thông tư.
UBND: Ủy ban nhân dân.
GDP: Thu nhập bình quân trên đầu người.
Xác định các cơ hội và thách thức đối với Beeline tại thị trường Việt Nam năm 2011
Chương 1. GIỚI THIỆU
1.1. Cơ sở hình thành đề tài
Ngày nay, Việt Nam ngày càng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Yếu tố cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp trong nước cũng đã gay gắt, thì sự thâm nhập của các
doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường Việt Nam làm cho môi trường kinh doanh
ngày càng quyết liệt hơn nữa.
Đặc biệt, thị trường viễn thông của nước ta tiếp tục có những bước tiến khá nổi
bật. Sự cạnh tranh khá sôi động của các nhà mạng hiện nay đã làm cho thị trường viễn
Trang 1
Xác định các cơ hội và thách thức đối với Beeline tại thị trường Việt Nam năm 2011
Chương 2. GIỚI THIỆU VỀ BEELINE
2.1. Quá trình hình thành của Beeline
Được thành lập từ năm 1993, sau 16 năm hoạt
động, Beeline được đánh giá là một trong những
thương hiệu mạnh nhất trên thế giới. Năm 2005,
Beeline đã tiến hành một cuộc cải cách thương hiệu
và một chiến dịch ra mắt mới gắn với phương châm
“tươi sáng”, “thân thiện”, “hiệu quả”, “đơn giản” và
“tích cực”. Cuộc cải cách này đã mang lại những
thành công lớn cho Beeline. Từ đó, hình ảnh Beeline
với hình tròn hai sọc vàng, đen xen kẽ đã trở nên
quen thuộc với người dân trên toàn thế giới.
Tháng 4/2009, Beeline được đánh giá là một trong 100 thương hiệu đắt giá nhất
toàn cầu. Nằm ở vị trí thứ 72, thương hiệu Beeline ước tính có trị giá lên tới 8,9 tỉ
USD.
Trước khi vào Việt Nam, VimpelCom với thương hiệu Beeline đã có mặt tại một
số quốc gia ở Đông Âu và Trung Á, hoạt động tại các địa bàn với tổng số dân lên tới
340 triệu người, sở hữu 62,7 triệu thuê bao di động thực. Beeline cũng được đánh giá
là một trong 100 thương hiệu đắt giá nhất toàn cầu.
Từ một tập thể khoa học thử nghiệm nhỏ, năm 1992, VimpelCom đã chính thức
thành lập và nhanh chóng phát triển lớn mạnh. Đây là công ty đầu tiên tại Nga chào
sàn trên sàn giao dịch chứng khoán New York, sàn giao dịch lớn nhất thế giới. Hiện
nay, doanh thu của VimpelCom đã đạt gần 30 tỷ đô la và tài sản cá nhân của ông
Zimin ước chừng 450 triệu đô.
Năm 1992, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Matxcơva cho vay tiền để thành lập
2.2. Beeline vào trường Việt Nam
Được thành lập ngày 08/07/2008 trên
cơ sở thỏa thuận hợp tác giữa Tổng công ty
Viễn thông Di động Toàn cầu và Tập đoàn
VimpelCom - một trong những Tập đoàn
Viễn thông hàng đầu ở Đông Âu và Trung Á,
GTEL Mobile là công ty liên doanh chuyên
cung cấp các dịch vụ thoại và truyền số liệu
trên công nghệ GSM/EDGE.
Sự ra đời của GTEL Mobile xuất phát
từ thỏa thuận thành lập một liên doanh viễn
thông tại Việt Nam được ký kết với tập đoàn
VimpelCom vào cuối năm 2007. GTEL
Mobile không chỉ là một doanh nghiệp hoạt
động vì mục đích kinh tế đơn thuần mà đây
còn là sự kết hợp các nhân tố quốc tế nhằm
mang lại trào lưu và phong cách truyền thông
mới cho người dân Việt Nam.
Để triển khai hệ thống mạng GSM, GTEL Mobile đã hợp tác với rất nhiều công
ty viễn thông nổi tiếng. Trong đó, phải kể đến những công ty hàng đầu thế giới như:
Alcatel Lucent, Ericsson, Huawei, Comverse, Avaya và IBM. GTEL Mobile sẽ sử
dụng thương hiệu “Beeline Việt Nam” để ra mắt tại thị trường viễn thông Việt Nam.
GTEL Mobile, mạng điện thoại di động liên doanh quốc tế đầu tiên giữa tập đoàn
Vimpelcom (Nga) và GTel (Việt Nam) vừa chính thức ra mắt tại Việt Nam với thương
hiệu Beeline đã gây nên một cơn sốt mới.
Beeline gia nhập thị trưởng viễn thông Việt Nam bằng hai gói cước Big Zero vào
ngày 08/03/2010 Beeline lai tiếp tục gây tiếng vang khi đưa ra gói cước Big Cool với
gói cước đã gây sốc với nhiều người.
Hiện nay, Beeline có các đại lý, của hàng ủy quyền và các nhà bán lẻ sim, thẻ cào
đều được phân phối rộng rãi. Tính đến ngày 26/10/2010, Beeline đã phủ sóng được
Các yếu tố chủ yếu của môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố như nhân khẩu,
kinh tế, chính trị - pháp luật, văn hóa – xã hội, điều kiện tự nhiên, công nghệ.
3.2.1. Nhân khẩu
Qui mô và tốc độ tăng dân số là khía cạnh quan trọng tác động tới mô hình nhu
cầu. Thông thường, qui mô của một vùng, một khu vực, một quốc gia càng lớn thì báo
hiệu một qui mô thị trường càng lớn. Bất kỳ các công ty nào, kể cả công ty sản xuất,
dịch vụ hay tiêu dùng đều bị hấp dẫn bởi thị trường lớn.
Tốc độ tăng dân số là qui mô dân số được xem xét ở trạng thái động. Dân số tăng
nhanh, chậm hay giảm sút là chỉ số báo hiệu triển vọng tương ứng của qui mô thị
trường tương lai.
3.2.2. Kinh tế
Các nhà quản trị cần phải biết đánh giá tình trạng nền kinh tế trong thời gian
trước mắt và lâu dài. Điều này đặc biệt đúng khi lập các kế hoạch marketing. Các yếu
tố kinh tế như: tỷ lệ lãi suất của các ngân hàng, tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp, thu nhập
của người dân (triển vọng GDP tính trên đầu người, mức tiền lương tối thiểu…) đều
tác động tới hoạt động marketing.
3.2.3. Tự nhiên
Những biến đổi của môi trường tự nhiên ngày càng được thế giới quan tâm, tùy
từng doanh nghiệp mà mức độ ảnh hưởng khác nhau. Hiện nay, người tiêu dùng, các
tổ chức kinh doanh ngày càng quan tâm đến sản phẩm, dịch vụ thân thiện hơn với môi
trường.
3.2.4. Khoa học kỹ thuật
Khoa học kỹ thuật là một yếu tố cực kỳ quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh cho
doanh nghiệp, nó là động lực chính trong toàn cầu hóa. Khoa học kỹ thuật cho phép
các sản phẩm, dịch vụ được sản xuất với giá rẻ hơn và tiêu chuẩn chất lượng cao, cung
cấp cho người tiêu dùng và doanh nghiệp các sản phẩm và dịch vụ mới hơn…
2
Tham khảo từ: />%C4%A9_m%C3%B4 (đọc ngày 06/04/2011).
xem xét bản chất hành vi tham gia thị trường, ở đâu có sự trao đổi, buôn bán, có sự lưu
thông hàng hoá thì ở đó có thị trường. Đây là cách hiểu thị trường gắn với yếu tố địa lý
của hành vi tham gia thị trường, đòi hỏi phải có sự hiệp hữu của đối tượng được đem
ra trao đổi.
Nơi mua bán xảy ra đầu tiên là ở chợ, sau này mở rộng hơn về không gian thì
khái niệm nơi mua bán cũng mở rộng hơn như ở cửa hàng, cửa hiệu cố định, siêu thị,
Trung tâm thương mại…
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thị trường là các hiện tượng kinh tế được phản ánh
thông qua trao đổi và lưu thông hàng hoá cùng với các quan hệ kinh tế giữa người và
người trong quá trình trao đổi, mua bán hàng hoá và các dịch vụ.
Thị trường là tổng thể những thoả thuận, cho phép những người bán và người
mua trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Như vậy, thị trường không nhất thiết phải là một địa
điểm cụ thể như cách hiểu theo nghĩa hẹp trên. Người bán và người mua có thể không
trực tiếp trao đổi, mà có thể qua các phương tiện khác để thiết lập nên thị trường. Theo
David Begg, thị trường là tập hợp các sự thoả thuận thông qua đó người bán và người
mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Theo cách hiểu này thì người
ta nhấn mạnh đến các quan hệ trao đổi cũng như thể chế và các điều kiện thực hiện
việc mua bán.
4
Tham khảo từ: (đọc ngày 06/04/2011).
Trang 6
Xác định các cơ hội và thách thức đối với Beeline tại thị trường Việt Nam năm 2011
Trong nền kinh tế hiện đại, thị trường được coi là biểu hiện thu gọn của quá trình
mà thông qua đó các quyết định của các gia đình về tiêu dùng mặt hàng nào, các quyết
định của các Công ty về sản xuất cái gì?, sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? các
CÔNG TY BEELINE
4.1. Phân tích môi trường vĩ mô
4.1.1. Yếu tố kinh tế 6
4.1.1.1. Tăng trưởng kinh tế
Năm 2010, kinh tế của Việt Nam tiếp tục có sự phục hồi nhanh chóng sau tác
động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tốc độ tăng GDP quý I đạt 5,83%, quý II là
6,4%, quý III tăng lên 7,14% và dự đoán quý IV sẽ đạt 7,41%. Uớc tính GDP cả năm
2010 có thể tăng 6,7%, cao hơn nhiệm vụ kế hoạch (6,5%). Trong bối cảnh kinh tế thế
giới vẫn phục hồi chậm chạp và trong nước gặp phải nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam
đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao như trên là một thành công cho đất nước,
một số doanh nghiệp trong và ngoài nước .
Thời gian qua cũng là giai đoạn thành phố Long Xuyên tăng tốc về xây dựng,
chỉnh trang và phát triển đô thị, tạo sự thay đổi nhanh, đáp ứng yêu cầu xây dựng đô
thị văn minh và hiện đại. Thành phố Long Xuyên phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh
tế 14,5%.
Thành phố Long Xuyên là một thành phố thuộc tỉnh An Giang, đồng thời cũng
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật của vùng đồng bằng sông
Cửu Long. Tại Kỳ họp thứ 17, Hội đồng Nhân dân thành phố đã đánh giá kết quả thực
hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội năm 2010 và quyết định phương hướng nhiệm
vụ trọng tâm năm 2011. Dự kiến năm 2011, thành phố phấn đấu đạt mức tăng trưởng
14,5%; thu ngân sách đạt 395 tỷ đồng, thu nhập bình quân/người đạt 49 triệu
đồng/năm, giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 0,5%, thực hiện các chương trình kích cầu của
Chính phủ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ sở tiếp cận nhanh các nguồn vốn
vay và sử dụng hiệu quả.
4.1.1.2. Đầu tư
Kinh tế phục hồi là một nguyên nhân quan trọng trong việc thúc đẩy đầu tư phát
triển. Nguồn vốn đầu tư toàn xã hội năm 2010 đã đạt được những kết quả tích cực.
Ước tính tổng đầu tư toàn xã hội năm 2010 đạt 800 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với
năm 2009 và bằng 41% GDP. Trong đó, nguồn vốn đầu tư của tư nhân và của dân cư
dẫn đầu bằng 31,2% vốn đầu tư toàn xã hội, nguồn vốn đầu tư nhà nước (gồm đầu tư
Trong nhiều năm trở lại đây, Ngân hàng nhà nước (NHNN) kiên trì chính sách
ổn định đồng tiền Việt Nam so với đồng đô la Mỹ. Diễn biến tỷ giá trong năm 2010 là
khá phức tạp. Mặc dù NHNN đã điều chỉnh nâng tỷ giá liên ngân hàng hai lần vào
tháng 2 và tháng 10, khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do
luôn ở mức cao. Tỷ giá chính thức có thời điểm thấp hơn tỷ giá trên thị trường tự do
tới 10%. Đến cuối tháng 11 năm 2010, tỷ giá trên thị trường tự do đã đạt mức 21.500
đồng/USD.
4.1.1.5. Thu chi ngân sách
Năm 2010, tình hình kinh tế trong nước chuyển biến tích cực đã tạo điều kiện để
tăng thu ngân sách nhà nước. Thu ngân sách nhà nước năm 2010 ước đạt 520.100 tỷ
đồng, vượt 12,7% so với dự toán, tăng 17,6% so với năm 2009, và đạt tỷ lệ động viên
vào ngân sách nhà nước là 26,7%. Mặc dù tỷ trọng thu nội địa có tăng nhưng chiếm tỷ
trọng không lớn (khoảng 60%). Việc chấp hành kỷ luật ngân sách không nghiêm, thất
thu, gian lận, nợ đọng thuế, kể cả thuế nội địa và thuế xuất nhập khẩu còn lớn. Số nợ
thuế chờ xử lý (chiếm hơn 20% tổng số nợ thuế) tăng khá nhiều.
4.1.1.6. Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại
Năm 2010, xuất nhập khẩu khẩu của Việt Nam có nhịp độ tăng trưởng đáng
khích lệ trong bối cảnh kinh tế của những nước vốn là thị trường xuất khẩu lớn của
Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, EU vẫn phục hồi chậm chạp. Tổng kim ngạch xuất khẩu
năm 2010 ước đạt khoảng 70,8 tỷ USD, tăng 24,9% so với năm 2009. Xuất khẩu tăng
là do sự đóng góp lớn của những mặt hàng công nghiệp chế biến cộng với sự phục hồi
của kinh tế thế giới làm cho xuất khẩu hàng nông, lâm, thủy sản được lợi về giá.
4.1.1.7. Cán cân thanh toán
Nếu như năm 2009, cán cân thanh toán tổng thể thâm hụt 8,8 tỷ USD, thì năm
2010 đã có sự cải thiện đáng kể. Phần thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai năm 2010
trên thực tế có thể được bù đắp hoàn toàn bởi thặng dư trong cán cân tài khoản vốn.
Trang 9
Xác định các cơ hội và thách thức đối với Beeline tại thị trường Việt Nam năm 2011
Thứ ba, bội chi ngân sách cũng là áp lực cần giải quyết. Với mức bội chi cao và
nếu nguồn vốn bù đắp ngân sách chủ yếu từ thị trường vốn trong nước, mặt bằng lãi
suất sẽ chịu áp lực của nhu cầu vốn, mà đầu tiên là lãi suất tiền gửi ngân hàng… Bội
chi vẫn là thách thức khi chưa có những biện pháp nghiêm khắc và cụ thể để giải quyết
thông qua việc nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước và tiết kiệm chi
thường xuyên. Trong bối cảnh thâm hụt, cơ cấu chi, hiệu quả chi và khả năng kiểm
soát chi thể hiện dấu hiệu thiếu bền vững của ngân sách bởi các khoản chi tiêu của
chính phủ không tạo nên nguồn thu trong tương lai và gây sức ép cho bội chi mới.
Thứ tư, đồng nội tệ sẽ tiếp tục bị áp lực giảm giá trong thời gian tới vì lạm phát
của Việt Nam luôn ở mức cao hơn so với khu vực và thế giới và NHNN không thể
dùng dự trữ ngoại hối ít ỏi để can thiệp mạnh theo nhu cầu vì cần ngoại tệ để giải
quyết các nhu cầu thiết yếu khác.
Trang 10
Xác định các cơ hội và thách thức đối với Beeline tại thị trường Việt Nam năm 2011
Thứ năm, những “nút thắt” của tăng trưởng kinh tế như cơ sở hạ tầng, trình độ
nguồn nhân lực và cải cách hành chính vẫn chưa có sự chuyển biến rõ rệt. Điều này
không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước mà
còn cản trở lớn đến tăng trưởng kinh tế theo hướng hiệu quả và bền vững trong năm
2011 và các năm tiếp theo.
4.1.2. Yếu tố chính trị - pháp luật
Lĩnh vực viễn thông thời nay sẽ cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhưng với sự
khuyến khích của Chính phủ Việt Nam, không chỉ tạo điều kiện cho ngành viễn thông
trong nước phát triển mà còn tạo điều kiện thu hút sự đầu tư của các công ty nước noài
vào thị trường Việt Nam. Thời gian qua, chính phủ đã có hướng cơ cấu lại Bộ viễn
thông, nhằm mục đích mở rộng phạm vi quản lý của Nhà nước với xu hướng kết hợp
viễn thông – công nghệ thông tin – phát thanh truyền hình. Theo quan điểm là Nhà
Trang 11
Xác định các cơ hội và thách thức đối với Beeline tại thị trường Việt Nam năm 2011
Thông tư này cũng quy định chặt chẽ về các mức tặng đối với thẻ nạp tiền... Cụ
thể, mức tặng tối đa khi khuyến mãi đối với thẻ nạp tiền không được vượt quá 100%
mệnh giá của thẻ nạp tiền được bán.
Ngoài ra, tổng thời gian thực hiện các chương trình khuyến mãi giảm giá không
được vượt quá 90 ngày trong một năm. Và một chương trình khuyến mãi giảm giá
không được vượt quá 45 ngày. Đối với doanh nghiệp di động chiếm thị phần khống
chế (bao gồm Viettel, VinaPhone và MobiFone) Bộ chủ quản cũng quy định giá cước
dịch vụ thông tin di động sau khi thực hiện khuyến mãi giảm giá không được thấp hơn
giá mà doanh nghiệp đã đăng ký trước đó. Các quy định mới về hoạt động khuyến mãi
đối với dịch vụ thông tin di động sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2010.
Như vậy, khi Thông tư này bắt đầu có hiệu lực những cuộc đua khuyến mãi đã và
đang diễn ra sẽ phải chấm dứt. Theo nhận định của các chuyên gia, đây là quy định bất
lợi đối với những nhà mạng nhỏ bởi trong thời kỳ cần mở rộng thị phần như hiện nay
thì chiêu thức hiệu quả nhất đối vẫn là những đợt khuyến mãi, giảm giá “khủng”.
Căn cứ Khoản 1 và Khoản 3 Điều 7 Thông tư số 22/2009/TT-BTTTT ngày 24
tháng 06 năm 2009 của Bộ thông tin và truyền thông “Quy định về quản lý thuê bao di
động trả trước”. Đó là, chủ thuê bao di động trả trước khi thực hiện đăng ký thông tin
cá nhân theo đúng quy định sẽ: được đảm bảo mọi quyền lợi cá nhân khi có sự tranh
chấp sim số xảy ra đặc biệt là với sim số đẹp và được xử lý nhanh chóng theo đúng
quy trình khi yêu cầu các dịch vụ sau bán hàng như kích hoạt các dịch vụ giá trị gia
tăng, khóa chiều gọi đi do mất sim, thay sim, chuyển đổi chủ thuê bao tại các đại lý ủy
quyền hay khi gọi đến tổng đài.
Điều 1, điều 5 và điều 6 thông tư số 22/2009/TT-BTTTT ngày 24 tháng 06 năm
2009 của Bộ thông tin và truyền thông “Quy định về quản lý thuê bao di động trả
trước” tất cả các chủ thuê bao di động trả trước cần phải đăng ký thông tin cá nhân
phát triển của doanh nghiệp. Nó làm cho chi phí và chất lượng sản phẩm hay dịch vụ
của doanh nghiệp mang tính cạnh tranh và nhiều lợi thế hơn. Song, ứng dụng công
nghệ vào trong doanh nghiệp thì không dễ gì, bởi nó đòi hỏi doanh nghiệp cần phải
đảm bảo các yếu tố như nguồn nhân lực có trình độ và chuyên môn, có đủ năng lực tài
chính và khả năng quản lý, điều hành tốt có thế mới có thể theo kịp được sự phát triển
của thời đại công nghệ số như hiện nay.
Sự phát triển đặc biệt của công nghệ 3G đã giúp công ty có thể lựa chọn được
công nghệ phù hợp để nâng cao hiệu quả cho công ty về chất lượng sản phẩm, dịch vụ
và năng lực lao động. Hiện nay, đại đa số người dùng di động ở Việt Nam sử dụng
công nghệ 2G và chỉ có khoảng 5% số thuê bao sử dụng dịch vụ 3G 8.
4.1.5. Yếu tố tự nhiên
Điều kiện tự nhiên cũng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và cơ sở vật chất hạ
tầng trong lĩnh vực viễn thông nói chung như vị trí địa lý, thời tiết, khí hậu cũng góp
phần làm độ phủ sóng của các nhà mạng.
Thành phố Long Xuyên là một thành phố thuộc tỉnh An Giang, là trung tâm
chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật của vùng đồng bằng sông Cửu Long, là
một tỉnh cửa ngõ của đồng bằng sông Cửu Long. An Giang cũng là trung tâm giao
thương với các nước ASEAN trên đất liền, có nhiều điều kiện thuận lợi trong quan hệ
giao thương cả đường thủy và đường bộ với Campuchia. Vì vậy, đây là địa bàn kinh tế
trọng điểm, là thị trường tiềm năng cho ngành tài chính Ngân hàng phát triển.
4.2. Các cơ hội và thách thức đối với Beeline
Thông qua phân tích môi trường vĩ mô ở thị trường Việt Nam với các yếu tố tác
động trong đối với ngành viễn thông nước ta. Trong đó, cũng tác động đến Beeline tại
thị trường Việt Nam, từ đó ta có thể tóm lại những cơ hội và thách thức như sau:
4.2.1. Cơ hội
Việt Nam đang nằm trong top 10 quốc gia có số lượng thuê bao di động nhiều
nhất thế giới. Cụ thể, Việt Nam đang đứng ở thứ 7, trước cả Nhật Bản và Đức. Thị
trường mạng di động Việt Nam theo thống kê có trên khoảng 80 triệu thuê bao đăng
8
Từ đó, tạo cơ hội cho Beeline cơ hội để thâm nhập vào thị trường Việt Nam.
4.2.2. Thách thức
Thị trường mạng điện thoại di động gần như đang trong tình trạng bão hòa.
Những đối thủ cạnh tranh lớn như Vinaphone, Viettel, MobiFone đã chiếm hầu
hết các thị phần trong lĩnh vực này. Đây là những “đại gia” lớn của thị trường Việt
Nam. Khi thị phần đã bị chiếm thì đó là điều khó khăn cho mạng di động mới thâm
nhập vào thị trường này. Dẫn đến, cuộc cạnh tranh gây gắt giữa các nhà mạng với
nhau để thu hút khách hàng khi ấy sẽ đẩy chi phí tăng lên.
Những yếu tố như giá cước, các dịch vụ gia tăng kèm theo, cơ sở hạ tầng đều
được khai thác triệt để.
Sự trung thành của khách hàng đối với các nhà mạng không cao. Đặc biệt, thị
trường mục tiêu là giới trẻ nói chung và giới teen nói riêng thì sự trung thành đối với
nhãn hiệu của họ không cao và dễ dàng thay đổi.
9
Hiền Mai. Chi tiết thuê bao di động Việt Nam nhiều thứ 7 thế giới. Tham khảo từ:
/>(đọc ngày 07/04/2011).
Trang 14
Xác định các cơ hội và thách thức đối với Beeline tại thị trường Việt Nam năm 2011
Chương 5. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
Sự ra đời của mạng di động Beeline được xem là khá thành công, các hoạt động
tiếp thị quảng cáo được nhiều tạp chí và công ty nghiên cứu thị trường trong nước bình
chọn (Thành Đạt, Marketing, CBI…).
Đối với công ty Beeline, mới vừa thâm nhập vào thị trường Việt Nam nhưng đã
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Theo Tiền Phong/Tạp chí Nga. Cha đẻ của Beeline là ai?. Tham khảo từ:
/>(đọc
ngày 04/04/2011).
Tham khảo từ: ( đọc ngày 06/04/2011).
Tham khảo từ: />%9Dng_v%C4%A9_m%C3%B4 (đọc ngày 06/04/2011).
Tham khảo từ: />(đọc
ngày
06/04/2011).
Tham khảo từ: (đọc ngày 06/04/2011).
Huỳnh Phú Thịnh. 2009. Giáo trình giảng dạy môn Chiến lược kinh doanh. Đại học
An Giang. Khoa kinh tế - Quản trị Kinh doanh.
“Không ngày tháng”, “không tác giả”. Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2010 và
khuyến
nghị
cho
năm
2011.
Tham
khảo
từ:
/>%E1%BB%8B-cho-nam-2011/ (đọc ngày 07/04/2011).
Tham khảo từ: (đọc ngày 05/04/2011).
Theo Hồng Anh. VnExpress, ngày 02/08/2010. Thuê bao di động đã gần gấp đôi dân
số Việt Nam. Tham khảo từ: (đọc ngày 07/04/2011).
“Không tác giả”, ngày 12/08/2008. Siết chặt quản lý thuê bao điện thoại. Tham khảo
từ: (đọc ngày 07/04/2011).
“Không tác giả”, ngày 17/09/2009. Những chú gà Beeline. Tham khảo từ:
(ngày đọc 07/04/2011).