THAM GIA các HIỆP ĐỊNH THƯƠNG mại tự DO ASEAN (FTA) cơ hội và THÁCH THỨC đối với XUẤT KHẨU NÔNG sản của VIỆT NAM - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------*****---------

THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
ASEAN (FTA): CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI
XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên

Trương Thị Lan Anh 166
Nguyễn Minh Trang 164
Nguyễn Thị Yến Nhi 163
Bùi Tố Anh 165
Nguyễn Thị Doan 185

Hà Nội, tháng 05 năm 2015


i

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................................1
CHƯƠNG 2: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU NÔNG SẢN
CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
(FTA)...................................................................................................................................10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................25


1

LỜI MỞ ĐẦU

2
- Đánh giá cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam khi
tham gia các Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA).
- Đề xuất một số giải pháp đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong
bối cảnh tham gia các Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA).
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng của đề tài: Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu nông sản Việt
Nam trong bối cảnh tham gia các Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA).
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình xuất khẩu nông
sản của Việt Nam trong 10 năm gần đây (2004-2014) sang các nước đã ký kết các
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) với Việt Nam, cũng như triển vọng
xuất khẩu sang một số nước/khu vực sẽ ký Hiệp định Thương mại Tự do AFTA
trong thời gian tới. Các giải pháp đề xuất ở cả vĩ mô và vi mô cho những năm tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, đề
tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích – tổng hợp,
phương pháp diễn giải – quy nạp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh –
đối chiếu, ...
5. Kết cấu của đề tài
Nội dung tiểu luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát về mặt hàng nông sản và tình hình tham gia các Hiệp
định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) của Việt Nam
- Chương 2: Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam
khi tham gia các Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA)
- Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Việt Nam khi tham
gia các Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA)


3



4
nghiệp. Nông nghiệp thực hiện những công việc gì thì có những loại nông sản
tương ứng kể cả trong trồng trọt, chăn nuôi gia cầm, gia súc, bao gồm các sản phẩm
thu hoạch trực tiếp từ cây trồng, vật nuôi và các sản phẩm chế biến từ cây trồng, vật
nuôi đó.
1.1.2. Đặc điểm của mặt hàng nông sản
Thứ nhất, việc sản xuất và xuất khẩu nông sản có những điểm đặc biệt
- Hoạt động xuất khẩu nông sản phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn vệ sinh an
toàn thực phẩm.
- Giá cả sản phẩm nông sản xuất khẩu không ổn định.
- Hoạt động xuất khẩu nông sản cần được Nhà nước đưa ra chính sách quản
lý phù hợp.
Thứ hai, nông sản là một loại hàng hóa “nhạy cảm” trong thương mại
- Thương mại hàng nông sản liên quan đến lợi ích của một số bộ phận lao
động vốn có thu nhập thấp ở cả các nước phát triển và đang phát triển.
- Mỗi quốc gia đều có nhu cầu đảm bảo nguồn cung lương thực ổn định trong
hoàn cảnh thị trường nông sản thế giới thường xuyên có biến động về thu hoạch và
các nguy cơ đang rình rập nó.
Thứ ba, sản xuất nông sản có nhiều đặc điểm khác với các ngành sản
xuất khác
- Sản xuất nông sản mang tính thời vụ và tính khu vực rõ rệt.
- Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông sản lại bị giới hạn về diện tích.
- Xu hướng sản xuất nông sản theo phương thức sản xuất hữu cơ, theo quy
trình sản xuất sạch, đảm bảo dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm phải được
đặt lên hàng đầu và sẽ trở thành một lợi thế nếu quốc gia nào biết nắm bắt và đầu tư
sản xuất theo hướng này.
Thứ tư, nông sản mang tính thiết yếu (hầu hết nông sản là những sản
phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu)
- Tính thiết yếu của nông sản thể hiện ở việc cung cấp lương thực, thực phẩm

-Các dự án công nghiệp ASEAN (AIP).
-Kế hoạch hỗ trợ công nghiệp ASEAN (AIC) và Kế hoạch hỗ trợ sản xuất
công nghiệp cùng nhãn mác (BBC).
- Liên doanh công nghiệp ASEAN (AIJV)


6
Các kế hoạch hợp tác kinh tế kể trên chỉ tác động đến một phần nhỏ trong
thương mại nội bộ ASEAN và không đủ khả năng ảnh hưỏng đến đầu tư trong khối.
Sự ra đời của AFTA
Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi trong
môi trường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước ASEAN
đứng trước những thách thức lớn không dễ vượt qua nếu không có sự liên kết chặt
chẽ hơn và những nỗ lực chung của toàn Hiệp hội, những thách thức đó là :
-Quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc
biệt trong lĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEAN dần mất
đi sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũng như quốc tế.
- Sự hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới đặc biệt như
EU, NAFTA sẽ trở thành các khối thương mại khép kín, gây trở ngại cho hàng hoá
ASEAN khi thâm nhập vào những thị trường này.
- Những thay đổi về chính sách như mở cửa, khuyến khích và dành ưu đãi
rộng rãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tài
nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nga và
các nước Đông Âu đã trở thành những thị trường đầu tư hấp dẫn hơn ASEAN, đòi
hỏi ASEAN vừa phải mở rộng về thành viên, vừa phải nâng cao hơn nữa tầm hợp
tác khu vực. Để đối phó với những thách thức trên, tháng 01/1992 , theo sáng kiến
của Thái Lan, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ IV họp tại Singapo đã quyết
định thành lập một Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area,
gọi tắt là AFTA). Đây thực sự là bước ngoặt trong hợp tác kinh tế ASEAN ở một
tầm mới.

bỏ các hạn ngạch nhập khẩu và những hàng rào phi quan thuế khác.
Thời hạn thực hiện CEPT của các nước có khác nhau. Cụ thể là: Với Brunei,
Indonesia, Philippines, Singapore, Thái Lan: từ 1993 đến 2003; Với Việt Nam: từ
1996 đến 2006; Với Lào, Myanmar và Campuchia: từ 1998 đến 2008.
Để thực hiện dần dần việc cắt giảm thuế quan, mỗi nước sẽ phải phân loại tất
cả hàng hóa của mình vào một trong các danh mục sau: Danh mục giảm thuế (IL);
Danh mục loại trừ tạm thời (TEL); Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL); Danh mục
nhạy cảm (SL); Danh mục nhạy cảm cao.


8
-Danh mục giảm thuế (IL): bao gồm những mặt hàng sẽ được cắt giảm thuế
quan để đến khi hoàn thành CEPT sẽ có thuế suất 0-5%. Ngay sau khi ký CEPT,
mỗi nước ASEAN phải đưa ra IL của mình để bắt đầu giảm thuế quan từ năm 1993.
Trên thực tế, không phải mặt hàng nào trong IL cũng thực sự phải giảm thuế quan, vì
có những mặt hàng trước khi đưa vào IL đã có thuế suất dưới 5%, thậm chí bằng 0%.
-Danh mục loại trừ tạm thời (TEL): bao gồm những mặt hàng chưa đưa vào
giảm thuế quan ngay, do các nước thành viên ASEAN phải dành thêm thời gian để
điều chỉnh sản xuất trong nước thích nghi với môi trường cạnh tranh quốc tế.
Sau ba năm kể từ khi tham gia CEPT, các nước ASEAN phải bắt đầu chuyển
dần các mặt hàng từ TEL sang IL, tức là bắt đầu giảm thuế quan đối với những mặt
hàng này. Quá trình chuyển từ TEL sang IL được phép kéo dài trong 5 năm, mỗi
năm phải chuyển được 20% số mặt hàng. Điều đó có nghĩa là đến hết năm thứ tám
thì IL đã mở rộng bao trùm toàn bộ TEL, và TEL không còn tồn tại. Khi đưa mỗi
mặt hàng vào IL, các nước đồng thời phải chỉ ra lịch trình giảm thuế quan của mặt
hàng đó cho đến khi hoàn thành CEPT.
Ví dụ: Khi tham gia CEPT vào năm 1993, IL của nước A bao gồm 50 mặt
hàng, TEL của nước này có 100 mặt hàng. Từ năm 1996, nước A phải bắt đầu
chuyển TEL sang IL. Nếu mỗi năm chuyển đều 20% thì năm 1996, IL của nước này
có 50 + (100*20%) = 70 mặt hàng và TEL giảm đi còn 100 – (100*20%) = 80 mặt

ngày 01/01/1996, khi đưa 875 mặt hàng đầu tiên vào thực hiện CEPT. Tất cả những
mặt hàng này đều đã nằm ở khung thuế suất 0-5%.
Đầu năm 1998, Việt Nam công bố lịch trình giảm thuế để thực hiện AFTA
vào năm 2006. Trên thực tế thì đến cuối năm 2002, 5.500 mặt hàng (chiếm khoảng
86% tổng số mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu) đã được vào chương trình cắt
giảm. Toàn bộ các mặt hàng này đã ở thuế suất dưới 20% và có lộ trình cắt giảm
trong thời kỳ 2002-2006. Trong số đó, 65% đã ở mức thuế 0-5%.
Theo số liệu của tờ Dow Jones, vào những ngày đầu năm 2003, mức thuế
suất trung bình của Việt Nam chỉ hơn 2% một chút, và Việt Nam đang là nước có
mức thuế suất trung bình thấp thứ 3 ASEAN, sau Singapore và Brunei. Theo đúng
lộ trình thì việc cắt giảm thuế tham gia AFTA đã được áp dụng chính thức tại Việt
Nam từ ngày 01/01/2003. Tuy nhiên, ngày 10/01/2003, Bộ Tài chính đã thông báo


10
việc cắt giảm đó sẽ được thực hiện lùi lại 7 tháng, vào ngày 1/7. Đến ngày 1/7,
1.416 mặt hàng thuộc TEL được chuyển sang IL. Đa số đó là những mặt hàng hiện
đang được bảo hộ với mức thuế suất rất cao (30-100%), hoặc đang được quản lý
bằng hạn ngạch như xi măng, giấy, hàng điện tử, điện gia dụng…

CHƯƠNG 2: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU
NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH
THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA)
2.1. Đặc trưng của thị trường ASEAN về mặt hàng nông sản
2.1.1. Đặc trưng của thị trường ASEAN
• Về văn hóa
Các nước ASEAN đều có những điểm tương đồng về văn hóa. Đặc biệt các nước
ASEAN đều có nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, có lịch sử đấu
tranh dựng nước và giữ nước lâu đời. Văn hóa là di sản được kế thừa từ cha ông qua cả quá
trình lịch sử, là tổng thể những hiểu biết về phong tục tập quán, về trí tuệ và vật chất. Văn

ngừng đẩy mạnh hợp tác giữa các nước thành viên. Tháng 1 năm 1992, các nước ASEAN
đã đi đến quyết định thành lập khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) thông qua việc kí kết
hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) nhằm đưa nền kinh
tế khu vực này thành 1 cơ sở sản xuất thống nhất với 1 thị trường rộng lớn trên 500 triệu
dân, tỉ lệ tăng dân số trung bình 2,05% thì đây thực sự là một thị trường tiêu thụ lớn.
Mặc dù, AFTA chưa có hiệu lực trước năm 2003, xong thuế quan nhập khẩu giữa
các nước thành viên ASEAN đã được giảm dần từ năm 1997. Tính đến năm 2001, thuế
quan của 92,8 số sản phẩm trong danh mục cắt giảm ngay của 6 nước thành viên ban đầu
bao gồm Indonesia, Malaysia, Philipin, Singapore, Thái Lan, Brunei được giảm xuống
mức 0-5%. Việt Nam đã chính thức tham gia vào AFTA năm 2003 vào hoàn thành cắt
giảm thuế quan vào năm 2006. Đối với các nước thành viên Lào và Mianma sẽ bắt đầu
thực hiện hiệp định CEPT từ 1-1-1998 và kết thúc vào ngày 1-1-2008. Campuchia bắt đầu
thực hiện CEPT từ 1-1-2000 và kết thúc vào ngày 1-1-2010. Việc thực hiện CEPT đã làm
cho xuất khẩu nội khu vực ASEAN tăng từ 43 tỷ USD năm 1993 lên 84 tỷ năm 2001, tăng
hơn 90% trong vòng 8 năm qua. Thị trường ASEAN đã trở lên ngày càng quan trọng hơn
đối với các nước thành viên ASEAN. Do vậy, AFTA sẽ tiếp tục thúc đẩy các hoạt động
thương mại trong khu vực này.
Khi thực hiện hiệp định CEPT các hàng rào phi thuế quan như hạn chế số lượng,
hạn ngạch giá trị xuất nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu có tác dụng hạn chế định lượng…
cũng bị loại bỏ trong vòng 5 năm sau khi một sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế quan.
Việc xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ thúc đẩy thương mại và cải
thiện phúc lợi của các nước tham gia, tạo ra môi trường cạnh tranh hơn nhưng nó cũng làm
tăng năng suất lao động, đa dạng hóa các sản phẩm và giảm giá hàng hóa. Các hoạt động
thương mại ngày càng tăng cũng thúc đẩy các hoạt động kinh tế các nước này, việc làm
được tạo ra và các nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh hơn.
• Về chính trị


12
Về chính trị nó có tác dụng củng cố tinh thần đoàn kết, giúp đỡ các nước vừa và

Nam sang ASEAN thì có tới 60-70% được xuất sang Singapore. Đây là thị trường


13
tái xuất điển hình trong ASEAN. Năm 2000, Việt Nam có 21 thị trường xuất khẩu
nông sản (có kim ngạch xuất khẩu nông sản khoảng 100 triệu USD) thì có 3 nước là
Singapore đạt 886.7 triệu USD, Philipines đạt 477 triệu USD, Malaysia đạt 413.5
triệu USD. Ngoài ra, còn Indonesia và Campuchia cũng là thị trường nhập khẩu
nông sản lớn của Việt Nam.
Tóm lại, nhu cầu của thị trường ASEAN về hàng nông sản Việt nam là rất
lớn. Ngoài nhu cầu về hàng nông sản phục vụ cho tiêu dùng hàng ngày, các nước
ASEAN còn nhập khẩu nông sản của Việt Nam cho sản xuất chế biến trong nước
rồi tái xuất sang nước khác.
2.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị
trường ASEAN
2.1.3.1. Các công cụ, chính sách của Nhà nước trong quản lý xuất khẩu
Hiện nay, trên thế giới, các nước sử dụng nhiều công cụ để thực hiện chính
sách thương mại quốc tế, trong đó công cụ quan trọng nhất là thuế đánh vào hàng
nhập khẩu. Hầu như tất cả các nước trong khối ASEAN đều áp dụng thuế nhập
khẩu đổi với hàng nông sản, chỉ riêng có Singapore là không. Đây là nhân tố phức
tạp và thường gây bối rối cho các nhà kinh doanh do hệ thống pháp luật, bảo hộ mỗi
nước khác nhau như Singapore thì 99% hàng nhập khẩu là miễn thuế. Thái Lan thì
khác, vẫn áp dụng mức thuế nhập khẩu khá cao và gạo vẫn được bảo hộ về nhập
khaair.
Ngoài ra, còn có công cụ hạn ngạch (Quota, cơ chế giấy phép nhập khẩu và
các công cụ phi thuế quan khác). Quota là công cụ chủ yếu của hàng rào phi thuế
quan, là những quy định hạn chế số lượng đối với từng thị trường, mặt hàng. Nó là
công cụ kinh tế phục vụ cho công tác điều tiết quản lý Nhà nước về xuất nhập khẩu
vừa nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Là quy định của Nhà nước về số lượng (hay
giá trị) của một mặc hàng được phép xuất khẩu trong một thời gian nhất đinh.

Mặt khác, sự phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng, cơ sở hạ tầng của
đất nuwocs cũng như nước bạn ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu. Trong
xuất khẩu thì tính phức tạp trong thanh toán nguồn vốn và ngoại tệ cần huy động
lớn. Vì vậy khi hệ thống tài chính ngân hàng của nước xuất khẩu, nhập khẩu phát
triển thì nó sẽ tạo điều kiện cho các đơn vị kinh doanh xuất khẩu được dễ dàng huy
động vốn ngoại tệ, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán nhanh chóng, chính xác với
độ rủi ro thấp góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp. Hiện nay trong các nước


15
ASEAN thì chỉ có Singapore, Indonesia, Thái Lan là có hệ thống ngân hàng phát
triển mạnh.
Hệ thống cơ sở hạ tầng trong đó đặc biệt là hệ thống thông tin liên lạc có tác
động rất lớn đến khả năng xuất khẩu. Ngày nay việc trao đổi mua bán giữa nước ta
và ASEAN chủ yếu là qua đường thông tin điện thoại, Internet. Thông qua khả năng
thu thập thông tin, cung cấp thông tin một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ giúp
doanh nghiệp không bỏ sót các cơ hội kinh doanh hấp dẫn, giúp việc giao dịch đàm
phán diễn ra nhanh chóng thuận lợi với chi phí thấp. Việt Nam hiện nay có hệ thống
thông tin liên lạc khá phát triển, điều này tạo điều kiện rất lớn cho các doanh nghiệp
khi tham gia hoạt động xuất khẩu. Các nước Singapore, Thái Lan, Malaysia,
Philipines là những nước có hệ thống thông tin phát triển, điều đó tạo điều kiện
thuận lợi cho việc trao đổi thông tin giữa nước ta và các nước ASEAN. Bên cạnh đó
là hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, đường biển, đường không, nhà ga,
bến cảng, khu dự trữ được bố trí thuận lợi với máy móc hiện đại cũng tạo điều kiện
thuận lợi cho kinh doanh xuất khẩu.
2.1.3.3. Quan hệ kinh tế thương mại giữa nước ta và các nước ASEAN
Ngày nay, các xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, hội nhập kinh tế ngày
càng phát triển, các nước trong khu vực đều có sự liên kết kinh tế, mở ra những cơ
hội kinhd oanh mới nhưng cũng làm gia tăng sự cạnh tranh mua bán giữa doanh
nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.

đường không, điều nay tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hóa giữa các
nước ASEAN nhanh chóng, đúng thời gian quy định tạo được uy tín cho nhau.
Khí hậu thời tiết cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa. Khi
hậu ảnh hưởng đến chu kỳ sản xuất, khả năng cung ứng, chi phí bảo quản, chế biến
hàng hóa ở nước xuất khẩu. Vì vậy, yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu
phải có kế hoạch thu mua, dự trữ, bảo quản, chế biến để bán hàng phù hợp với nhu
cầu thị trường.
2.2. Cơ hội và thách thức về xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang các
nước ASEAN
- Cơ hội:
Việt Nam có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển các cây nông sản.
Đặc biệt là các vùng phía Nam có điều kiện khí hậu rất thuận lợi, nhiệt độ trung
bình vào khoảng 27.5 độ C thích hợp cho điều kiện sống của các cây như cà phê,
tiêu, điều, lạc,…


17
Người dân Việt Nam có truyền thống làm nong nghiệp, thông minh, sáng tạo,
nắm rõ đặc điểm của từng loại đất, từng loại cây trông, tạo ra được nhiều loại cây
trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, chủng loại đa dạng phong phú thích hợp với
nhiều đối tượng khác nhau. Điều này tạo cho nông sản xuất khẩu của Việt Nam có
những ưu điểm hơn hẳn so với các nước khác.
Mặc dù nông sản Việt Nam có chất lượng tốt, chủng lại đa dạng, phong phú
nhưng giá bán nông sản của Việt Nam thường vẫn thấp hơn giá bán nông sản cùng
loại của các nước khác. Thêm vào đó, các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia xuất
khẩu luôn có tinh thần trách nhiệm cao, thực hiện đúng quy định về chất lượng,
chủng loại cũng như thời gian đã tạo ra được uy tín cho bạn hàng.
Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, gần trung tâm trung chuyển hàng hóa, gần
hệ thống đường bộ và đường sắt cuyên Á và Việt Nam đã gia nhập và ASEAN,
tham gia vào chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) nên đã được

doanh nghiệp Việt Nam để chuẩn bị cho siwj gia nhập thị trường thế giới rộng lớn
và đầy sự cạnh tranh hơn.


19
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA
VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH
THƯƠNG MẠI TỰ DO
3.1. Giải pháp vĩ mô
3.1.1. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch vùng sản xuất hàng
nông sản xuất khẩu
Trong bối cảnh tham gia các AFTA hiện nay, thì xuất khẩu hàng nông sản
của Việt Nam không thể cứ bám mãi các yếu tố lợi thế sẵn có trước đây là chi phí
thấp, giá nhân công rẽ, giá nông sản cạnh tranh, khối lượng nhiều…để tham gia vào
thị trường nông sản thế giới, mà cần phải xác định lại yếu tố cạnh tranh mới là chất
lượng sản phẩm, để từ đó nâng cao giá trị hàng nông sản trên một đơn vị sản phẩm.
Để đạt được mục đích trên, công việc đầu tiên và vô cùng quan trọng là công tác
quy hoạch phát triển vùng nông sản hàng hóa xuất khẩu và việc thực hiện nghiêm
các quy hoạch đó.Trong đó, Nhà nước cần phải rà soát, tiến hành điều tra tổng thể
trên cả nước các vùng hiện đang sản xuất loại nông sản gì? có phù hợp với điều
kiện đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng tại vùng đó không? sản phẩm nông nghiệp đó có
giá trị kinh tế cao không? hay chỉ thực hiện việc các chính sách xã hội như giải
quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo?... từ đó có bản đồ quy hoạch hết sức chi tiết
đối với từng vùng phù hợp với loại cây gì? diện tích phát triển bao nhiêu?...
Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành trung ương và địa phương
trong việc xây dựng và triển khai thực hiện sản xuất hàng nông sản theo quy
hoạch. Nghiên cứu, ban hành các chính sách khuyến khích nông dân sản xuất
nông sản hàng hóa theo quy hoạch đã được phê duyệt và có chế tài đủ mạnh xử
phạt đối với các hộ nông dân vi phạm quy hoạch. Đây là công việc hết sức khó
khăn, đòi hỏi phải kết hợp nhiều yếu tố như: tuyên truyền vận động, chính sách

hơn với thị trường nông sản thế giới.
Yêu cầu của đổi mới công nghệ chế biến nông sản hiện nay là phải trang bị
lại và trang bị mới hệ thống dây chuyền đồng bộ, hiện đại để tạo ra những sản phẩm
đa dạng về chủng loại, mẫu mã, kiểu dáng, và giá thành thấp…, tạo ra sản phẩm đủ
sức cạnh tranh trên thị trường ngoài nước. Nhưng trong điều kiện khó khăn về vốn,
Nhà nước không nên đầu tư dàn trải cho toàn ngành, mà cần phải có sự lựa chọn các
mặt hàng và ngành hàng chủ lực để tập trung đầu tư chiều sâu, tạo ra các sản phẩm
mũi nhọn trong hoạt động chế biến xuất khẩu nông sản. Đó phải là những mặt hàng,


21
ngành hàng vừa có khả năng tăng trưởng nhanh trong một thời gian dài, vừa có kim
ngạch lớn, như gạo, cà phê, cao su, tiêu…
3.2. Giải pháp vi mô
3.2.1. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến xuất khẩu
Các doanh nghiệp xuất khẩu với mục tiêu phát triển bền vững cần phải nỗ lực
đẩy mạnh xuất khẩu, khai thông thị trường trên cơ sở tận dụng cam kết ưu đãi của
AFTA. Các doanh nghiệp khi nắm rõ được các cam kết ưu đãi của các nước thành viên
cần tiến hành xúc tiến xuất khẩu phát triển thị trường.
Doanh nghiệp nên xây dựng chiến lược marketing và xúc tiến xuất khẩu hàng
hóa sang các nước thành viên AFTA như nâng cao năng lực tiếp thị, tích cực thực hiện
các hoạt động xúc tiến xuất khẩu sang thị trường này; chủ động tìm kiếm đối tác, chào
hàng thông qua việc tham gia các hội chợ, triển lãm được tổ chức tại Việt Nam hoặc tại
nước ngoài.
Hầu hết doanh nghiệp địa phương là doanh nghiệp xuất khẩu nhỏ nên bản
lĩnh thị trường còn nhiều hạn chế, kinh phí xúc tiến thương mại không đủ nên chủ
yếu dựa vào các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia. Vì vậy, các doanh
nghiệp cần nắm bắt các hoạt động hỗ trợ xúc tiến thương mại quốc gia đặc biệt là
các hội chợ triển lãm và hội thảo chuyên đề được tổ chức cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần tăng cường nhận thức về tầm quan trọng của nhãn hiệu

ứng được các yêu cầu về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm. Từ đó, tránh tình
trạng các lô hàng xuất khẩu bị trả về như trong thời gian vừa qua, không chỉ gây tổn
thất nghiêm trọng cho doanh nghiệp mà còn làm mất uy tín của nông sản Việt Nam.
3.2.4. Xây dựng chữ tín và văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp
Trong kinh doanh, nhất là kinh doanh buôn bán với các đối tác nước ngoài
chữ tín rất quan trọng, nó quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh
nghiệp. Xây dựng chữ tín trong kinh doanh là cực kỳ quan trọng, các doanh nghiệp
không thể hô hào, quảng bá hình ảnh doanh nghiệp mình khắp nơi, trên các phương
tiện thông tin đại chúng theo kiểu nói suông được mà phải chứng minh cho đối tác
thấy rằng doanh nghiệp mình phải đáng được tin tưởng, trọng thị, là nơi mà các đối
tác có thể đặt niềm tin và làm ăn lâu dài. Chữ tín của doanh nghiệp không thể được
tạo ra trong một thời gian ngắn, mà phải có một quá trình và chiến lược rõ ràng, cụ
thể thông qua các hoạt động của doanh nghiệp như:
- Trong kinh doanh, buôn bán phải trung thực, rõ ràng không vì lợi ích trước
mắt mà làm tổn hại đến khách hàng;


23
- Chất lượng sản phẩm nông sản xuất khẩu phải bảo đảm với những gì đã thể
hiện trên bao bì, nhãn mác;
- Phải bảo đảm thực hiện đúng hợp đồng đã ký từ đầu vào thu mua của nông
dân đến đầu ra là các doanh nghiệp nhập khẩu, dù giá cả nông sản có thể giao động
gây bất lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu;
- Không được có thái độ xem nhẹ các thị trường nhỏ lẻ, các khách hàng tiềm
lực hạn chế, mà phải đối xử hết sức công bằng, phục vụ tận tình như các khách hàng
truyền thống, giàu tiềm năng... phải xem khách hàng thực sự là thượng đế.
Doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu hàng nông
sản nói riêng cần chú trọng giáo dục lề lối, tác phong văn hoá, lễ nghi cho cán bộ
trong giao tiếp, đàm phán. Thực hiện được nề nếp văn hoá kinh doanh chính là góp
phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và góp phần tích cực trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status