các hiệp định thương mại tự do với chiến lược tham gia của việt nam đến năm 2020 - Pdf 23

Chuyên đề thực tập PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan chuyên đề “Các hiệp định thương mại tự do với chiến
lược tham gia của Việt Nam đến năm 2020” là do chính tác giả viết ra và tổng hợp
lại trong thời gian thực tập tại công ty TNHH Tư vấn quốc tế IMC dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thương Lạng, không sao chép từ bất kỳ
chuyên đề nào khác. Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan
này.
Hà Nội, Ngày tháng năm 2012
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Đức Duy
1
Nguyễn Đức Duy Kinh tế quốc tế C
Chuyên đề thực tập PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được chuyên đề thực tập này trước tiên tôi xin được gửi lời
cảm ơn sâu sắc đến tập thể cán bộ công nhân viên công ty IMC tạo điều kiện
cho tôi thực tập và hoàn thành tốt những công việc được giao ở công ty qua đó
tôi có thể nắm bắt được các vấn đề thực tiễn xuất nhập khẩu để bài viết chân
thực và sinh động hơn.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn
Thường Lạng người trực tiếp hướng dẫn chuyên đề thực tập, làm cho bài viết
mang tính thực tiễn cao hơn và nội dung phong phú hơn.
Tôi cũng xin được cám ơn các thầy cô giáo trong khoa Thương mại và
Kinh tế quốc tế, các bạn cùng lớp đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu tài liệu
làm phong phú thêm bài viết
Hà Nội, Ngày tháng năm 2012
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Đức Duy
2

khổ của 6 FTA khu vực (AFTA, ACFTA, AKFTA, AJFTA, AANZFTA, AIFTA), với
phạm vi lĩnh vực tự do hoá khác nhau (thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư…) và độ
sâu hội nhập khác nhau. Tỉ trọng thương mại hai chiều giữa Việt Nam với các đối tác
đã có FTA chiếm gần 60% tổng giá trị thương mại của Việt Nam, trong đó, chiếm gần
50% kim ngạch xuất khẩu và gần 70% kim ngạch nhập khẩu hàng hóa.
Việt Nam đang ở giai đoạn đầu trong quá trình tham gia các FTA. Đến nay,
quan điểm và nhận thức về tham gia các FTA của Việt Nam còn có sự khác nhau, chưa
thống nhất. Do đó, việc đánh giá lại một số thay đổi trong nền kinh tế sau khi Việt
Nam tham gia các FTA là một vấn đề rất cần thiết để từ đó xây dựng được chủ trương
chính thống, chiến lược tổng thể với các định hướng chiến lược và lộ trình thống nhất
3
Nguyễn Đức Duy Kinh tế quốc tế C
Chuyên đề thực tập PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
cho tiến trình tham gia các FTA của Việt Nam trong dài hạn. Nhận thức được tầm
quan trọng của vấn đề này nên đề tài: “Các hiệp định thương mại tự do với chiến
lược tham gia của Việt Nam đến năm 2020” được chọn để nghiên cứu
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do của Việt
Nam từ đó đề ra chiến lược tham gia các Hiệp định thương mại tự do của Việt Nam
đến năm 2020
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng: Các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam ký kết với
Chiến lược tham gia của Việt Nam tới năm 2020
3.2. Phạm vi: Giai đoạn 1997 – 2011 và định hướng đến năm 2020
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp: tổng hợp, phân tích, dự báo…. Để giải quyết các
vấn đề đặt ra
Nguồn thông tin trong đề tài được thu thập từ Bộ Công Thương, Ủy ban Quốc
gia về Hợp tác kinh tế quốc tế, Tổng cục hải quan, Bộ ngoại giao…
5. Kết cấu đề tài

Nguyễn Đức Duy Kinh tế quốc tế C
Chuyên đề thực tập PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
Tiếng Anh Tiếng Việt
1 AANZFTA Asean Australia New Zealand
Free Trade Area
Khu vực/Hiệp định thương
mại tự do ASEAN – Úc và
NiuDilân
2 ACFTA ASEAN-CHINA Free Trade
Agreement
Khu vực/Hiệp định thương
mại tự do ASEAN – Trung
Quốc
3 ACIA Hiệp định đầu tư toàn diện
ASEAN
4 AEC Asean Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN
5 AEFTA ASEAN-EU Free Trade
Agreement
Hiệp định thành lập khu vực
thương mại tự do ASEAN –
EU
6 AFAS Asean Framework Agreement On
Services
Hiệp định khung ASEAN
về dịch vụ
7 AFTA
Asean Free Trade Area
Khu vực Mậu dịch Tự do

16 ANZCERTA Australia-New Zealand Closer
Economic Relations Trade
Agreement
Hiệp định quan hệ kinh tế
thân thiện Úc – NiuDilân
17 APEC
Asia-Pacific Economic
Diễn đàn hợp tác kinh tế
6
Nguyễn Đức Duy Kinh tế quốc tế C
Chuyên đề thực tập PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Cooperation
Châu Á-Thái Bình Dương
18 ASEAN Association Of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
19 ATIGA ASEAN Trade In Goods
Agreement
Hiệp định hàng hóa
ASEAN
20 AUSFTA Australia-United States Free
Trade Agreement
Khu vực/Hiệp định thương
mại tự do Úc – Mỹ
21 BFTA Bilatera Free Trade Agreement Khu vực/Hiệp định thương
mại tự do song phương
22 BTA Bilateral Trade Agreement Hiệp định thương mại song
phương Việt Nam – Hoa Kỳ
23 CEPA Comprehensive Economic

38 NAFTA North American Free Trade
Agreement
Hiệp định Thương mại Tự
do Bắc Mỹ
39 ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức
40 PTA Preferential Trade Agreement Các thoả thuận thương mại
ưu đãi
41 S&D Special & Diffỉrent Treatment Quy chế đãi ngộ đặc biệt
42 SAFTA South Asian Free Trade Area Khu vực/Hiệp định thương
mại tự do Úc – Singapore
43 SL Sensitive List Danh mục nhạy cảm thường
7
Nguyễn Đức Duy Kinh tế quốc tế C
Chuyên đề thực tập PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
44 SPS Sanitary And Phytosanitary
Measures
Biện pháp đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm
45 TAFTA Thailand-Australia Free Trade
Agreement
Khu vực/Hiệp định thương
mại tự do Úc – Thái Lan
46 TBT Technical Barriers To Trade Hàng rào kỹ thuật trong
thương mại
47 TIG Trade In Goods Agreement Hiệp định Thương mại
Hàng hóa
48 TNCs Transnational Corporations Công ty xuyên quốc gia
49 TPP Trans-Pacific Partnership Hiệp định đối tác kinh tế
chiến lược xuyên Thái Bình
Dương

đã ký A giai đoạn 1996 -2009
49
DANH MỤC BẢNG
TT Bảng Tên bảng Trang
1 2.1 Tổng hợp cam kết tự do hoá thuế quan của Việt Nam trong
các FTA đã ký kết
36
2 2.2 Khung thời gian cắt giảm và xoá bỏ thuế quan của Việt
Nam trong các FTA
37
3 2.3 Mức độ tập trung thương mại và hệ số tăng trưởng giá trị
thương mại của Việt Nam
44
4 2.4 Mức độ tập trung xuất khẩu và hệ số tăng trưởng xuất khẩu
của Việt Nam sang các thị trường đã ký FTA
48
5 2.5 Mức độ tập trung nhập khẩu và hệ số tăng trưởng nhập
khẩu của Việt nam từ các thị trường đã ký FTA giai đoạn
2001 - 2009
50
6 2.6 Tình hình nhập siêu và xuất khẩu ròng của Việt Nam với
các đối tác đã ký FTA giai đoạn 2001 – 2009
52
9
Nguyễn Đức Duy Kinh tế quốc tế C
Chuyên đề thực tập PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
DANH MỤC HỘP
TT Hộp Tên hộp Trang
1 1.1 Một số tiêu chuẩn chất lượng 12
2 1.2 Một số khách hàng tiêu biểu của công ty IMC 12

thành phần doanh nghiệp trong, ngoài nước và việc tìm ra các giải pháp thực tiễn,
đồng thời luôn đảm bảo tính chuyên nghiệp trong chất lượng dịch vụ.
Các chuyên gia tư vấn của IMC đã trải qua những khóa đào tạo đặc biệt về hệ
thống quản lý ở trong nước và ngoài nước. Với nhiều năm công tác thực tiễn trong lĩnh
vực Đào tạo, Tư vấn xây dựng các hệ thống quản lý, sẽ cống hiến hết mình cho khách
hàng và không ngừng cải tiến để luôn luôn cung cấp cho khách hàng một dịch vụ:
Chuyên nghiệp - Hiệu quả. Mục tiêu phấn đấu của IMC là không ngừng nâng cao chất
lượng và uy tín của mình để trở thành người bạn đồng hành của Doanh nghiệp trong
suốt quá trình phát triển
1.1.2. Sơ đồ tổ chức
Công ty bao gồm ban giám đốc trực thuộc hội đồng thành viên, có 4 phòng ban:
phòng kế toán, phòng tư vấn, phòng kinh doanh và phòng hành chính tổng hợp
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức công ty tư vấn quốc tế IMC
Nguồn: Công ty tư vấn quốc tế IMC
12
Nguyễn Đức Duy Kinh tế quốc tế C
Chuyên đề thực tập PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
1.1.3. Chính sách chất lượng
Công ty Tư vấn Quản lý Quốc tế (IMC) với phương châm:
“TẤT CẢ HÀNH ĐỘNG, NGUỒN LỰC CỦA IMC ĐỀU HƯỚNG TỚI THỎA
MÃN NHU CẦU CỦA KHÁCH HÀNG!”
IMC thực hiện, duy trì và liên tục cải tiến hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu
chuẩn ISO 9001:2000, lấy đó làm cơ sở để từng thành viên trong công ty phát huy tối
đa năng lực, trí tuệ của mình trong công tác đào tạo và tư vấn, nhằm cung cấp cho
khách hàng các dịch vụ hoàn hảo nhất.
Toàn thể cán bộ của IMC phải nhận thức được rằng sự thành đạt của IMC cũng
là sự thành đạt của mình. Điều đó chỉ đến khi đạt được sự thỏa mãn của khách hàng.
13
Nguyễn Đức Duy Kinh tế quốc tế C
Hộp 1.3: Chứng nhận chất lượng của công ty IMC

Trong suốt quá trình thiết lập tài liệu, IMC sẽ thực hiện các lần tư vấn và hướng
dẫn tại doanh nghiệp. Trước mỗi lần tư vấn, IMC sẽ gửi tới công ty kế hoạch cụ thể để
các nhân viên liên quan chuẩn bị nội dung thảo luận về các sửa đổi trong tài liệu do
mình soạn thảo
Số lần tư vấn sẽ phụ thuộc vào mức độ hoàn thành tài liệu của công ty và được
điều chỉnh để phù hợp với các hoạt động của công ty
14
Nguyễn Đức Duy Kinh tế quốc tế C
Chuyên đề thực tập PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
IMC sẽ hướng dẫn công ty tổng hợp hệ thống văn bản đã xây dựng, chuẩn bị
cho công tác phê duyệt và ban hành hệ thống tài liệu
1.1.4.5. Triển khai áp dụng
Sau khi tổng hợp, xem xét, hiệu chỉnh hệ thống văn bản, IMC tư vấn cho công
ty phê duyệt và ban hành hệ thống văn bản
IMC sẽ hướng dẫn các phòng ban trong công ty áp dụng hệ thống một cách
đồng bộ và hiệu quả
Hỗ trợ các trưởng bộ phận, các cán bộ chủ chốt trong công ty theo dõi và kiểm
tra việc áp dụng hệ thống, nhằm đảm bảo rằng các công việc thực hiện tại mọi vị trí
được tuân thủ theo hệ thống văn bản đã ban hành
1.1.4.6. Khóa đào tạo chuyên gia đánh giá nội bộ
IMC sẽ đào tạo cho các nhân viên được tuyển chọn các kỹ năng giúp họ có thể
thực hiện được việc đánh giá nội bộ nhằm đảm bảo hệ thống quản lý được áp dụng
hiệu quả
- Tổng quan hệ thống quản lý
- Lập lịch trình/Kế hoạch đánh giá
- Mục đích đánh giá
- Tiến hành đánh giá và báo cáo
- Hành động khắc phục
- Giám sát và kết thúc
1.1.4.7. Hướng dẫn thực hiện đánh giá nội bộ

FTA còn bất cập.Kết cấu hạ tầng còn yếu kém, nhất là hạ tầng phát triển thương mại.
Chất lượng nguồn nhân lực tham gia hội nhập FTA còn nhiều hạn chế, cả ở trong khâu
đàm phán ký kết FTA và thực hiện các cam kết…
Quá trình hội nhập các FTA chưa được lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng và Nhà
nước dành sự quan tâm định hướng, chỉ đạo sâu sát, thường xuyên.Hệ thống pháp luật
và năng lực quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực trực tiếp liên quan đến hội nhập
FTA còn bất cập.Kết cấu hạ tầng còn yếu kém, nhất là hạ tầng phát triển thương mại.
Chất lượng nguồn nhân lực tham gia hội nhập FTA còn nhiều hạn chế, cả ở trong khâu
đàm phán ký kết FTA và thực hiện các cam kết…
Quá trình hội nhập các FTA chưa được lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng và Nhà
nước dành sự quan tâm định hướng, chỉ đạo sâu sát, thường xuyên.Hệ thống pháp luật
và năng lực quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực trực tiếp liên quan đến hội nhập
FTA còn bất cập.Kết cấu hạ tầng còn yếu kém, nhất là hạ tầng phát triển thương mại.
Chất lượng nguồn nhân lực tham gia hội nhập FTA còn nhiều hạn chế, cả ở trong khâu
đàm phán ký kết FTA và thực hiện các cam kết…
16
Nguyễn Đức Duy Kinh tế quốc tế C
Chuyên đề thực tập PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
1.2.2. Thực hiện
1.2.2.1. Mỹ
Xem xét cách tiếp cận FTA của Mỹ có thể nhận thấy sự đa dạng ở các đối
tượng tham gia FTA với Mỹ. Những FTA với các nước đang phát triển như Mexico,
Chile, các quốc gia nằm ở khu vực Trung Mỹ và Caribê đan xen với những FTA với
các nước phát triển như Canada, Australia Tuy có sự đa dạng về trình độ phát triển
như vậy song các đối tác FTAcủa Mỹ đều có một đặc điểm chung là ít nhiều hàm chứa
vị thế địa chính trị và địa kinh tế ở những tiểu khu vực nơi họ hiện diện với tư cách
các quốc gia độc lập. Sự lựa chọn đối tác FTA của Mỹ rõ ràng là còn hướng tới những
mục tiêu dài hạn hơn chứ không chỉ là những lợi ích kinh tế trước mắt.
Có thể nhận thấy hàm lượng kinh tế Mỹ, thông qua quan hệ thương mại và đầu
tư, trong nền kinh tế của các nước này khá cao.Mỹ luôn đóng vai trò quan trọng trong

(Canada ở châu Mỹ; Singapore,Hàn Quốc ở Đông Á; Australia ở châu Đại dương;
Mexico và CAFTA 5 ở khuvực Trung Mỹ và Caribê). Việc ký kết FTA với các nước
này có thể sẽtạo thêm nhiều thuận lợi cho chiến lược FTA của Mỹ ít nhất ở hai khía
cạnh. Thứ nhất, sự thành công của các nước này trong một FTA với Mỹ có thể khiến
các nướckhác còn lại trong khu vực tìm kiếm một FTA tương tự với Mỹ nhằm tránh bị
phân biệt đối xử; thứ hai, các nước nói trên đều là những nền kinh tế mở, do đó những
kinh nghiệm từ quá trình đàm phán FTA với Mỹ có thể giúp họ chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế ở mức độ cao hơn, với những phạm vi rộng hơn. Dù chỉ một trong hai
kịch bản trên diễn ra thì mục tiêu thúc đẩy tiến trình tự dohoá thương mại của Mỹ trên
phạm vi toàn cầu có tính khả thi hơn.
Dù với đối tượng nào thì mục tiêu xuyên suốt của Mỹtrong việc ký kết FTA là
hỗ trợ tiến trình tự do hoá thương mại đa phươngvà đẩy mạnh sự phổ biến của giá trị
tự do kinh tế. Do đó, các yêu cầu trongFTA thường được Mỹ đặt ra rất cao với một nội
dung rất toàn diện. Tất cả các yếu tố có thể thúc đẩy việc hình thành một trật tự kinh tế
quốc tế tự do nhất đều được Mỹ đưa vào nội dung đàm phán. Mở cửa thị trường tối đa
và thực thi các điềukhoản nhằm bảo đảm cạnh tranh tự do hoá thương mại công bằng
là các mục tiêu được hiện thực hoá bằng các điều khoản mở cửa không giới hạn ở tất
cả các ngành sản xuất hàng hoá và dịch vụ. Bên cạnh đó các yêu cầu về quyền sở hữu
trí tuệ, minh bạch hoá chính sách, tiêu chuẩn lao động và môi trường cũng như tựdo
hoá các lĩnh vực đầu tư được đưa vào nội dung FTA với những yêu cầu cao hơnnhiều
so với các cam kết hiện có trên diễn đàn đa phương và so với các FTA giữa các nước
đang phát triển ký với nhau (có người gọi các FTA mà Mỹ tham gia ký kết là các FTA
+). Kể từ NAFTA, các FTA của Mỹ đều được xác lập theo tiêuchuẩn WTO +.
Tuy đặt ra mục tiêu tự do hoá thương mại ở mức cao nhất, song sự phức tạp
trong nền chính trị lưỡng đảng ở Mỹ khiến chính sách FTA của Mỹ đôi khi nhận được
hản hồi không mấy tích cực từ các đối tác ở trình độ phát triển lẫn các đối tác đang
phát triển.
Mỹ chỉ tự do hoá cao nhất ở những ngành có lợi thế,trong khi đó lại bảo hộ khá
chặt chẽ những ngành ít lợi thế cạnh tranh. Mộtcách truyền thống, nông nghiệp là
ngành được Quốc hội Mỹ cho rằng khó có khả năng cạnh tranh với nông sản nhập

buôn bán của mình theo hướng tăng cường ký kết các Hiệp định thương mại tự do
(FTA) với các nước trong khu vực, Tính đến tháng 2/2009, Nhật Bản đã ký kết được
11 FTA với các quốc gia châu Á, châu Âu
Nguyên nhân chuyển đổi chính sách thương mại Nhật Bản
- Chính sách tự do hóa thương mại của Nhật Bản bắt đầu thay đổi từ đầu những
năm 2000s dựa trên những lý do sau:
- Nếu Nhật Bản vẫn đơn phương theo đuổi chính sách thương mại đa phương,
Nhật Bản sẽ bị cô đơn và gặp nhiều bất lợi. Trong khi hầu hết các đối tác thương mại
của Nhật Bản đã ký kết các FTA. Một khi hai quốc gia đã ký kết FTA với nhau thì
chắc chắn mối quan hệ thương mại của các nước này sẽ trở nên gần gũi và thân thiết
với nhau hơn.
- Nhật Bản có thể thực hiện những cuộc cải cách cơ cấu triệt để nhờ Hiệp định
thương mại tự do FTA. Ví dụ, ngành công nghiệp rượu của Canada rất yếu trước khi
Canada và Mỹ ký hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Khi có sự tham gia
của bên ngoài thông qua FTA, ngành công nghiệp rượu của Canada trở nên cạnh tranh
hơn, sản xuất rượu gạo có chất lượng cao hơn.
- FTA thúc đẩy các cuộc cải cách thương mại đạt triển vọng nhanh hơn Tổ chức
thương mại thế giới (WTO). Các thành viên của Tổ chức thương mại thế giới khó có
19
Nguyễn Đức Duy Kinh tế quốc tế C
Chuyên đề thực tập PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
thể có sự nhất trí cao bởi mức độ quan tâm và lợi ích rất khác biệt. Nhưng trong trường
hợp FTA giữa hai hay nhiều nước, để đạt được sự nhất trí sẽ gặp ít khó khăn hơn.
- Các công ty Nhật Bản thực sự cảm thấy thua thiệt do FTA của các nền kinh tế
khác. Ví dụ, các công ty của Mỹ có thể xuất khẩu hàng hóa đến Mêxicô với thuế quan
tự do theo qui định của Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Các công ty
của châu Âu cũng có thể làm như vậy nhờ FTA giữa EU và Mêxicô.
- Quyết định của Trung Quốc trong việc đàm phán FTA với ASEAN năm 2001
cũng là sự kiện tranh luận, tạo áp lực thêm cho Nhật Bản điều chỉnh chính sách thương
mại, hướng Nhật Bản quan tâm hơn đến FTA nhằm tránh thua thiệt về lợi ích kinh tế

nhập khẩu từ các quốc gia này sẽ tràn ngập thị trường trong nước, ảnh hưởng đến hoạt
động sản xuất của thị trường nội địa.
Tuy nhiên, trên bình diện quốc tế, việc theo đuổi các Hiệp định thương mại tự
do FTA đang đặt ra một số vấn đề, đó là:
Các chính phủ hiện theo đuổi FTA như là một công cụ trong chính sách thương
mại gồm nhiều tầng nấc đan xen nhau, gồm cả song phương, khu vực và đa phương.
Nếu có quá nhiều FTA mà không có sự điều phối thỏa đáng thì điều này sẽ đe dọa sẽ
làm đổ vỡ tiến trình Doha.
Hầu như tất cả các FTA của Nhật Bản hình thành trong thời gian gần đây đều
có nội dung bao trùm các lĩnh vực dịch vụ và sở hữu trí tuệ, đặc biệt cả đầu tư và
thương mại điện tử , là những lĩnh vực chưa có quy định quốc tế chung. Vì vậy, các
cam kết mang tính ràng buộc chưa chắc phù hợp, thậm chí tạo ra những rào cản mới
cho các nước bên ngoài và tác động tiêu cực đến tiến trình đàm phán đa phương về các
lĩnh vực này, giảm bớt thương mại của các nước không tham gia FTA.
Tham gia FTA dường như chỉ nhằm mục đích tự vệ để tránh bị gạt ra ngoài,
chứ hoàn toàn không theo một chiến lược cụ thể, khiến tình hình FTA nói chung trên
thế giới càng thêm phức tạp, đặc biệt là tại Đông Á. Nhật Bản trước những năm 2000
còn rất bàng quan, giờ đã trở thành nước ráo riết tìm kiếm FTA song phương, chủ yếu
vì ngại các nước khác có FTA sẽ chiếm mất thị trường truyền thống của họ.
Các FTA đều được tiến hành một cách riêng rẽ hoàn toàn hoặc rất thiếu sự phối
hợp tổng thể chung, không chỉ ở bình diện từng khu vực mà cả trong từng quốc gia.
Nhật Bản, vừa tham gia cùng ASEAN, vừa đàm phán song phương riêng rẽ với Trung
Quốc, Thái Lan, Philippines, nơi các bộ, ngành chủ chốt bất đồng với nhau về việc nên
đàm phán riêng rẽ với từng nước hay đàm phán chung với cả khối ASEAN.
Nếu tham gia nhiều FTA song phương, mà quy tắc xuất xứ của một loại hàng
hóa nào đó lại khác nhau trong từng hiệp định, thì doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng
đó chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đã cho thấy những hạn chế của việc
phụ thuộc quá nhiều vào người tiêu dùng Mỹ và xuất khẩu của châu Á để tăng trưởng.
Vì thế cần phải tạo cầu bên trong khu vực châu Á và làm sâu sắc hơn hội nhập khu

sang Chi Lê cũng tăng 59,3%, xuất khẩu điện thoại di động tăng 225,7% và xuất khẩu
tivi màu tăng 110.4%. Nhập khẩu từ Chi Lê cũng tăng 54,3% trong cùng thời kỳ đó,
chủ yếu là các nguyên vật liệu thô, trong đó có quặng đồng. Nhập khẩu các sản phẩm
nông nghiệp, trừ rượu, từ Chi Lê tăng thấp hơn mức dự kiến 2,6% đã làm dịu bớt
những lo ngại của nông dân, những người luôn đấu tranh chống lại việc mở cửa thị
trường hàng nông sản vốn đang được Hàn Quốc bảo hộ chặt chẽ.
Nhìn chung, Hiệp định FTA với Chi Lê đã cho thấy tiềm năng tăng trưởng mới
trong năm qua, làm tăng niềm tin về mở cửa thị trường và xoa dịu những lo ngại đối
với tự do hoá thương mại của quốc gia này. Lạc quan về tình hình xuất khẩu gia tăng
sau khi ký kết Hiệp định FTA đầu tiên với Chi Lê, Hàn Quốc thể hiện tham vọng
muốn đẩy mạnh đàm phán và ký kết các hiệp định FTA với ít nhất 15 quốc gia khác,
dự kiến hoàn thành vào năm 2007 trước khi nhiệm kỳ 5 năm của Tổng thống Roh
Moo-huyn kết thúc. Nhằm đạt mục tiêu này, Hàn Quốc sẽ tiến hành các đàm phán với
50 đối tác thương mại trên toàn thế giới.
Trong điều kiện như hiện nay, Hàn Quốc hiểu rằng các FTA đóng một vai trò
quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Chính sách đa biên sẽ giúp Hàn Quốc
đẩy mạnh tự do hoá thương mại, giảm dần các rào cản đối với thương mại và bảo đảm
đem lại nhiều lợi ích hơn cho nền kinh tế vốn phụ thuộc vào xuất khẩu của mình. Một
chiến lược dài hạn nhằm phát triển và mở rộng thương mại là cần thiết đối với nền
22
Nguyễn Đức Duy Kinh tế quốc tế C
Chuyên đề thực tập PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
kinh tế Hàn Quốc vốn đang phải đối mặt với nhiều điều kiện bất lợi từ bên ngoài như
giá dầu tăng cao, đồng won tăng giá so với đồng đôla Mỹ và ngày càng xuất hiện
nhiều rào cản thương mại khác. Mở rộng các đàm phán FTA được xem là giải pháp
duy nhất để các công ty Hàn Quốc có thể tiếp cận tốt hơn với thị trường bên ngoài.
Trong khi đó, một số quan điểm khác lại cho rằng việc đẩy nhanh các đàm phán FTA
có thể sẽ phản tác dụng, ảnh hưởng xấu đến một số ngành công nghiệp chủ chốt trong
nước.
Hàn Quốc đã hoàn tất những khâu cuối cùng để Quốc hội chính thức thông qua

Chuyên đề thực tập PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
- Mở rộng thị trường xuất khẩu. Nền kinh tế trong giai đoạn khôi phục tăng
trưởng rất cần thị trường đầu ra. Bên cạnh việc phát triển thị trường nội địa với phong
trào “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” do Bộ Chính trị phát động, thị
trường quốc tế vẫn có vai trò quan trọng đối với kinh tế nước ta trong điều kiện kim
ngạch xuất khẩu tương ứng xấp xỉ 70% GDP. Đặc biệt nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ
lực, đã khẳng định vị thế, có kim ngạch lớn (nông sản, dệt may, giày dép, đồ gỗ, thủy
hải sản…) chỉ có thể phát triển khi mở rộng được thị trường quốc tế. FTA là công cụ
hữu hiệu để mở cửa cho hàng Việt Nam tiếp cận các thị trường tiềm năng mà không vi
phạm nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế. Bởi WTO thừa
nhận quyền các quốc gia dành cho nhau các đãi ngộ ưu đãi trong khuôn khổ FTA.
- Phản ánh nhu cầu khách quan của nền kinh tế. Về bản chất, FTA là sự
đánh đổi các cam kết mở cửa thị trường của mình lấy các cơ hội tiếp cận thị trường
của đối tác. Việc các doanh nghiệp không phát huy được các cơ hội trong FTA đồng
nghĩa với việc ta bị thua thiệt. Bởi vậy, đối tượng và nội dung đàm phán phải được
hình thành từ thực tiễn, bắt nguồn từ nhu cầu của nền kinh tế và các doanh nghiệp.
Cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp và giới học giả có thể đóng góp ý kiến vào quá
trình hoạch định sách lược đàm phán.
- Khắc phục hiệu ứng “chuyển hướng thương mại”. Đối ngược với tác động
tích cực tạo “tăng trưởng thương mại” của FTA là hiệu ứng gây “chệch hướng thương
mại”. FTA đem lại ưu đãi cho hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu của các nước thành viên.
Vô hình trung nó hướng người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm từ các nước này bởi lợi
thế giá rẻ chứ không hoàn toàn do có sức cạnh tranh hơn sản phẩm tương tự từ các
nước ngoài FTA.
Điều đáng lưu ý là trong các FTA Việt Nam đã ký có Hàn Quốc và Trung Quốc
là hai đối tác ta đang nhập siêu ở mức cao. Trong thời gian tới, FTA sẽ càng tăng sức
cạnh tranh của hàng hóa hai nước này trên thị trường Việt Nam, gây khó khăn cho việc
kiềm chế nhập siêu từ hai nước này. Ngoài các giải pháp tăng cường xuất khẩu, cần
nghiên cứu phương án sử dụng các FTA khác để “lấy độc trị độc”. Mở cửa thị trường
cho hàng hóa và dịch vụ cho các đối tác khác sẽ gia tăng mức độ cạnh tranh trên thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status