BÁO CÁO “HỖ TRỢ VIỆT NAM TRONG ĐÀM PHÁN CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO - Pdf 26



Tầng 9, Tòa nhà Minexport, 28 Bà Triệu, Hà Nội, Việt Nam
Tel: 04 62702158 Fax: 04 62702138
Email: ; Website: www.mutrap.org.vn
BÁO CÁO “HỖ TRỢ VIỆT NAM TRONG ĐÀM PHÁN
CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO”

Mã hoạt động: FTA-7C
Tác giả:
David Luff
2. Tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia 25
3. Điều khoản Đối xử tối huệ quốc 25
4. Thái độ của các nhà đầu tư 26
5. Kết luận 27
III.3. Những cam kết liên quan dến sự hiện diện tạm thời của thể nhân vì mục đích công
việc 27
1. Phạm vi 27
2. Cam kết đối với nhân lực chủ chốt và nhân viên thực tập có bằng cấp 27
3. Các cam kết ưu đãi đối với người chào bán dịch vụ kinh doanh 28
4. Các cam kết ưu đãi những nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng và các nhà
chuyên môn độc lập 29
5. Các cam kết ưu đãi khách nhập cảnh ngắn hạn vì mục đích công việc 33
IV. QUY ĐỊNH TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN CÁC NGÀNH DỊCH VỤ 34
IV.1. Những nguyên tắc chung 34
1. Minh bạch hóa 34
2. Quy định hài hòa và Quản trị tốt 34
3. Thủ tục cấp phép hiệu quả 35
IV.2. Quy định trong nước trong những ngành dịch vụ then chốt nhất định 36
1. Giới thiệu 36
2. Dịch vụ máy tính 36
3. Dịch vụ bưu chính và thư tín 36
4. Dịch vụ viễn thông 37
5. Dịch vụ tài chính 38
6. Dịch vụ hàng hải quốc tế 39
7. Dịch vụ du lịch 40
8. Thương mại điện tử 41
9. Kết luận 42
V. NHỮNG NGOẠI LỆ CHUNG 45
VI. NHỮNG SÁNG KIẾN BỔ SUNG TRONG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ 46
VI.1 Đàm phán các thỏa thuận công nhận lẫn nhau đối với văn bằng chuyên môn của các

RTA
WTO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Cộng đồng Ca-ri-bê
Các quốc gia trong Cộng đồng Ca-ri-bê và Cộng hòa Dominic
Hệ thống phân loại các ngành và phân ngành dịch vụ
(Liên hợp quốc)
Dịch vụ bảo lưu máy tính
Cộng đồng châu Âu
Hiệp định đối tác kinh tế
Diễn đàn Dịch vụ châu Âu
Liên minh châu Âu
Hiệp định thương mại tự do
Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ
Đối xử tối huệ quốc
Đối xử quốc gia
Hiệp định thương mại khu vực
Tổ chức thương mại thế giới
2

TÓM LƯỢC BÁO CÁO
1. Bối cảnh

Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) hiện đang chuẩn bị cho công tác đàm phán một
hiệp định thương mại tự do (FTA) giữ EU và Việt Nam.

Nhất quán với thế hệ FTA mới của EU, Hiệp định FTA EU-Việt Nam được kỳ vọng sẽ
không chỉ đề cập đến thương mại hàng hóa mà cả thương mại dịch vụ, bao gồm những


Những hiệp định được phân tích bao gồm FTA EU-Hàn Quốc, Hiệp định Đối tác kinh tế
(EPA) giữa EU và CARIFORUM, FTA EU-Colombia và Peru, những hiệp định được coi
là thế hệ FTA mới. Phương pháp nghiên cứu ở đây là đề cập những khác biệt lớn của
từng hiệp định theo từng chủ đề liên quan và hàm ý đối với Việt Nam.
2. Hình thức chung của các FTA của EU
Mục tiêu các FTA của EU, xét về khía cạnh dịch vụ và thương mại, là nhằm tạo ra một
thị trường rộng hơn và đảm bảo cho lĩnh vực dịch vụ một môi trường ổn định và có thể
dự báo được cho lĩnh vực đầu tư; tạo thuận lợi cho hội nhập khu vực và phát triển bền
vững của các bên và sự hội nhập suôn sẻ vào nền kinh tế thế giới của các bên; đa dạng
hóa xuất khẩu dịch vụ thông qua đầu tư mới và phát triển các ngành mới, thiết lập khu
vực thương mại tự do về dịch vụ và tự do hóa thương mại dịch vụ và đầu tư giữa các
bên, tuân thủ theo Điều V của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ.

Cũng như GATS, chương về dịch vụ và đầu tư của một FTA không bao gồm mua sắm
chính phủ. Khác với GATS, không có trợ cấp cho dịch vụ. Điều này có nghĩa là FTA
hoàn toàn cho phép các điều khoản về trợ cấp dịch vụ. Tuy vậy hiệp định GATS vẫn có
thể được áp dụng và với những ngành đã có các cam kết đa phương, trợ cấp vẫn tùy
thuộc vào quy định đối xử quốc gia của GATS trừ khi có một hạn chế cụ thể được ghi
trong biểu.

Thêm vào đó, nhất quán với WTO và đoạn thứ tư trong Lời nói đầu của Hiệp định
GATS, quyền quy định các ngành dịch vụ của các bên và quyền “đưa ra những quy định
mới để đáp ứng các mục tiêu pháp lý” cũng được công nhận.

Phần gây bàn cãi trong một FTA của EU là việc loại trừ hoàn toàn quyền tự do di chuyển
thể nhân và thủ tục visa khỏi phạm vi của hiệp định.

Phần dịch vụ và đầu tư trong thế hệ FTA mới của EU có cấu trúc hơi khác so với khuôn
mẫu GATS chuẩn. Thực chất, thương mại qua biên giới (Phương thức 1 và 2 của GATS),

địa phương;
 Đạt được thêm những cam kết theo phương thức 3 về dịch vụ hạ tầng cơ sở như
viễn thông, vận tải, phân phối năng lượng và dịch vụ tài chính;
 Đạt được thêm các cam kết cung ứng qua biên giới theo phương thức 1, đặc biệt là
những dịch vụ có khả năng được cung ứng điện tử;
 Một số ngành dịch vụ châu Âu cũng rất quan tâm đến những cam kết mạnh mẽ
hơn nữa liên quan đến chuyển nhượng tạm thời nhân công có tay nghề sang các thị
trường nước ngoài như là việc di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp (phương thức
4);
 Đạt được những cam kết trong mua sắm công và thêm những cam kết khác gắn
với minh bạch hóa và thời gian xử lý thủ tục cấp phép.
Xuất phát điểm của công tác đàm phán có thể sẽ là biểu cam kết của cả hai bên vốn là
phần phụ lục trong GATS. Tuy nhiên, các biểu của EC trong các FTA hiện hành và chào
cam kết dịch vụ của EC trong vòng Đô-ha là một gợi ý có giá trị để biết EU sẵn sàng tự
do hóa hơn nữa lĩnh vực dịch vụ đến mức độ nào. Một vấn đề khác cần xem xét là những
yêu cầu của EC đưa ra trong bối cảnh vòng Đô-ha. Có thể những yêu cầu này cũng sẽ
được đưa ra trong bối cảnh FTA.

5

Nên lưu ý rằng đối với Việt Nam, một trong những lợi ích của FTA là các điều khoản gắn
với hợp tác kinh tế và điều tiết pháp lý, việc này có thể còn quan trọng hơn việc tiếp cận
thêm thị trường, với những cam kết và chào cam kết vốn đã rất rộng rãi của EC trong
WTO.
4. Những cam kết tiêu biểu trong các FTA của EU
Cung cấp qua biên giới
Một chương đặc biệt được dành cho cung cấp dịch vụ qua biên giới. Chương này liên
quan đến việc chuyển tải, thường là qua phương tiện điện tử, dịch vụ từ một nước này
sang nước khác. Điều này ngầm nói đến sự sẵn có đường dây viễn thông và Internet hiệu
quả.


này”. Việc định nghĩa như vậy dường như đã loại trừ khỏi phạm vi MFN bất kỳ hiệp định
nào ký kết với những đối tác thương mại nhỏ và không quan trọng. Đây không phải là
trường hợp các nước ASEAN đối với Việt Nam. Theo đó, Việt Nam có lẽ nên cân nhắc
để có quan điểm vững chắc về loại điều khoản như vậy hoặc cần xác định một định nghĩa
có thể giúp loại trừ các đối tác ASEAN. Còn có những loại trừ khác khỏi phạm vi MFN
có lợi cho các nước CARIFORUM. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không có điều khoản MFN
nào được đưa vào cho phương thức qua biên giới trong hiệp định EU-Colombia và Peru.
Vì vậy, Việt Nam về khía cạnh này có thể dùng tiền lệ của hiệp định EU-Colombia và
Peru có sau hiệp định EU-CARICOM để từ chối điều khoản về MFN giống như trong
Hiệp định EU-Hàn Quốc và EU- Colombia và Peru.
Quyền thành lập
Một chương đặc biệt cũng được dành cho quyền thành lập. Chương này không chỉ quan
tâm đến cung ứng dịch vụ qua sự hiện diện thương mại (Phương thức 3 của GATS) mà
cả đầu tư nói chung, bao gồm những ngành phi dịch vụ. Tuy vậy nó loại trừ đầu tư trong
khai khoáng, chế tạo và chế biến vật liệu hạt nhân; và sản xuất hoặc buôn bán vũ khí, đạn
dược và thiết bị phục vụ chiến ttanh.

Chương về quyền thành lập trong FTA có những mục liên quan đến tiếp cận thị trường
và đối xử quốc gia giống như chương về [cung cấp] qua biên giới. Chúng đều là tham
chiếu như nhau cho biểu cam kết với những điều hạn chế giống nhau.

Trong chương này cũng có một điều khoản MFN mở rộng thêm quyền lợi của bất kỳ
“hiệp định hội nhập kinh tế” nào của một Bên đối với một Bên khác. Phản ánh Chương
qua biên giới của FTA EU-CARIFORUM, cả hai hiệp định đều có những hạn chế nhất
định đối với điều khoản MFN này, cụ thể là hiệp định EU-Hàn Quốc (chỉ về khía cạnh
thành lập). Một lần nữa cần lưu ý rằng FTA EU-Colombia và Peru không có điều khoản
MFN trong Chương về Thành lập.

Hiệp định EU-CARIFORUM có một số điều khoản yêu cầu các bên hợp tác chống nạn


Các hiệp định cũng quy định điều khoản đó đối với các dịch vụ có cam kết về qua biên
giới hoặc thành lập, các bên phải cho phép nhập cảnh và lưu lại tạm thời 90 ngày trong
giai đoạn 12 tháng bất kỳ đối với người chào bán dịch vụ kinh doanh.

Trên thực tế, Việt Nam dường như đã trao những ưu đãi này cho các nhà đầu tư EU. Phía
EU thì không như vậy. Do đó, Việt Nam có thể hưởng lợi từ những điều khoản này.

Phức tạp hơn là sự thiếu vắng các cam kết WTO + gắn với các nhà cung cấp dịch vụ
theo hợp đồng và các nhà chuyên môn độc lập trong hiệp định EU-Hàn Quốc. Hiệp
định EU-CARIFORUM và EU-Colombia và Peru lại thoáng hơn về khía cạnh này. Trong
hiệp định EU-CARIFORUM, cac cam kết là một chiều: phía EU ưu đãi các nước
CARIFORUM. Trong hiệp định EU-Colombia và Peru, đó hoàn toàn là sự có đi có lại.

Những cam kết liên quan cho phép các nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng cung cấp
dịch vụ của mình trong địa phận của bên kia, phụ thuộc vào những điều kiện chung nhất
định và những điều kiện được nêu trong một biểu cụ thể. Những ngành dịch vụ quan
trọng được liệt kê trong cả hai hiệp định. Lẽ dĩ nhiên, Việt Nam hết sức quan tâm đến
việc đạt được những loại cam kết WTO + như vậy từ phía EU, kể cả với những điều kiện
khắt khe. Thay vào đó, Việt Nam không phải quá lo lắng về việc mở cửa cho các nhà
8

cung cấp dịch vụ và các nhà chuyên môn từ EU khi rõ ràng tồn tại rào cản về ngôn ngữ ở
Việt Nam.

Cuối cùng, hiệp định EU-CARIFORUM và EU-Colombia và Peru có những cam kết ưu
đãi những người nhập cảnh ngắn hạn vì mục đích công việc. Điều khoản về vấn đề này
trong các hiệp định không có vẻ gì là phức tạp bởi chúng dường như phản ánh những gì
đã có trên thực tế.
5. Quy định trong nước liên quan đến các ngành dịch vụ


thư tín, dịch vụ viễn thông, dịch vụ tài chính, dịch vụ hàng hải và du lịch. Mặc dù trong
số những quy định này có nhiều quy định mà trong các FTA của EU chỉ đơn giản là luật
hóa thông lệ hiện hành của GATS, đây là một yếu tố “GATS cộng” quan trọng của các
FTA.
Những điều khoản về quy định này không được phân tích chi tiết, tuy nhiên cần chú ý
đến những điểm nổi bật, chủ yếu là những khác biệt giữa các hiệp định. Có một số khác
biệt nhất định, nhưng chỉ một số ít có tác động đối với Việt Nam, ngoại trừ:
 Trong FTA EU- Hàn Quốc, một điều khoản yêu cầu quyết định về hồ sơ cho cung
cấp dịch vụ qua biên giới phải được đưa ra trong vòng 120 ngày kể từ ngày có hồ
sơ hoàn chỉnh được đưa vào mục văn bản chung về thủ tục cấp phép. Đưa một
điều khoản tương tự vào FTA EU-Việt Nam có thể dẫn đến việc cải tổ hành chính
trong một số cơ quan công quyền của Việt Nam.
 Có các điều khoản chi tiết về dịch vụ thư tín trong hiệp định EPA giữa EU-
Colombia và Peru. Chấp nhận điều khoản này trong FTA EU-Việt Nam có thể sẽ
đòi hỏi rà soát, đưa ra quy định trong nước và bảo vệ cạnh tranh trong lĩnh vực
thư tín ở Việt Nam.
 Hiệp định FTA EU-Colombia và Peru đưa thêm các điều khoản liên quan đến
những nhà cung cấp lớn trong dịch vụ viễn thông, trên thực tế là những nhà khai
thác hiện thời vào trong mục liên quan đến dịch vụ viễn thông. Đưa điều khoản
này vào FTA EU-Việt Nam sẽ không tránh được việc ảnh hưởng đến vị thế của
những nhà khai thác viễn thông lớn ở Việt Nam.
 Đưa vào các điều khoản chi tiết về dịch vụ du lịch, như hiệp định EPA EU-
CARIFORUM tất nhiên sẽ có tác động tích cực với Việt Nam như là với các nước
CARIFORUM.
 Hiệp định FTA EU-Colombia quy định rằng các bên phải “nỗ lực” nhằm “có các
văn bản quản lý thương mại dưới dạng bản mềm cho công chúng tiếp cận và chấp
nhận các văn bản hành chính gửi qua đường điện tử có giá trị pháp lý như bản
chính thức”. Tác động đối với Việt Nam cần được xem xét đánh giá nhưng thoạt
nhìn, những điều khoản này không có vấn đề gì.

chuyển của các nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng và các nhà chuyên môn độc lập để
có hiệu quả thiết thực. Thế hệ FTA mới của EU dành khả năng cho các bên đàm phán và
ký kết các thỏa thuận công nhận lẫn nhau. Những thỏa thuận như vậy là cần thiết để trao
cho các nhà chuyên môn những cam kết tiếp cận thị trường trên thực tế.

Các hiệp định FTA của EU quy định rằng các cơ quan chuyên môn liên quan trong các
ngành quy định trong phạm vi của mình, sẽ đưa ra những khuyến nghị về việc công nhận
lẫn nhau đối với những yêu cầu, văn bằng, giấy phép và những quy định khác trong
ngành của mình cho Ủy ban song phương như quy định trong hiệp định. Khi những
khuyến nghị đó được gửi đi và được nhận thấy nhất quán với hiệp định và có sự trao đổi
thảo luận giữa các bên liên quan, các bên sẽ bắt đầu đàm phán với quan điểm đi đến ký
kết một thỏa thuận về công nhận lẫn nhau đối với các yêu cầu, văn bằng, giấy phép và
những quy định khác.

Một rủi ro cơ bản của hình thức thủ tục này là việc các cơ quan chuyên môn của một
trong số các bên không hợp tác trong việc đưa ra những khuyến nghị như yêu cầu, do đó
có thể gây bế tắc trong việc ký kết một thỏa thuận công nhận lẫn nhau. Vì vậy, việc đưa
vào một điều khoản yêu cầu các bên khuyến khích các cơ quan chuyên môn đại diện
trong phạm vi của mình cùng nhau xây dựng và đưa ra những khuyến nghị về công nhận
lẫn nhau cho Ủy ban Thương mại là hết sức cần thiết trong FTA EU-Việt Nam. Cũng cần
11

khởi xướng đàm phán các thỏa thuận công nhận lẫn nhau với các ngành nghề được chọn
lọc song song với đàm phán FTA, giống như trong trường hợp đàm phán EU-Canada.
Quy định về trợ cấp và các biện pháp phòng vệ thương mại trong các ngành dịch vụ
Không hiệp định nào trong số các hiệp định phân tích có các điều khoản về trợ cấp và
biện pháp phòng vệ thương mại trong các ngành dịch vụ, điều đó cho thấy sự im lặng của
GATS về vấn đề này. Vì vậy, vấn đề này được trì hoãn sang các vòng đàm phán WTO
khác đang diễn ra mà tác giả của nghiên cứu này đã có ý kiến đóng góp (Hoạt động
WTO-4).


của EU không đảm bảo cho lĩnh vực này, bởi như đã nêu trong mục II ở trên, chúng loại
trừ hoàn toàn thủ tục visa khỏi phạm vi của hiệp định. Chúng chỉ yêu cầu các thủ tục này
không được làm ảnh hưởng quá mức hay làm vô hiệu hóa những cam kết đã trao. Tuy
nhiên, thực tế lại là như vậy.

Cuối cùng, như đã nói ở trên, tiếp cận thị trường dành cho các công ty và cá nhân tùy
thuộc vào yêu cầu về văn bằng chuyên môn có thể chẳng còn ý nghĩa gì nếu không có sự
công nhận lẫn nhau đối với văn bằng chứng chỉ chuyên môn của những người cung cấp
dịch vụ của các bên. Đạt được sự công nhận lẫn nhau có thể gặp khó khăn nếu không có
sự nhiệt tình hay sự quan tâm của các cơ quan chuyên môn để khởi xướng đàm phán một
thỏa thuận công nhận lẫn nhau. Sự công nhận lẫn nhau còn có thể bị ảnh hưởng nghiêm
trọng hơn nếu khuôn khổ giáo dục và luật định của một trong số các bên không hiệu quả.
Vì vậy, cần rà soát một cách nghiêm túc vấn đề này càng sớm càng tốt nhằm đảm bảo tất
cả các bên đều khai thác được hết các quyền lợi của hiệp định.
13

I. GIỚI THIỆU
Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đang chuẩn bị cho đàm phán hiệp định thương mại
tự do (FTA) giữa hai bên.

Nhất quán với thế hệ những FTA mới của EU, hiệp định FTA EU-Việt Nam được kỳ
vọng sẽ bao gồm không chỉ thương mại hàng hóa mà cả thương mại dịch vụ, những khía
cạnh quan trọng về đầu tư. Có khả năng FTA EU-Việt Nam sẽ được đàm phán theo
khuôn mẫu tương tự như FTA EU-Hàn Quốc và các FTA với Xinh-ga-po và Ma-lai-xi-a.
Vì vậy, quan trọng là phân tích những hiệp định này và so sánh chúng với những FTA
khác mà EU đã ký kết với các nước thứ ba. Những khác biệt và hàm ý đối với Việt Nam
cần phải được đánh giá trong bối cảnh này.

Tuy nhiên, chuẩn bị cho đàm phán thương mại dịch vụ không phải là việc dễ dàng. Nó

những biện pháp trong nước cụ thể cần có vào thời điểm cam kết. Vì vậy điều quan trọng
là xây dựng các biện pháp như vậy và nhấn mạnh mối liên quan nếu có với những chính
sách chung trong nước, ví dụ như chính sách cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, đều
được đề cập trong thế hệ các FTA mới của EU.
Báo cáo này phân tích các điều khoản liên quan đến tự do hóa thương mại dịch vụ và đầu
tư có trong thế hệ các FTA mới do EU ký kết. Báo cáo nhấn mạnh nội dung của những
hiệp định này theo từng chủ đề, quan điểm đàm phán giả định của EU đối với Việt Nam
và hàm ý cho kinh tế và quy định trong nước của Việt Nam.
Những hiệp định liên quan được phân tích gồm hiệp định FTA EU-Hàn Quốc, hiệp định
EPA EU-CARIFORUM, hiệp định FTA EU-Colombia và Peru. Phương pháp nghiên cứu
là nhận định những khác biệt trong từng hiệp định theo từng chủ đề liên quan và hàm ý
của chúng đối với Việt Nam.

Báo cáo này được chia thành các chương như sau:
1. Chương đầu tiên trước hết nêu mục tiêu và phạm vi phần dịch vụ và đầu tư trong
một hiệp định FTA của EU. Nó cũng khắc họa cấu trúc tổng thể của các biểu
cam kết trong một FTA, vốn khác so với biểu cam kết trong Hiệp định chung về
Thương mại dịch vụ trong WTO mà Việt Nam quen thuộc. Chương này cũng sơ
lược nhắc tới đối tượng và mục đích của các biểu cam kết cụ thể cũng như các
phương thức cung ứng. Cuối cùng, chương này sẽ nhấn mạnh những mối quan
tâm tổng thể của EU trong đàm phán dịch vụ.
2. Chương thứ hai đề cập vấn đề các cam kết tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia
trong các FTA của EU. Mục thứ nhất trước hết nói tới những cam kết gắn với
phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới. Mục thứ hai trình bày những cam
kết liên quan đến quyền thành lập của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.
Mục này thực chất sẽ bàn về các điều khoản đầu tư có trong các hiêp định. Mục
cuối cùng đề cập những cam kết về sự hiện diện tạm thời của thể nhân vì mục đích
công việc. Mục này đặc biệt quan trọng bởi thủ tục nhập cảnh phức tạp là một
trong những trở ngại lớn nhất đối với các nhà cung cấp dịch vụ không phải của
châu Âu trong việc hưởng lợi tiếp cận thị trường ở EU. Những ngoại lệ MFN cũng

Hiệp định FTA EU-Hàn Quốc, hiệp định EPA EU-CARIFORUM và hiệp định FTA EU-
Colombia và Peru hầu như giống nhau trong việc đề cập mục tiêu và phạm vi phần dịch
vụ và đầu tư của hiệp định FTA.
1. Mục tiêu
Mục tiêu của các FTA của EU liên quan đến dịch vụ và đầu tư như sau:

 Tạo ra một thị trường rộng hơn và đảm bảo cho lĩnh vực dịch vụ một môi trường
ổn định và có thể dự báo được cho lĩnh vực đầu tư, nhờ đó tăng cường năng lực
cạnh tranh của các công ty trên thị trường toàn cầu
 Tạo thuận lợi cho hội nhập khu vực và phát triển bền vững của các bên và sự hội
nhập suôn sẻ vào nền kinh tế thế giới (EU-CARIFORUM và EU-Colombia và
Peru)
 Đa dạng hóa xuất khẩu dịch vụ thông qua đầu tư mới và phát triển các ngành mới
(EU-CARIFORUM)
 Thiết lập khu vực thương mại tự do về dịch vụ
 Tự do hóa thương mại dịch vụ và đầu tư giữa các bên, tuân thủ theo Điều V của
Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ. Như đề cập trong Phần giới thiệu, đối
với Việt Nam là một nước đang phát triển, điều này có nghĩa là có những cam kết
“hơn nữa” so với những biểu trong GATS.
2. Phạm vi
Việt Nam được kỳ vọng sẽ có thêm cam kết đến mức độ nào là một vấn đề đối với đàm
phán. Về khía cạnh này cần nhấn mạnh rằng sự kỳ vọng chỉ là làm sâu sắc hơn nữa mức
độ cam kết trong một biểu cam kết. Điều này không nhất thiết dẫn đến tự do hóa thương
mại hơn nữa trong những ngành mà Việt Nam đã tự do hóa không cần các cam kết.

Giống như GATS, chương về dịch vụ và đầu tư của một FTA không bao gồm mua sắm
chính phủ. Khác với GATS, nó loại trừ trợ cấp dịch vụ. Điều này có nghĩa hiệp định FTA
hoàn toàn cho phép các điều khoản về trợ cấp dịch vụ , dù là dưới hình thức tài trợ, các
khoản vay, miến thuế,… kể cả khi chúng có tính phân biệt và chỉ trao cho các dịch vụ và
các nhà cung cấp dịch vụ trong nước. Tuy nhiên, hiệp định GATS vẫn được áp dụng và


Như trong GATS, hiệp định FTA bao gồm các biện pháp do một bên đề ra hoặc duy trì
mà có thể ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ. Các thuật ngữ “biện pháp do một bên đề ra
hoặc duy trì” được định nghĩa theo cách giống như trong GATS và đề cập bất kỳ biện
pháp nào, “dù là dưới hình thức một luật, quy định, quy tắc, thủ tục, quyết định, động thái
hành chính hay bất kỳ hình thức nào khác”, của “chính quyền và cơ quan có thẩm quyền
ở trung ương, vùng miền hay địa phương; và các cơ quan phi chính phủ thực hiện thẩm
quyền được chính quyền và cơ quan chức năng trung ương, vùng miền hay địa phương
giao phó.”

Cuối cùng, bởi đối tượng hưởng lợi của các cam kết tự do hóa thương mại chính là những
nhà cung cấp dịch vụ, đó có thể là thể nhân (cá nhân) hay pháp nhân (các công ty). Thông
thường, để hưởng lợi từ hiệp định, một cá nhân phải là công dân của EU hoặc của đối tác
kia của hiệp định. Một công ty phải đăng ký tại một trong hai bên và tiến hành kinh
doanh thực sự trên lãnh thổ của một trong các bên tham gia hiệp định.
18 Tóm lại, trong khi phần văn bản của khuôn mẫu do Ủy ban châu Âu sử dụng không có
vấn đề gì khi xét về mục tiêu và phạm vi của phần dịch vụ và đầu tư, cần xem xét việc xử
lý vấn đề trợ cấp trong các ngành dịch vụ (xem chương 3 dưới đây) và các quy tắc cần
được làm rõ liên quan đến thủ tục visa và nhập cảnh vào thị trường việc làm đối với
người lao động của đối tác Bên kia.
II.2. Cấu trúc tổng thể các biểu cam kết trong một hiệp định FTA của EU

Phần dịch vụ và đầu tư trong thế hệ các FTA mới của EU có cấu trúc hơi khác so với
khuôn mẫu chuẩn của GATS. Thực chất, thương mại qua biên giới (phương thức 1 và 2
của GATS), sự hiện diện thương mại (phương thức 3) và sự hiện diện của thể nhân
(phương thức 4) được đề cập trong các chương riêng biệt
1

cấp bởi một nhà cung cấp của một thành viên, thông qua sự hiện diện của thể nhân của thành viên đó trên lãnh thổ
của bất kỳ một thành viên nào khác.
19 1. Thương mại dịch vụ theo Phương thức 1, 2 và 4
2. Các cam kết cụ thể về Thành lập

Trong hiệp định EU-CARIFORUM, các cam kết của những nước Cariforum được trình
bày trong một biểu duy nhất cho cả bốn phương thức cung cấp, giống như trong GATS.
Trong hiệp định EU-Colombia và Peru, Colombia đưa ra cam kết theo khuôn mẫu như
Hàn Quốc.

Đối với Việt Nam, quan trọng là xác định cấu trúc biểu cam kết của mình và quyết định
liệu có muốn làm việc trên cơ sở những cam kết hiện thời của mình trong GATS hay,
giống như Hàn Quốc và Colombia, có một biểu cam kết riêng cho Phương thức 3 (quyền
thành lập). Trong khi, trên quan điểm pháp lý, như vậy là không phù hợp, nhưng điều này
có thể tạo thuận lợi cho việc phân công trách nhiệm trong công tác chuẩn bị và đàm phán
trong nội bộ hành chính của Việt Nam
II.3. Những mối quan tâm chung của EU trong đàm phán dịch vụ
1. Những mối quan tâm về dịch vụ
2

Cộng đồng châu Âu (EC) đến nay vẫn là nhà cung cấp dịch vụ lớn nhất thế giới, sở hữu
một lĩnh vực dịch vụ rất lớn và có đẳng cấp. Điều đó có ảnh hưởng rất lớn đối với đàm
phán về thương mại dịch vụ, với đại diện là Diễn đàn dịch vụ châu Âu (ESF) vốn rất
năng động, là hiệp hội thương mại của các ngành dịch vụ châu Âu và có vai trò đối thoại
chính với các chính phủ châu Âu và nước ngoài.
Về đàm phán song phương, Diễn đàn ESF nêu rõ rằng
“Mục đích tối quan trọng đối với các ngành công nghiệp châu Âu trong đàm

trình hội nhập khu vực trên khắp thế giới, quá trình có thể giúp họ cung cấp cho những
thị trường hội nhập rộng lớn hơn và giàu có hơn.
Về nguyên tắc, các chính phủ trong cộng đồng EC và các ngành dịch vụ sẽ ủng hộ kết
quả thành công của Vòng Đô-ha. Tuy nhiên, sự thất bại tiềm tàng của Vòng đàm phán
này đương nhiên sẽ khiến sự chú ý được chuyển sang các FTA. Diễn đàn ESF rõ ràng
cho thấy sự quyết tâm theo đuổi tiến trình đàm phán và sự tham gia tích cực với ý định
củng cố vị thế của EC. Những văn bản thú vị về phần bối cảnh chính là do ESF đệ trình
liên quan đến các FTA EU-Xinh-ga-po, EU-Ấn Độ và EU-MERCOSUR.
2. Cơ sở đàm phán
Như đã nêu trong phần giới thiệu, xuất phát điểm của đàm phán có thể sẽ là biểu cam kết
của cả hai bên trong phụ lục GATS. Tuy nhiên, các biểu của EC trong các FTA hiện
hành và bản chào dịch vụ của EC trong Vòng Đô-ha là một chỉ dẫn có giá trị cho thấy
mức độ EU sẵn sàng tự do hóa ngành dịch vụ đến đâu.
Nói chung, trong WTO, EC đã có một trong những biểu cam kết GATS đầy đủ nhất về
phạm vi các ngành quy định. Hơn nữa, trong Vòng Đô-ha, EC đã trình hai bản chào các
cam kết bổ sung, vào tháng 06/2003 và 07/2005. Bản chào thứ nhất, đại diện của 15 nước
thành viên EU lúc bấy giờ, đề xuất rỡ bỏ một số hạn chế tiếp cận thị trường và đối xử
quốc gia quy định trong biểu của EC trong GATS và thêm vào một danh mục Các nhà
chuyên môn độc lập trong cam kết của EC về di chuyển thể nhân (Phương thức 4).
Chẳng hạn, các bản chào về vận tải biển cho phép tiếp cận hoàn toàn vận tải biển quốc tế
và sử dụng các cảng của EC mà không bị phân biệt, cũng như quyền thành lập (sự hiện
diện thương mại) để cung cấp dịch vụ vận tải biển và các dịch vụ kèm theo. Những cam
kết mới cũng được chào đối với ngành vận tải hàng không, dịch vụ điều hành mặt đất và
quản lý sân bay. Bản chào tổng thể của EC đã cải thiện tiếp cận thị trường với ngành viễn
21

thông, xây dựng, du lịch, vận tải và dịch vụ tài chính. Cũng có một bản chào về “dịch vụ
chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe” theo yêu cầu của một số nước đang phát triển.
Tuy nhiên, không số nào trong các bản chào của EC bao gồm các cam kết trong dịch vụ
nghe nhìn bởi lập trường bảo vệ của EC liên quan đến các chính sách văn hóa. (Tuy vậy

hạn chế về sản xuất, phân phối, tiếp thị, bán hàng và chuyển phát dịch vụ, mà cả những
hạn chế về mua sắm, thanh toán hay sử dụng do hạn chế trong việc truy cập và sử dụng

Trích đoạn Thương mại điện tử NHỮNG NGOẠI LỆ CHUNG NHỮNG SÁNG KIẾN BỔ SUNG TRONG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC THI PHÁT SINH TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC FTA CỦA
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status