BÁO CÁO
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC ĐIỀU KHOẢN VỀ CẠNH TRANH
TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) ĐỐI VỚI VIỆT NAM MÃ HOẠT ĐỘNG: FTA- 7C
Nhóm chuyên gia:
Jean-Francois Bellis
Lê Triệu Dũng
Nguyễn Anh Thư
2. Cách tiếp cận của EU đối với vấn đề cạnh tranh trong các FTA
Nhìn chung, EU ủng hộ mạnh mẽ các quy tắc về cạnh tranh trong WTO. Việc tập trung vào vấn
đề cạnh tranh trong thương mại quốc tế như vậy được phản ánh phần nào qua cấu trúc các Hiệp
định EC đã ký (đều có điều khoản về cạnh tranh). Sau Hội nghị Bộ trưởng Singapore năm 1996,
EU đã tìm cách thuyết phục các thành viên WTO chấp thuận các nguyên tắc cơ bản về cạnh
tranh như tính minh bạch, không phân biệt đối xử, và công bằng về thủ tục, cũng như việc cấm
các tập đoàn lũng đoạn độc quyền. Tuy nhiên, những nỗ lực để đạt được một thỏa thuận đa
phương về chính sách cạnh tranh đã không thành công. Mặc dù mối quan hệ giữa thương mại và
chính sách cạnh tranh đã được đưa vào chương trình làm việc của Vòng đàm phán Đôha tại Hội
nghị Bộ trưởng Đôha năm 2001, tháng 7 năm 2004, Đại hội đồng lại quyết định là mối quan hệ
này sẽ không còn là một phần của Chương trình làm việc đó và cũng sẽ có việc đàm phán nội
dung này trong vòng đàm phán Đôha.
Mặc dù các nước phát triển, đặc biệt là EU với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và Nhật Bản, đã tích cực
tìm cách đưa những nguyên tắc đa phương về cạnh tranh vào WTO, nhưng hầu hết các nước
đang phát triển cho đến nay đều không cho đó là cần thiết. Một số quốc gia đang phát triển vốn
không có nhiều kinh nghiệm về các nguyên tắc cạnh tranh trong nước tỏ ra quan ngại về những
khó khăn và chi phí liên quan đến việc thực thi Luật Cạnh tranh. Ngoài ra, nhiều nước đang phát
triển cho rằng các nguyên tắc đa phương về cạnh tranh sẽ hạn chế họ theo đuổi và ban hành
những chính sách phát triển cụ thể. Hơn nữa, các nước đang phát triển lo ngại là nội dung các
cuộc thảo luận và đàm phán về các nguyên tắc cạnh tranh đa phương sẽ bị chi phối bởi lợi ích
của các nước phát triển. Do đó, các nước đang phát triển thường nghĩ rằng các nguyên tắc đa
phương về cạnh tranh chủ yếu tập trung vào nội dung tiếp cận thị trường chứ không phải việc
phòng chống các hoạt động phản cạnh tranh như vậy.
Mặc dù các tổ chức quốc tế như Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Hội nghị Liên
hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đã thảo luận nhiều về chủ đề này, nhưng
cạnh tranh vẫn được coi là một lỗ hổng pháp lý ở cấp độ đa phương. OECD đã đưa ra những
khuyến nghị không mang tính bắt buộc và những thực tiễn tốt nhất để đối phó với những tập
đoàn lũng loạn độc quyền, hợp tác chống cạnh tranh và rà soát việc sát nhập. UNCTAD thì hỗ
3.1. Điều khoản về chống độc quyền
Một nội dung quan trọng và phổ biến trong điều khoản quy định về cạnh tranh của hai FTA trên
là quy định coi sự lạm dụng vị trí thống trị và tập trung quyền lực vào các công ty gây cản trở
cạnh tranh hiệu quả là vi phạm nghĩa vụ chống cạnh tranh được quy định trong hiệp định
2
.
3.2. Điều khoản về doanh nghiệp công và doanh nghiệp có đặc quyền
Hai hiệp định đều có điều khoản quy định không cho phép các bên tạo lập hay duy trì độc quyền
nhà nước hay độc quyền tư nhân, song về mặt ngôn ngữ cũng có những khác biệt giữa hai hiệp
định. Các hiệp định cũng quy định doanh nghiệp phải tôn trọng Luật Cạnh tranh miễn là việc áp
dụng luật này không ảnh hưởng đến việc thực hiện các nhiệm vụ doanh nghiệp được giao theo
1
Xem chương 11 - FTA EU - Hàn Quốc và Mục VIII - FTA EU – Colombia và Peru.
2
Xem Điều 11.1(3) - FTA EU - Hàn Quốc và Điều 259(2) - FTA EU – Colombia và Peru.
7
luật hay trong thực tế.
3
3.3. Điều khoản về trợ cấp
Khác biệt giữa các điều khoản quy định về cạnh tranh trong hai FTA này là FTA EU ký với Hàn
Quốc có thêm quy định về trợ cấp, qua đó loại bỏ việc trợ cấp phản cạnh tranh gây bóp méo
thương mại quốc tế
4
. Quy định này giúp loại bỏ 2 loại trợ cấp sau:
3
Xem Điều 11.4 và 11.5 - FTA EU - Hàn Quốc và Điều 263 - FTA EU – Colombia và Peru.
4
Xem Điều 11.9 – 11.5 - FTA EU - Hàn Quốc.
5
Vụ kiện mã số DS273, Hàn Quốc – Các biện pháp ảnh hưởng đến thương mại trong ngành đóng tàu. Báo cáo
Ban Hội thẩm ngày 7 tháng 3 năm 2005 và vụ kiện mã số DS299, EU – Các biện pháp chống bán phá giá đối
với sản phẩm DRAM nhập khẩu từ Hàn Quốc. Báo cáo Ban Hội thẩm ngày 17 tháng 6 năm 2005
6
Xem Điều 11.3 - FTA EU- Hàn Quốc và Điều 260 - FTA EU – Colombia và Peru
8
quyền phòng vệ thỏa đáng.
7
3.5. Điều khoản về tham vấn và hợp tác
Hai hiệp định đều có các điều khoản đề ra các nguyên tắc cơ bản về tham vấn và hợp tác giữa các
bên. FTA EU ký với Hàn Quốc nêu rõ việc hợp tác phải dựa trên “Thỏa thuận giữa EU và Hàn
Quốc về hợp tác đối với vấn đề hoạt động phản cạnh tranh”
8
ký ngày 23 tháng 5 năm 2009 (gọi
tắt là Thỏa thuận hợp tác). Thỏa thuận này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2009 và đề ra các
mục tiêu cũng như các công cụ hợp tác kỹ thuật giữa các cơ quan quản lý về cạnh tranh của EU và
Hàn Quốc (FTA tập trung hơn vào các nội dung mang tính thực chất). Mục đích của thỏa thuận
này là nhằm thực thi hiệu quả Luật Cạnh tranh của mỗi bên thông qua việc tăng cường, thúc đẩy
hợp tác và phối hợp giữa các cơ quan quản lý về cạnh tranh và tránh hoặc giảm bớt khả năng xung
9
thỏa thuận đó là nhằm (i) hợp lý hóa cơ cấu tổ chức hay quy mô kinh doanh và tăng hiệu
quả, (ii) thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ,
(iii) thúc đẩy việc áp dụng thống nhất tiêu chuẩn về chất lượng và các chỉ tiêu kỹ thuật của
một số loại sản phẩm, (iv) thống nhất điều kiện kinh doanh, giao hàng và thanh toán nhưng
phải không liên quan đến giá hay bất kỳ yếu tố nào về giá, (v) tăng khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, hay để (vi) làm tăng khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế. Bộ trưởng Bộ Công Thương (MOIT) sẽ
quyết định về việc cho hưởng hay không việc miễn trừ này.
Tẩy chay và đấu thầu gian lận được coi là những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bất kể thị
phần nắm giữ của doanh nghiệp có liên quan là bao nhiêu và không được hưởng miễn trừ.
Liên quan đến việc lạm dụng vị trí độc quyền, doanh nghiệp đang nắm giữ vị trí độc quyền
sẽ bị cấm bán thấp hơn giá thành, cố định giá bán, giá mua, hay giá bán lại tối thiểu một
cách không hợp lý, hạn chế sản xuất và phân phối, hạn chế thị trường hay phát triển kỹ
thuật, công nghệ, áp dụng các điều kiện thương mại phân biệt đối xử, áp đặt điều kiện ký
kết hợp đồng, không cho hoặc ngăn cản các doanh nghiệp khác gia nhập thị trường. Doanh
nghiệp được coi là giữ vị trí độc quyền nếu (i) chiếm 30% thị phần hoặc hơn ở thị trường
liên quan hoặc (ii) có khả năng ngăn cản đáng kể cạnh tranh. Một nhóm các doanh nghiệp
hoạt động cùng nhau được coi là nắm giữ vị trí thống lĩnh thị trường nếu như các doanh
nghiệp này có thị phần kết hợp chiếm 50% trở lên với nhóm 2 doanh nghiệp, 65% trở lên
với nhóm 3 doanh nghiệp hoặc 75% trở lên với nhóm trên 4 doanh nghiệp.
Luật Cạnh tranh của Việt Nam cũng có quy định về kiểm soát sáp nhập. Theo đó giao dịch
sáp nhập nhằm tạo lập hình thái ‘kinh tế tập trung’ phải được thông báo trước khi sáp nhập.
Việc sáp nhập theo định nghĩa bao gồm: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp,
mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hành vi cũng như dạng
dụng độc quyền, còn vụ việc thứ tư liên quan đến cáo buộc về hạn chế cạnh tranh. Báo cáo
thường niên năm 2010 của VCA có chỉ ra là có 18 vụ việc được “điều tra trước khi xảy ra
tranh chấp”. Về kiểm soát sáp nhập, VCA nhận được 8 thông báo và 30 yêu cầu tư vấn.
Đã có 2 vụ việc mà quyết định cuối cùng đã được đưa ra và thực hiện, các biện pháp xử
phạt cũng đã được áp dụng: một vụ việc liên quan đến cáo buộc về lạm dụng độc quyền và
vụ việc còn lại liên quan đến một tập đoàn trong lĩnh vực bảo hiểm.
Vụ việc đầu tiên là vào năm 2008, VCA bắt đầu tiến hành điều tra chống lại công ty
VINAPCO là công ty duy nhất ở Việt Nam có giấy phép kinh doanh cung cấp nhiên liệu
cho các hãng hàng không thương mại tại các sân bây trong nước. Vụ việc này liên quan
đến việc công ty đột ngột chấm dứt việc cung cấp cho hãng hàng không nội địa Jetstar
Pacific Airlines trong bối cảnh có sự tranh chấp về chi phí nhiên liệu. Năm 2009, VCA đã
phát hiện công ty VINAPCO lạm dụng vị trí độc quyền của mình trên thị trường nhiên liệu
hàng không tại Việt Nam và vi phạm Luật cạnh tranh, và đã xử phạt công ty này số tiền
phạt tương ứng 0,05% tổng doanh thu của năm 2007 (cụ thể là 3.378.000 đồng).
Năm 2009, VCA cũng đã tiến hành điều tra đối với 19 công ty bảo hiểm phi nhân thọ vì
các công ty này đã tham gia ký kết một thỏa thuận về mức phí bảo hiểm thiệt hại vật chất
cho xe ô tô. 19 công ty này có thị phần thống kê chiếm tới 99,97% thị trường dịch vụ bảo
hiểm liên quan. Năm 2010, VCA phát hiện ra rằng thỏa thuận ấn định giá này đã vi phạm
Luật cạnh tranh và áp đặt mức tiền phạt tương ứng 0,025% tổng doanh thu năm 2009 của
các công ty có liên quan (tổng số lên tới 1,7 tỷ đồng).
11 4.5. Đánh giá của VCA về các vụ việc cưỡng chế thực thi ghi trong báo cáo thường
niên năm 2010.
VCA nêu trong báo cáo thường niên năm 2010 (xuất bản bằng tiếng Anh)
b) Cập nhật báo cáo về các hình thái kinh tế tập trung năm 2011; 10
Báo cáo thường niên năm 2010 bản tiếng Anh của cơ quan quản lý về cạnh tranh của Việt Nam có thể tham
khảo tại địa chỉ: http://www.qlct.gov.vn/Web/Content.aspx?distid=3941&lang=en-US.
12
c) Hoàn tất việc điều tra các vụ việc đang chờ xử lý;
d) Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan có liên quan trong việc thực thi luật cạnh tranh;
e) Cung cấp dịch vụ tư vấn trước kiện tụng để hỗ trợ các công ty trong việc chuẩn bị
khiếu nại hoặc đảm bảo tuân thủ;
f) Tiến hành điều tra trước kiện tụng đối với những thị trường có mức độ tập trung cao và
khả năng hạn chế cạnh tranh cao để thiết lập cơ sở dữ liệu phục vụ cho điều tra;
g) Tăng cường hợp tác với các tổ chức quản lý ngành.
5. Khuyến nghị đối với việc đàm phán quy định cạnh tranh trong FTA giữa EU
và Việt Nam
Một số quan chức của Việt Nam vẫn còn quan ngại về một FTA ký với EU và trong đó có quy
định về cạnh tranh. Rõ ràng, chính phủ Việt Nam không nhận thấy được mối liên hệ giữa thương
mại và cạnh tranh và do đó đang tự hỏi vì sao phải có điều khoản trong FTA với EU. Do vậy,
chính phủ Việt Nam cần thấy kinh nghiệm trong quá khứ của EU trong bối cảnh hội nhập thương
mại mà ở đó quy định về cạnh tranh đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là các quy định về cạnh
tranh trong các FTA mà EU ký kết với các nước khác. Trong quá trình hội nhập châu Âu, các
chính sách về cạnh tranh chính là kết quả của các quy định về thương mại tự do trong thị trường
thực thi đã được nêu tại phần 4.5 trên đây.
Một vấn đề đã không được nêu trong chuyến công tác của tác giả vào tháng 8 năm 2011 đó là
liệu có thích hợp để đưa một quy định về trợ cấp trong điều khoản quy định về cạnh tranh trong
FTA có thể có giữa EU và Việt Nam hay không. Trợ cấp trong nước không nằm trong phạm vi
điều chỉnh của Luật Cạnh tranh Việt Nam điều này không giống với chế độ trợ cấp của các nước
trong EU. Vấn đề này không được đề cập trong bất kể cuộc thảo luận có ý nghĩa nào với cả VCA
cũng như với Hội đồng Cạnh tranh Việt Nam. Tác giả nghĩ rằng việc cân nhắc có hay không một
quy định về trợ cấp như trong FTA giữa EU và Hàn Quốc là không thích hợp để áp dụng vào
trường hợp của Việt Nam khi xét đến khía cạnh là trong lịch sử mối quan hệ thương mại giữa
EU và Việt Nam không hề có vụ tranh chấp thương mại nào liên quan đến trợ cấp.