ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Nguyễn Thị Lan
Pháp luật thương mại hàng hóa Hoa Kỳ - cơ hội và thách
thức đối với Việt Nam khi giao lưu thương mại hàng hóa
với Hoa Kỳ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Pháp luật thương mại hàng hóa Hoa Kỳ - cơ hội và thách
thức đối với Việt Nam khi giao lưu thương mại hàng hóa
với Hoa Kỳ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Đinh Ngọc Vượng
Hà Nội - 2006
Nguyễn Thị Lan CH-K9/Chuyên ngành Luật Quốc Tế – Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội
Luận văn tốt nghiệp
4
2.2 Những cơ hội cho Việt Nam khi quan hệ thƣơng mại hàng hóa với Hoa
Kỳ 54
2.2.1 Cơ hội về một thị trường giàu tiềm năng 54
2.2.2 Cơ hội về việc làm và nâng cao tay nghề cho người lao động 59
2.2.3 Cơ hội cho các doanh nghiệp học hỏi và thích nghi 61
2.2.4 Động lực thúc đẩy sự nhận thức pháp lý 62
2.2.5 Cơ hội nhập khẩu những mặt hàng chất lượng cao của Hoa Kỳ 63
2.2.6 Tiểu kết 63
2.3 Những thách thức khi Việt Nam quan hệ thƣơng mại hàng hóa với Hoa
Kỳ 64
2.3.1 Thách thức về năng lực xuất khẩu 64
2.3.2 Thách thức trước sự cạnh tranh gay gắt và quyết liệt 65
2.3.3 Sự thách thức trước các biện pháp bảo hộ sản xuất nội địa của Hoa
Kỳ 67
2.3.4 Tranh chấp thương mại 68
2.3.5 Một số khó khăn khác 72
2.3.5.1 Hệ thống pháp luật thương mại hàng hóa của Hoa Kỳ 72
2.3.5.2 Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO 73
2.3.5.3 Khoảng cách địa lý và tập quán thanh toán 73
2.3.5.4 Tiêu chuẩn về kỹ thuật và an toàn thực phẩm 74
2.3.5.5 Rào cản do áp lực về an ninh chính trị 76
2.3.6 Tiểu kết 76
CHƢƠNG 3. NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƢỚC VÀ CÁC
DOANH NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH XÚC TIẾN QUAN HỆ THƢƠNG
MẠI HÀNG HÓA VỚI HOA KỲ 77
3.1 Xây dựng chính sách vĩ mô 77
3.1.1 Tăng cường mối quan hệ ngoại giao chính trị 77
Châu Thái Bình Dƣơng
BTA
The Vietnam – US Bilateral Trade Agreement – Hiệp định
thƣơng mại song phƣơng Việt Nam – Hoa Kỳ
CBI
Caribean Basin Initiative – Sáng kiến vùng lòng chảo Caribê
CVD
Countervailing Duties – Thuế chống trợ giá
DOC
US Department Of Commerce – Bộ thƣơng mại Hoa Kỳ
DWPE
Detention Without Physical Examination – Giữ hàng không
cần qua kiểm tra vật lý
FDA
Food and Drug Administration – Cơ quan quản lý an toàn thực
phẩm và dƣợc phẩm Hoa Kỳ
GATT
General Agreement on Tariffs and Trade – Hiệp định chung về
thuế quan và thƣơng mại
GDP
Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội
GSP
Generalized System of Preferences – Chế độ ƣu đãi thuế quan
phổ cập
HTS
Harmonized Tariff Schedule – Bảng thuế quan Hoa Kỳ
MFN
Most Favored Nation – Tối huệ quốc
NAFTA
North American Free Trade Agreement – Hiệp định tự do
tuệ thế giới
WTO
World Trade Organisation – Tổ chức thƣơng mại thế giới Nguyễn Thị Lan CH-K9/Chuyên ngành Luật Quốc Tế – Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội
Luận văn tốt nghiệp
8
DANH MỤC CÁC BẢNG
Ký hiệu bảng
Nội dung bảng
Bảng 1.2
Mẫu Biểu thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ
Bảng 2.1
Bảng thị phần hàng Việt Nam tại Hoa Kỳ
báu cho Chính phủ và cả giới doanh nghiệp Việt Nam. Mặc dù vậy những bài
học kinh nghiệm ấy còn quá ít ỏi, rủi ro và tổn thất sẽ không chỉ dừng lại ở
đó. Hơn nữa chúng ta đang tiếp thu kinh nghiệm một cách quá thụ động, cần
đặt câu hỏi tại sao và nguyên nhân vì đâu dẫn đến những rủi ro ấy? Việc trả
lời câu hỏi này không chỉ là trách nhiệm của riêng giới kinh tế học mà còn
của cả giới chính trị học và giới luật học.
Có thể khẳng định rằng, một nguyên nhân cơ bản của vấn đề chính là sự ấu
trĩ trong cách tìm hiểu và nắm bắt luật chơi. Chúng ta quan hệ thƣơng mại với
Hoa Kỳ song việc tìm hiểu các chính sách và pháp luật thƣơng mại Hoa Kỳ
mới chỉ đƣợc tiến hành một cách sơ sài. Đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam
trong khi ra sức xuất khẩu hàng hoá vào thị trƣờng Hoa Kỳ vẫn chƣa suy tính
hết về những rào cản thƣơng mại có thể phát sinh, chƣa tìm hiểu cặn kẽ những
Nguyễn Thị Lan CH-K9/Chuyên ngành Luật Quốc Tế – Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội
Luận văn tốt nghiệp
10
quy định nghiêm ngặt của pháp luật thƣơng mại Hoa Kỳ, và chƣa ý thức đƣợc
vai trò quan trọng của pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi của chính mình .
Chính vì vậy mà quan hệ thƣơng mại với Hoa Kỳ luôn mang tính hai mặt: nó
sẽ vừa là thời cơ vừa là thách thức đối với Việt Nam. Trƣớc tình hình đó, việc
nghiên cứu và tìm hiểu về pháp luật thƣơng mại của Hoa Kỳ đã trở thành một
nhu cầu thiết yếu để Việt Nam có thể nắm bắt cơ hội tốt hơn và hạn chế đƣợc
tối thiểu những rủi ro trong quá trình quan hệ thƣơng mại với quốc gia này.
Do khả năng còn hạn chế và thời gian nghiên cứu không cho phép nên
luận văn chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu và bình luận những vấn đề trong phạm
vi thƣơng mại về hàng hoá chứ không phải thƣơng mại theo nghĩa rộng bao
gồm cả thƣơng mại dịch vụ, thƣơng mại đầu tƣ, hay thƣơng mại sở hữu trí
tuệ…. Mặc dù vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Pháp luật thương mại hàng hoá
Hoa Kỳ - Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam khi giao lưu thương mại
hàng hoá với Hoa Kỳ” vẫn là yêu cầu cấp thiết cả về mặt lý luận cũng nhƣ
- Khái quát về chính sách pháp luật thƣơng mại hàng hoá của Hoa Kỳ
- Tính hai mặt của một vấn đề: Quan hệ thƣơng mại hàng hoá với Hoa
Kỳ vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với Việt Nam.
- Những kiến nghị về các giải pháp cần thực hiện để tận dụng cơ hội và
đối phó với thách thức khi Việt Nam quan hệ thƣơng mại hàng hóa với Hoa
Kỳ.
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài còn đang là vấn đề tƣơng đối mới mẻ cho nên các công trình nghiên
cứu khoa học về nội dung này còn rải rác và chƣa có chiều sâu. Do vậy luận
văn sẽ góp phần làm phong phú hơn cho các thƣ mục tài liệu liên quan đến đề
tài, giúp cho những ngƣời quan tâm tới Pháp luật thƣơng mại hàng hoá Hoa
Nguyễn Thị Lan CH-K9/Chuyên ngành Luật Quốc Tế – Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội
Luận văn tốt nghiệp
12
Kỳ có một cái nhìn bao quát hơn về một nhánh luật của quốc gia này. Luận
văn có chỉ ra một số nguyên nhân và các biện pháp cần thiết để khắc phục
những thách thức đã, đang và có thể sẽ phát sinh trong quá trình Việt Nam
trao đổi hàng hoá với Hoa Kỳ. Đồng thời, thông qua việc xác định những cơ
hội và thách thức mà Việt Nam phải đối mặt, luận văn cũng đề cập tới vấn đề
hoàn thiện pháp luật và nâng cao ý thức pháp luật nói chung nhằm tạo ra một
môi trƣờng pháp lí thích ứng với những mối quan hệ xã hội mới trong một
thời đại mới.
kinh tế thế giới, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trƣờng
thì khái niệm thƣơng mại không còn chỉ dừng lại ở những hoạt động buôn bán
hàng hóa, nó đã đƣợc mở rộng hơn rất nhiều. Ngày nay, thƣơng mại đƣợc
hiểu là hoạt động cung cấp, trao đổi của cải hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền
tệ v.v… giữa hai hay nhiều đối tác với nhau, và có thể nhận lại một giá trị nào
đó, có thể bằng tiền thông qua giá cả hoặc bằng hàng hóa, dịch vụ khác thông
qua hình thức thƣơng mại hàng đổi hàng.
Theo Luật mẫu về trọng tài thƣơng mại (United Nations Commission
on International Trade Law - UNCITRAL), thuật ngữ "thƣơng mại" phải đƣợc
giải thích theo nghĩa rộng để khái quát hết các vấn đề phát sinh từ tất cả các
quan hệ có bản chất thƣơng mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ
Nguyễn Thị Lan CH-K9/Chuyên ngành Luật Quốc Tế – Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội
Luận văn tốt nghiệp
14
có bản chất thƣơng mại bao gồm (nhƣng không bị giới hạn) những giao dịch
sau: bất cứ giao dịch thƣơng mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc
dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thƣơng mại; uỷ thác hoa
hồng (factoring), cho thuê (leasing); xây dựng các công trình; tƣ vấn; kỹ thuật
(engineering); đầu tƣ; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác
hoặc tô nhƣợng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp
hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đƣờng biển,
đƣờng không, đƣờng sắt hoặc đƣờng bộ…, đều đƣợc coi là giao dịch thƣơng
mại. Đặc biệt trong Hiệp định Thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ, khái niệm
thƣơng mại cũng đƣợc hiểu là tất cả những hoạt động kinh doanh sinh lời, chứ
không phải chỉ có hoạt động mua bán hay xuất nhập khẩu thông thƣờng. Theo
đó, khái niệm thƣơng mại sẽ bao hàm thƣơng mại hàng hoá, thƣơng mại dịch
vụ, thƣơng mại quyền sở hữu trí tuệ, thƣơng mại về đầu tƣ…
Có thể thấy, khái niệm thƣơng mại theo nghĩa rộng đã đƣợc hầu hết các quốc
gia và các tổ chức kinh tế trên thế giới ghi nhận mà điển hình là sự ghi nhận
In economics and marketing, a service is the non-material
equivalent of a good. Service provision has been defined as an
economic activity that does not result in ownership, and this is
what differentiates it from providing physical good. It is claimed
to be a process that creates benefits by facilitating either a
change in customers, a change in their physical possessions, or
a change in their intangible assets [45].
Tạm dịch: Trong kinh tế học và trong kinh doanh, dịch vụ là một loại hàng
hóa phi vật chất. Việc cung ứng dịch vụ đƣợc mô tả giống nhƣ một hoạt động
kinh tế mà hệ quả của hoạt động đó không phải là quyền sở hữu, đây chính là
điểm khác biệt so với việc cung ứng hàng hóa vật chất. Nó phải là một quá
trình tạo ra lợi nhuận bằng cách thúc đẩy sự thay đổi đối với chính ngƣời tiêu
dùng, hoặc thay đổi sự sở hữu tài sản vật chất của họ, hoặc thay đổi đối với
Nguyễn Thị Lan CH-K9/Chuyên ngành Luật Quốc Tế – Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội
Luận văn tốt nghiệp
16
những tài sản vô hình của họ.
Theo quan điểm của Hoa Kỳ: “Dịch vụ - Các hoạt động kinh tế - nhƣ
giao thông vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, bƣu chính viễn thông, quảng
cáo, công nghiệp giải trí, xử lý dữ liệu và tƣ vấn - thƣờng đƣợc tiêu dùng nhƣ
khi chúng đƣợc sản xuất, khác với các hàng hóa kinh tế thƣờng mang tính hữu
hình hơn” [10].
Nhìn chung “dịch vụ” đƣợc coi là một dạng tƣơng đƣơng với “hàng
hóa”, phi vật chất, giống nhƣ một loại hoạt động kinh tế nhằm tạo ra lợi
nhuận.
“Đầu tƣ” với định nghĩa dễ hiểu nhất thì là việc đặt tiền hoặc vốn vào
một trạng thái có thể có rủi ro với mục đích kiếm lợi nhuận [41]. Quan điểm
này không có nhiều ý kiến tranh luận, hoặc có ý kiến khác thì nội dung các
quan điểm cũng không phủ định lẫn nhau nên có thể coi đây là một định nghĩa
vùng lục địa mới này, ngƣời Anh đã mang theo cả truyền thống pháp luật
common law và cũng đã có sự cải tiến cho phù hợp với những điều kiện đặc
thù của Châu Mỹ, vì vậy mà ngƣời ta ghi nhận rằng pháp luật Hoa Kỳ đã phát
triển từ trật tự pháp luật Anh. Thuật ngữ “common law” vốn đƣợc hiểu là
“luật chung” hay còn gọi là “thông luật”, và ở Hoa Kỳ, luật thƣơng mại đƣợc
phát triển thông qua các phán quyết của Tòa án.
Tuy nhiên, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ vốn là một nhà nƣớc cộng hòa
tổng thống, do vậy, cho dù Hoa Kỳ theo truyền thống thông luật - ngƣời ta
vẫn gọi là hệ thống bất thành văn, thì bản Hiến pháp Liên bang lại là một
nguồn luật đặc biệt quan trọng đối với hệ thống pháp luật nói chung và pháp
luật thƣơng mại hàng hóa nói riêng của quốc gia này khi nội dung của Hiến
pháp quy định về quyền hạn của từng cơ quan lập pháp - hành pháp - tƣ pháp.
Các chế định về dân sự - thƣơng mại đƣợc quy định rải rác ở các bang, và khi
các hoạt động thƣơng mại trở nên phát triển mạnh mẽ đã đòi hỏi cần phải có
Nguyễn Thị Lan CH-K9/Chuyên ngành Luật Quốc Tế – Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội
Luận văn tốt nghiệp
18
một bộ luật chung thống nhất có hiệu lực đối với tất cả các bang thuộc liên
bang. Hệ quả của nhu cầu thiết yếu đó là sự ra đời của Bộ luật thƣơng mại
thống nhất (Uniform Commercial Code, thƣờng đƣợc viết tắt là UCC), lần
đầu tiên đƣợc xây dựng vào những năm 50 và đƣợc sửa đổi khá nhiều lần.
Tuy có tên gọi là “bộ luật”, nhƣng đây chỉ là một văn bản hệ thống luật lệ
thƣơng mại, bao gồm trong đó tất cả các văn bản riêng rẽ có liên quan đến
thƣơng mại. UCC bao gồm các điều khoản cơ bản về mua bán, cho thuê, các
chứng từ lƣu thông đƣợc, tiền gửi ngân hàng và nhờ thu của ngân hàng,
chuyển khoản bằng điện tử, thƣ tín dụng, bán hàng khối lƣợng lớn, chứng từ
quyền sở hữu, chứng khoán đầu tƣ và giao dịch có bảo đảm. Bộ luật này đƣợc
áp dụng trong hầu hết tất cả các tiểu bang, trừ tiểu bang Louisiana, một bang
nghiêng về dân luật đã không thông qua các điều khoản về mua bán. Bộ luật
thành những bài báo có tính hệ thống để thuận tiện cho việc tham khảo. Ví
dụ: những phán quyết của Tòa án tối cao Supereme Court đƣợc xuất bản
thành những tập sách chính thức gọi là United States Reports. Những phán
quyết đƣợc trích dẫn cùng tên của các bên tham gia tố tụng, cùng tên sách, tên
gọi bài báo, số trang và năm xuất bản… Khi không có sự điều chỉnh của
những quy định Hiến pháp và các đạo luật thì các Tòa án bang và Tòa án Liên
bang thƣờng đối chiếu với thông luật - đó là tuyển tập các quyết định tƣ pháp,
tập quán và quy tắc chung đã có từ nhiều thế kỷ trƣớc đó.
Án lệ hay hay tiền lệ tƣ pháp là một nguồn luật bổ sung khá hiệu quả.
Đó là cách giải thích pháp luật của Tòa án trƣớc đó hoặc là cách giải thích
pháp luật của Tòa án cấp cao hơn đối với một vụ việc tƣơng tự. Tiền lệ của
Tòa án liên bang sẽ đƣợc áp dụng cho tất cả các tòa án liên bang cấp dƣới. Và
tiền lệ cũng đƣợc áp dụng ở nhiều hệ thống Tòa án các tiểu bang, do vậy loại
nguồn luật này đang càng ngày càng phát triển cả về số lƣợng lẫn nội dung
diễn giải [23 tr. 18, 19] .
Tóm lại nguồn của pháp luật thƣơng mại hàng hóa Hoa Kỳ bao gồm cả
Nguyễn Thị Lan CH-K9/Chuyên ngành Luật Quốc Tế – Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội
Luận văn tốt nghiệp
20
loại nguồn luật thành văn lẫn nguồn luật bất thành văn. Ngoại trừ bản Hiến
pháp thì nguồn luật thành văn không đƣợc bố cục một cách chặt chẽ trong
những văn bản pháp quy thống nhất với tên gọi Bộ Luật đƣợc ban hành theo
đúng trình tự thủ tục mà mới chỉ tồn tại dƣới dạng các công trình tập hợp,
thống kê và sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật rời rạc lại với nhau,
đƣợc áp dụng tƣơng đối triệt để trên toàn Liên bang. Và mặc dù có nguồn luật
thành văn nhƣng nguồn đó vẫn luôn mang dấu ấn và thừa nhận vai trò quan
trọng của án lệ hay tiền lệ. Đó chính là đặc trƣng tiêu biểu của hệ thống pháp
luật Anh - Mỹ nói chung.
1.2.2 Hệ thống các quy định pháp luật thương mại hàng hóa Hoa Kỳ
định chung của pháp luật Liên bang mà còn là những quy định pháp luật của
mỗi bang trong số 50 tiểu bang. Mặc dù Hiến pháp Hoa Kỳ qui định quyền
quản lí ngoại thƣơng và thu thuế xuất nhập khẩu thuộc về các cơ quan quản lí
nhà nƣớc Liên bang, nhƣng vẫn có những quy định pháp luật của một số bang
ảnh hƣởng gián tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu. Các quy phạm pháp luật
có sự đan xen khá phức tạp, nhất là khi các quy phạm pháp luật lại không phải
chỉ là những quy phạm nằm trên văn bản cụ thể, chúng còn là những phán
quyết của Tòa án khi xét xử một vụ việc khác, hoặc chúng cũng có thể là cách
giải thích pháp luật theo ý thức chủ quan của vị thẩm phán nào đó. Có những
vụ việc tƣởng chừng nhƣ rất tƣơng tự để có thể vận dụng cách giải quyết của
án lệ nào đó, thế rồi luật sƣ lại vẫn có thể lí giải rằng hai vụ việc không hề
tƣơng tự nhau bằng cách phân biệt sự khác nhau giữa những yếu tố khách
quan của vụ việc đang giải quyết với các sự kiện đã dẫn đến quyết định trƣớc
đó [23 tr. 18-19]… Không giống nhƣ ở Việt Nam, mặc dù hệ thống các văn
bản luật và hƣớng dẫn luật còn khá chồng chéo, nhƣng các luật gia và đƣơng
sự vẫn có thể tra cứu các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành một cách dễ
dàng và đầy đủ, những văn bản đó có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc. Còn tại
Nguyễn Thị Lan CH-K9/Chuyên ngành Luật Quốc Tế – Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội
Luận văn tốt nghiệp
22
Hoa Kỳ, các quy định pháp luật của tiểu bang này có thể lại khác so với quy
định pháp luật của tiểu bang khác, thậm chí có những hành vi thƣơng mại mặc
dù pháp luật Liên bang không điều chỉnh nhƣng lại rất có thể là hành vi vi
phạm pháp luật của tiểu bang nào đó khi đối chiếu với những quy định của
pháp luật Tiểu bang ấy. Mối quan hệ của nhiều hệ thống pháp luật trong một
hệ thống pháp luật của một quốc gia chắc chắn sẽ dẫn đến hiện tƣợng đan
chéo nhau, gây ra những vấn đề phức tạp trong quá trình áp dụng. Chẳng hạn,
sự khác biệt về kinh tế, văn hóa, truyền thống, lịch sử, dân tộc… của mỗi
bang sẽ ảnh hƣởng đến hệ thống pháp luật của bang đó; thẩm quyền của Liên
qua biểu thuế nhập khẩu – hay còn gọi là biểu thuế quan hoặc biểu thuế quan
hài hòa (Harmonized Tariff Schedule-HTS); cách tính trị giá hải quan (hay
còn gọi là trị giá chịu thuế nhập khẩu); các yêu cầu đối với Hóa đơn thƣơng
mại; nguyên tắc xác định xuất xứ hàng hóa và đánh dấu xuất xứ hàng hóa.
→ Biểu thuế nhập khẩu HTS hiện hành của Hoa Kỳ (có thể tra cứu
bằng cách truy cập vào địa chỉ website của Uỷ ban
thƣơng mại quốc tế Hoa Kỳ) là biểu thuế đƣợc ban hành trong Luật Thƣơng
mại và Cạnh tranh Omnibus năm 1988 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm
1989. Hệ thống thuế nhập khẩu của quốc gia này đƣợc xây dựng trên cơ sở hệ
thống thuế quan của một tổ chức liên chính phủ có trụ sở tại Bruxen với tên
gọi là Hội đồng Hợp tác hải quan. Hệ thống thuế quan này đƣợc hầu hết các
quốc gia thƣơng mại lớn áp dụng.
Hoa Kỳ có chính sách khuyến khích nhập khẩu hàng nguyên liệu
và hàng sơ chế hơn là nhập khẩu các loại hàng thành phẩm. Chính sách này
thể hiện ở mức thuế nhập khẩu đánh vào hàng hóa là thành phẩm cao hơn so
với thuế suất đánh vào loại hàng hóa là nguyên liệu hoặc hàng sơ chế. Theo
đó, hàng chế biến càng qua nhiều công đoạn, hay còn gọi là chế biến càng sâu
thì thƣờng bị áp thuế suất nhập khẩu càng cao. Ví dụ, mức thuế nhập khẩu cá
Nguyễn Thị Lan CH-K9/Chuyên ngành Luật Quốc Tế – Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội
Luận văn tốt nghiệp
24
tƣơi sống hoặc ở dạng philê đông lạnh từ một quốc gia thuộc diện đối xử Tối
huệ quốc là 0%, trong khi đó mức thuế suất nhập khẩu hàng cá khô hoặc xông
khói cũng từ quốc gia thuộc diện đối xử tối huệ quốc là từ 4% đến 6%. Các
mức thuế suất nhập khẩu hàng hóa có thể thay đổi và đƣợc Hoa Kỳ công bố
hàng năm. Phƣơng pháp tính thuế nhập khẩu tại nƣớc này cũng khá đa dạng,
có thể căn cứ theo tỉ lệ giá trị hàng hóa nhập khẩu, hoặc số lƣợng hàng hóa
nhập khẩu, hoặc cũng có thể kết hợp cả hai loại thuế tính theo hai phƣơng
pháp trên, ngoài ra còn có một số loại thuế khác đối với hàng hóa nhập khẩu
Có những loại mặt hàng khác khi đƣợc nhập khẩu vào Hoa Kỳ sẽ phải
chịu thuế hạn ngạch. Thuế hạn ngạch là một mức thuế suất cao hơn đƣợc áp
dụng đối với hàng nhập khẩu sau khi một số lƣợng hàng cụ thể đã đƣợc nhập
vào nƣớc này trong một năm. Hàng hóa nhập khẩu nằm trong phạm vi hạn
ngạch cho phép đƣợc hƣởng mức thuế thấp hơn, còn hàng nhập mà vƣợt quá
hạn ngạch sẽ phải chịu thuế suất cao hơn nhiều và có hệ quả giống nhƣ cấm
nhập khẩu. Theo nguồn tin của Thƣơng Vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cho biết,
mức thuế tối huệ quốc năm 2002 áp dụng với số lƣợng trong hạn ngạch bình
quân là 9%, trong khi đó mức thuế đối với số lƣợng vƣợt quá hạn ngạch trung
bình là 53%. Hiện nay một số mặt hàng nhƣ thịt bò, các sản phẩm sữa, đƣờng
và các sản phẩm lạc, thuốc lá, bông là đang phải chịu thuế hạn ngạch.
Bên cạnh những quy định về các cách tính thuế nêu trên, Hoa Kỳ còn
có những chế độ thuế quan khác nhau khi nhập khẩu hàng hóa từ những nhóm
quốc gia nhất định, tùy theo những thỏa thuận chung giữa Hoa Kỳ và các
quốc gia ấy. Do sự khác nhau này mà biểu thuế của Hoa Kỳ có ba cột thuế
gồm: cột thuế tối huệ quốc, cột thuế phi tối huệ quốc và cột thuế ƣu đãi.
Cột thuế tối huệ quốc (Most Favored Nation-MFN) bao gồm những
mức thuế dành cho tất cả các nƣớc có quan hệ thƣơng mại bình thƣờng
1
, đƣợc
áp dụng với những nƣớc là thành viên của Tổ chức thƣơng mại thế giới
(WTO) và kể cả những nƣớc tuy chƣa phải là thành viên của WTO nhƣng đã
1
Quy chế Quan hệ Thƣơng mại Bình thƣờng (Normal Trade Relations - NTR) mà Hoa Kỳ sử dụng chính là
Quy chế Tối Huệ Quốc mà Tổ chức Thƣơng mại Thế giới WTO và nhiều nƣớc trên thế giới hiện đang sử
dụng.Sự chuyển tên này ở Hoa Kỳ diễn ra vào năm 1998, thời điểm mà có rất nhiều quốc gia có quy chế này.
Việt Nam đƣợc trao NTR từ năm 2001 nhƣng trên cơ sở xét theo từng năm. Hiện nay Việt Nam đang cố gắng
thƣơng thảo trên bàn đàm phán với Hoa Kỳ để đƣợc hƣởng Quy chế PNTR (Permanent Normal Trade
Relations) – Quy chế quan hệ thƣơng mại bình thƣờng vĩnh viễn chứ không phải là NTR xem xét theo từng