ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẾ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN CẤP ĐHQG
MÃ SỐ: CB.03.19
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA T ổ CHỬC THƯƠNG
MẠI THẾ GIỚI LIỀN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC:
Cơ HỘI VÀ THÁCH THỨC Đ ố i VỚI VIỆT NAM
* • •
TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chủ trì: Th.s. Nguyễn Thị Anh Thu
HÀ NỘI, THÁNG 9/2005
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LƯẬT CỦA T ổ CHỨC THƯƠNG
MẠI THẾ GIỚI LIÊN QUAN ĐEN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC:
Cơ HỘI VÀ THÁCH THỨC Đ ố i VỚI VIỆT NAM
* •
TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP Quốc TẾ
Đ A I H O C Q U Ố C G IA H À N Ộ I
TRUNG ĨẢ M THÔNG TIN THƯ VIÊN
(17 /
J : 6
/
4
4
4
6
7
9
11
11
12
13
13
Chính sách của các chính phủ
HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
Lịch sử hệ thông giáo dục đại học Việt Nam
Lịch sử hệ thống
Quá trình phát triển
Sự phát triển trên cơ sở đôi mới
Tác động của Đổi mới đối với giáo dục đại học
Xác định vơi trò của Nhà nước và các đối tác
Ả nh hưỏng của toàn cầu hoá
M ớ cửa hệ thống giáo dục đại học liên quan đến phút triển
kinh tể
Chính sách hội nhập khu vực va quốc tế trong giáo dục đại học
43
43
43
45
46
47
48
48
51
52
54
54
55
57
57
59
60
61
luôn được coi là một dịch vụ công do Nhà nước đảm trách việc cung ứng nhằm
đảm bảo sự phát triển phù hợp với nhu cầu quốc gia và thực hiện sự công bằng
trong tiếp cận thì việc coi giáo dục là một dịch vụ thương mại trong phạm vi điều
chỉnh của các quy tắc của Tổ chức Thương mại Thê' giới (WTO) đã gây ra những
phản ứng gay gắt và những cuộc tranh luận kéo dài. Ra đời vào năm 1994 sau
những vòng đàm phán thương mại đa biên kéo dài từ năm 1947 dưới tên gọi Hiệp
định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT), Tổ chức Thương mại Thế giới
đã phát triển nhanh chóng và có một vị trí hết sức quan trọng trong thương mại
quốc tế với 148 thành viên (tính đến ngày 13/10/2004) và chiếm 97% giao dịch
thương mại toàn cầu. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tổ chức này, các công cụ
pháp lý cũng dần được hoàn thiện đề điều chỉnh các mối quan hệ thương mại quốc
tế. Một trong hai trụ cột quan trọng nhất của WTO là Hiệp định chung về Thương
mại Dịch vụ bao trùm hầu hết các lĩnh vực dịch vụ trong đó có giáo dục.
Đối với một số người, không thể chấp nhận việc đưa giáo dục vào các cuộc
đàm phán thương mại và không thể coi giáo dục như các sản phẩm hàng hoá khác.
Đây sẽ là một thách thức rất lớn đối với ý nghĩa và vai trò của giáo dục đối với sự
phát triển của mỗi quốc gia. Nhưng đối với một số khác, thị trường giáo dục, trên
thực tế, đang vận hành như những thị trường khác và cần thiết được tự do hoá để
nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sự lựa chọn nhằm tối đa hoá hiệu quả và bảo vệ
quyền lợi của những người sử dụng dịch vụ.
Mặc dù các cuộc tranh luận đang ngày càng gay gắt và không tìm thấy sự
thoả hiệp thì đã có 53 quốc gia đồng ý mở cửa ít nhất một trong 5 lĩnh vực của hệ
thống giáo dục của nước mình. Các cuộc đàm phán cho hiệp định này dự tính được
kết thúc vào năm 2005 với sự tham gia của tất cả các quốc gia thành viên WTO.
Một khi Hiệp định này có hiệu lực, chắc chắn hệ thống giáo dục quốc dân của mỗi
nước sẽ bị tác động mạnh mẽ, nhất là đối với các nước đang phát triển luôn thiếu
nguồn lực để tự vệ và cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ từ bên ngoài.
Việt Nam đang tích cực chuẩn bị để ra nhập WTO vào năm 2005 và đương
nhiên phải chấp nhận mở cửa thị trường dịch vụ song song với thị trường hàng hoá.
Việc tuân thủ các quy định pháp lý của WTO trong khuôn khổ Hiệp định chung về
Với những lý do nêu trên, việc nghiên cứu GATS và những tác động của nó
đối với giáo dục đại học Việt Nam trở thành một nhu cầu cần thiết và cấp bách để
có được sự chuẩn bị tốt nhất và hiệu quả cao nhất cũng như tối đa hóa lợi ích từ
chính quá trình hội nhập.
3
cHUO N G I
HIỆP ĐỊNH CHUNG VỂ THƯƠNG MẠI DICH v ụ VÀ GIÁO DỤC
1. HIỆP ĐỊNH CHUNG VỂ THƯƠNG MẠI DỊCH v ụ (GATS) - CÔNG c ự MỚI CÙA
THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI TRONG LĨNH v ự c DỊCH v ụ
1.1. Sự cần thiết phải có GATS
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ là một trong những vãn kiện pháp
lý quan trọng nhất của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). WTO được hình
thành bởi Thoả thuận Marakech ngày 15 tháng 4 năm 1994, đánh dấu sự chấm dứt
của các vòng đàm phán thương mại đa phương được khởi động từ sau khi cuộc
Chiến tranh Thế giới ĩhứ II kết thúc. Bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1
năm 1995, WTO đã nhanh chóng trở thành một tổ chức lớn mạnh thống trị hầu như
toàn bộ các giao dịch thương mại trên thế giới. Trong khuôn khổ của WTO, GATS
bao gồm toàn bộ những quy tấc đa phương đầu tiên và duy nhất điều chỉnh thương
mại dịch vụ quốc tế. Hiệp định này đã được chính các quốc gia thoả thuận và xây
dựng nên một khuôn khổ pháp lý để các doanh nghiệp và cá nhân có thể thực hiện
các hoạt động thương mại dịch vụ.
GATS bao gồm hai phần: phần hiệp định khung tập trung vào các quy tắc
chung cho thương mại dịch vụ và phần hai gồm danh sách những cam kết cụ thể
của mỗi quốc gia đối với việc tiếp cận thị trường nội địa của các nhà cung cấp dịch
vụ nước ngoài.
Trên thực tế, các vòng đàm phán tự do hoá thương mại hàng hoá đã được
khởi động từ năm 1947 và đã đi đến những thoả thuận quan trọng điều chỉnh toàn
bộ thương mại hàng hoá trên thế giới. Tuy nhiên, thương mại dịch vụ chỉ được đưa
vào chương trình nghị sự của vòng đàm phán Uruguay và các cuộc đàm phán về
lĩnh vực này chỉ được bất đầu từ nãm 2000 trong khuôn khổ GATS.
hoá thương mại dịch vụ đã đạt được sự tãng trưởng mạnh mẽ, trở thành bộ phận
5
năng động nhất của nền kinh tế thế giới, chiếm 60% GDP của các nước phát triển,
60% sản xuất của thế giới và một nửa nhân công lao động. Việc thiếu vắng một
khuôn khổ pháp lý cho thương mại dịch vụ thế giới trở nên không bình thường và
tiềm ẩn nhiều nguy cơ: không bình thường vì những lợi thế tiểm tàng của việc tự
do hoá dịch vụ ít ra cũng quan trọng kJhong kém lĩnh vực thương mại hàng hoá, và
nguy cơ là khổng có một cơ sở pháp lý nào cho phép giải quyết thoả đáng tranh
chấp thương mại giữa các quốc gia.
Từ những năm 80, ý tưởng về các cuộc đàm phán đa phương trong lĩnh vực
dịch vụ đã được đưa ra và có nhiều tiến triển. Đến Hội nghị Punta del Este vào
tháng 9/1996 đánh dấu vòng đàm phán thương mại đa phương mới với tên gọi
“Vòng đàm phán Uruguay”, thì lĩnh vực dịch vụ mới thực sự được đặt lên bàn nghị
Sau vòng đàm phán Uruguay, Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ đã
được ấn định đối với các nguyên tắc chung coi như khuôn khổ pháp lý đa phương
cho các giao dịch quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ. Các cuộc đàm phán vẫn đang
diễn ra nhầm đi đến các cam kết riêng của từng quốc gia thành viên và sẽ được kết
thúc theo dự kiến vào năm 2005. GATS đã trở thành một bộ phận cấu thành quan
trọng của hệ thống thương mại đa biên trong khuôn khổ WTO và rõ ràng là một
quốc gia khi đã là thành viên của tổ chức này thì không thể từ chối không chấp
nhận các điều khoản của GATS.
Trong GATS, một số nguyên tắc lớn đã được lấy từ Hiệp định chung năm
1947 như điều khoản về quy chế tối huệ quốc (Điều II, GATS) hoặc trách nhiệm
minh bạch (Điều III và XXVIII của GATS) Đồng thời, GATS cũng bao gồm các
điều khoản mới như công nhận quy chế quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ (Điều VII),
xem xét đến các yếu tố tiền tệ (Điều XI), trợ giá (Điểu XIII) và các thị trường cồng
(Điều XV).
1.2. Nội dung chính của GATS
GATS bao gồm 29 điều khoản, chia làm hai phần chính: phần đầu bao gồm
các nghĩa vụ và các quy tắc chung khi cung cấp dịch vụ quốc tế và phần hai là
ra nhập vẫn có thể áp dụng quyền miễn trừ, với thời hạn tối đa là mười năm, cho
phép các quốc gia dành sự đãi ngộ phân biệt cho một số đối tác thương mại.
( “Điêu II.2. Mỗi thành viên cố thể giữ cách thức không phù hợp với khoản ỉ nêu
được đưa vào Phụ lục vê các miễn trừ nghĩa vụ được quy định tại Điêu II và thoả
mãn các điêu kiện được nêu trong phụ lục này”). Trong mọi trường hợp, những
miễn trừ này sẽ được xem xét trong vòng đàm phán tiếp theo về tự do hoá thương
mại1.
■ Minh bạch
Các kinh nghiệm đã có khi thực hiện Hiệp định chung về Thuế quan và
Thương mại đã cho thấy rằng các rào cản phi quan thuế rất khó được chứng minh
ỉà những rào cản lớn nhất đối với thương mại hàng hoá. Cũng như vậy, thương mại
dịch vụ là một lĩnh vực “vô hình” cũng sẽ phải chịu các rào cản “vô hình”. Nhằm
hoá giải tình trạng này, GATS áp đặt cho các thành viên phải công bố toàn bộ các
Luật, quy định, văn bản hành chính hoặc thoả thuận quốc tế tác động đến thương
mại dịch vụ: “Điều III.1. Mỗi thành viên sẽ công b ố trong thời hạn ngắn nhất và
trừ trường hợp khẩn cấp, chậm nhất là vào thời điểm có hiệu lực, toàn bộ các biện
pháp áp dụng chung nhằm vào hoặc tác động đến sự vận hành của thoả thuận này.
Các thoả thuận quốc tế liên quan hoặc tác động đến thương mại dịch vụ mà một
thành viên đã kỷ kết cũng sẽ phải được công bổ".
Hơn thế, mỗi quốc gia thành viên còn có quyền yêu cầu cung cấp thông tin
về thực tế áp dụng luật của các đối tác. Họ có quyền nhận được trong thời hạn sớm
nhất tất cả các chỉ dẫn về cách thức mà các thành viên khác áp dụng Hiệp định
hoặc về tác động của các thoả thuận quốc tế khác (Điều III.4). Với mục đích này,
mỗi quốc gia thành viên phải thành lập “một hay nhiêu điểm thông tin” chịu trách
nhiệm cung cấp các chỉ dẫn cụ thể đối với tất cả các câu hỏi.
1 Tổ chưc Liên Hiệp quốc. GATS-Sự thật và tường tượng, 2001
8
■ Giải quyết tranh chấp
Trước hết, với mục tiêu bảo vệ quyền lợi thương mại chính đáng, việc quản
lý các biện pháp tác động đến thương mại dịch vụ phải “hợp lý, khách quan và
(i)
số lượng các nhà cung cấp dịch vụ;
(ii)
tổng giá trị giao dịch;
(iii)
tổng số lượng hoạt động dịch vụ hoặc tổng khối lượng sản phẩm dịch vụ;
(iv)
tổng số lượng người có thể được sử dụng trong một lĩnh vực dịch vụ đặc
biệt;
(V)
giới hạn các dạng pháp nhân mà một nhà cung cấp dịch vụ có thể phục
(vi)
sự tham gia của vốn nước ngoài;
Đây cũng là điểm khác nhau cơ bản so với Hiệp định chung về Thuế quan
và Thương mại. Đối với giao dịch quốc tế về hàng hoá, không có bất kỳ sự hạn chế
nào được phép đưa ra. Tuy nhiên, sự bảo hộ có thể được giữ dưới dạng thuế áp tại
cửa khẩu ngay cả khi mục tiêu của Hiệp định này là hạ tới mức thấp nhất các rào
cản quan thuế và phi quan thuế.
Còn đối với dịch vụ, một khi đã mở cửa dịch vụ cho các nhà cung cấp nước
ngoài, không một chính phủ nào có thể kiểm soát được sự cung ứng dịch vụ. Đó
chính là tính chất “vô hình” của các dịch vụ quy định nên các giới hạn cần thiết với
điều kiện các hạn chế đó phải được ghi trong danh mục các cam kết. Dựa trên các
tiêu chí này, người ta cũng có thể đánh giá mức độ mở cửa thị trường của các dịch
vụ của mỗi quốc gia thành viên WTO.
■ Đãi ngộ quốc gia
“Điều W II.1 . Trong số các lĩnh vực đã được ghi trong danh mục, dựa trên các
điều kiện và hạn chế được nêu trong đó, về các biện pháp tác động đến việc cung
cấp dịch vụ, mỗi thành viên sẽ dành cho các dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ
10
của các thành viên khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn những gì dành cho
gọi chính thức “cung cấp xuyên biên giới”;
(ii) những người tiêu thụ của một quốc gia sử dụng dịch vụ ở một quốc gia
khác, tên gọi chính thức “tiêu thụ ở nước ngoài”;
(iii) một công ty của một quốc gia nào đó thành lập các chi nhánh để cung
cấp dịch vụ ở một nước khác, tên gọi chính thức “hiện diện thương mại”;
(iv) những người đến từ một quốc gia để cung cấp dịch vụ ở một nước khác,
tên gọi chính thức “di chuyển của thể nhân”
2.2. Cơ cấu của GATS
GATS được chia làm hai phần. Phần đầu bao gồm 29 điều khoản quy định
tất cả các nguyên tắc như là khuôn khổ pháp lý quan trọng cho tất cả các hoạt động
giao dịch quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ. Hiệp định nêu ra một số nghĩa vụ chung
áp dụng cho tất cả các dịch vụ mà quan trọng nhất là quy chế Tối huệ quốc (MFN).
Bên cạnh đó, mỗi thành viên tự đặt ra các nghĩa vụ riêng tuỳ theo các cam kết được
nêu trong danh mục. Đó là phần thứ hai rất linh hoạt của GATS để dành quyền chủ
động lập pháp quốc gia cho mỗi thành viên.
Vì nguyên tắc cơ bản của GATS là các nước đang phát triển có thể tự do
hoá ít lĩnh vực dịch vụ và các dạng giao dịch do điều kiện phát triển, những cam
kết của các nước này nhìn chung là hẹp hơn các nước công nghiệp hoá. Với vai trò
của một “khuôn khổ những nguyên tắc và quy định đa phương cho thương mại
dịch vụ”, GATS xây dựng nên những quy tắc ứng xử của các quốc gia thành viên
nhằm tiến tới tự do hoá thương mại dịch vụ. Theo nghĩa đó, GATS được coi như
một hiệp định khung mà các thành viên được mời đưa ra phạm vi cụ thể qua các
cuộc đàm phán đa phương.
12
3. GIÁO DỤC TRỞ THÀNH MỘT DICH v ụ THƯƠNG MẠI
Trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền cũng như trong các văn bản chính thức
của Liên hiệp quốc và các cơ quan chuyên môn như Tổ chức Văn hoá, Khoa học
và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO), giáo dục luôn được nhìn nhận như
một quyền cơ bản của con người phải được chính quyền đảm bảo. Các chính phủ
cũng ý thức được về tầm quan trọng của giáo dục, nhất là giáo dục đại học đối với
hình thức du học, một hình thức cung cấp dịch vụ khác từ bên ngoài nhờ có các
tiến bộ vượt bậc của công nghệ viễn thông cũng đang tăng trưởng nhanh và khuyến
khích sinh viên tiếp cận đào tạo đại học mà không cần đi xa. Các cơ hội mới đang
mở ra cho thị trường giáo dục.
Xuất khẩu dịch vụ giáo dục và tý lệ trên tổng giá trị xuát khẩu giai đoan 1970-2000
1970
1989
1997 2000
Triêu
USD
% Triêu
USD
%
Triêu
USD
% Triêu
USD
%
Australia
6
0.6 584 6.6 2190 11.8 2155 11.8
Canada
68
II
2.7 530
3 595 1.9 796 2.1
New-Zealand
1
280 6.6 199
4.7
thực tế này và chấp nhận các luật chơi của thị trường cho một cuộc cạnh tranh khó
xác định.
• Các phương thức cung cấp dịch vụ giáo dục
Theo cách phân loại của GATS, có bốn phương thức chính cung cấp dịch vụ
giáo dục:
a. C ung cấp xuyên biên giới: phương thức này sử dụng các công
nghệ mới cho việc giảng dạy từ xa (VD: phổ biến thông tin qua
đường truyền và vệ tinh, hội thảo trực tuyến, dữ liệu giáo dục,
giảng dạy qua mạng, giảng dạy từ xa, Internet);
b. Tiêu thụ ở nước ngoài: chi phí cho các dịch vụ được sử dụng ở
nước ngoài (nhất là sinh viên nước ngoài);
c. H iện diện thương mại', hình thành các chi nhánh của các nhà
cung cấp dịch vụ ở nước ngoài (VD: các chi nhánh đặt tại một
nước khác hoặc hợp tác với các cơ sờ giáo dục địa phương);
15
d. Di chuyển th ể nhân: bao gồm các giáo sư, các nhà nghiên cứu
khoa học ra nước ngoài để cung cấp dịch vụ giáo dục trong một
khoảng thời gian nhất định.
Hiện nay, thương mại dịch vụ giáo dục quốc tế chủ yếu tập trung vào
phương thức thứ hai với việc chi tiêu của sinh viên. Xu hướng học đại học tại các
cơ sở nước ngoài đã phát triển nhanh chóng từ vài thập kỷ nay và trong tương lai sẽ
còn tiếp tục tăng trưởng vì nhu cầu vẫn khổng ngừng tăng lên, nhất là ở các nền
kinh tế mới nổi. Hơn nữa, rất ít quốc gia tìm cách từ chối tham gia GATS trong
lĩnh vực này vì như vậy sẽ đồng nghĩa với việc hạn chế quyền ra nước ngoài của
công dân nước đó.
Tuy nhiên, với những tiến bộ vượt bậc của công nghệ thống tin và viễn
thông (ICT), phương thức cung cấp dịch vụ giáo dục thứ hai sẽ làm cho thị trường
trở nên tiềm năng hơn và hiệu quả kinh tế cao hơn. Ở một số quốc gia, luật về viễn
thông hạn chế việc sử dụng vệ tinh và ăng-ten thu phát có thể là những rào cản
thương mại đối với dịch vụ giáo dục. Tuy nhiên, nhu cầu tự do hoá dịch vụ thường
cung cấp nhân lực cho xã hội đã tạo ra ý thức về tầm quan trọng của thị trường
dịch vụ giáo dục quốc tế cũng như về cuộc cạnh tranh lớn dần giữa các cơ sở đào
tạo đại học và giữa các quốc gia để dành được thị phần trong lĩnh vực này.
Giao dịch quốc tế đối với dịch vụ giáo dục phát triển nhanh bắt nguồn chủ
yếu từ việc tăng cầu, đa dạng hoá cung và các chính sách quốc gia. Các hoạt động
này đã có nguồn gốc từ rất lâu nhưng chỉ tăng trưởng nhanh chóng trong các thập
niên gần đây.
3.2.1. Phong trào du học của sinh viên
ở quy mô quốc tế, xu hướng du học của sinh viên tăng nhanh vì một số lý do sau:
a. nhiều cơ hội lớn hơn so voi trong nước về chất lượng cũng như sự đa dạng
của các mô hình đào tạo;
ĐA! HOC Quốc '?IA HẢ NOI
TRUNG T/W THONG r|iỵ ~H1J VIỂN
1 7 /
b. nhiều thuận lợi để có được sự hiểu biết tốt hơn về các nền vãn hoá khác;
c. nhu cầu ngày càng tăng của thị trường lao động quốc tế để thu nhận nhân
công có trình độ và kỹ nãng được thế giới công nhận.
Phân bô sinh viên theo khu vực địa lý
□ My 31%
■ Anh 16
□ Tay Au 14%
□ Due 12%
■ Phap 9%
□ Uc 8%
■ Nuoc khac 6%
□ Nhat 4%
Nguồn: OECD 2000
Xu hướng tãng nhanh các dịch vụ giáo dục xuyên biên giới bất nguồn từ một
hoàn cảnh phức tạp hơn:
a. các cơ sở trong nước, nhất là ở các nước đang phát triển, không thể đáp ứng
a. Các cơ sỏ đào tạo của doanh nghiệp. Sự xuất hiện và phát triển của
các tập đoàn kinh tế đa quốc gia có thể coi là một đặc điểm quan
trọng của toàn cầu hoá ở nửa sau thế kỷ XX. Các tập đoàn này ngày
càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới và đổi khi còn
nắm quyền điều tiết thay cho chính quyền. Để đáp ứng nhu cầu
riêng, các tập đoàn này hình thành nên các cơ sở đào tạo nhân công
trên toàn thế giới nhưng đổng thời cung cấp dịch vụ đào tạo cho một
số thành phần kinh tẽ và khách hàng khác. Mô hình này được gọi là
2 OECD, Các phân tích chính sách giáo dục, 2003.
19
“đại học doanh nghiệp”. Có thể kể ra đây ví dụ của các tập đoàn như
Motorola, McDonald hay Microsoft. Các cơ sở đào tạo này có thể
thu hút rất nhiều sinh viên vì họ sẽ được đảm bảo có công việc sau
khi tốt nghiệp.
b. Các cơ sở đào tạo vì mục tiêu lợi nhuận. Các cơ sở này ngày càng có
vai trò quan trọng và chủ yếu tham gia vào phương thức đào tạo
xuyên biên giới. Mục tiêu của loại cơ sở này được xác định rõ ràng
và các cơ sở cũng hướng tới những dạng khách hàng nhất định. Khó
khăn cho các cơ sở này là phải thích nghi nhanh chóng với các nhu
cầu rất đa dạng và luôn thay đổi. Thông thường, các cơ sở này tập
hợp lại nhằm cung cấp dịch vụ ở trong và ngoài nước (được gọi là
các “tập đoàn thương mại”).
c. Các cơ sở đào tạo từ xa. Công nghệ thông tin và viễn thông và các
tác nhân chính thúc đẩy việc cung cấp dịch vụ giáo dục ở nước ngoài
với các phương pháp học tương hỗ và phổ biến các tài liệu sư phạm
như thư điện tử hay hội thảo trực tuyến. Những hình thức này bổ
sung thêm cho các loại hình đào tạo truyền thống. Hiện nay, phương
thức này chỉ chiếm một phần rất khiêm tốn trong các hoạt động đào
tạo nhưng lại hứa hẹn một sự tăng trưởng tiềm năng, đặc biệt là trong
lĩnh vực đào tạo của các doanh nghiệp và đào tạo cho người lớn.
cầu của sinh viên. Cho dù việc “nhập khẩu vô hình” này cũng tiêu tốn rất nhiều
tiền bạc nhưng người ta vẫn thấy có nhiều thuận lợi cho phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao và chuyển giao công nghệ.
Tóm lại, chính sự tăng nhanh của cầu, sự năng động của cung và chính sách
của các chính phủ được khảo sát trong phần này đã giải thích tầm quan trọng và sự
phát triển tiềm năng của thị trường giáo dục trên toàn thế giới.
Sự phát triển nhanh chóng này đã đặt ra câu hỏi cho các chính phủ về vị trí và
vai trò của họ, trực tiếp hay gián tiếp trong cung cấp tài chính, đề ra quy định.
21