Pháp luật của tổ chức thương mại thế giới (WTO) về hàng rào thương mại phi thuế quan - Pdf 25


đại học quốc gia hà nội
khoa luật

l-ơng thị thu nga pháp luật của tổ chức th-ơng mại thế giới (wto)
về hàng rào th-ơng mại phi thuế quan

luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội - 2008

Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÀNG RÀO
THƯƠNG MẠI PHI THUẾ QUAN CỦA TỔ CHỨC
THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)
7
1.1.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và vấn đề hạn chế các
hàng rào thương mại phi thuế quan
7
1.2.
Quan niệm pháp lý về hàng rào thương mại phi thuế quan
13
1.2.1.
Quan niệm pháp lý về hàng rào thương mại phi thuế quan của

Hiệp định về hàng rào kỹ thuật (Hiệp định TBT)
44
2.2.4.
Hiệp định về trị giá hải quan (Hiệp định CVA)
52
2.2.5.
Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại (Hiệp
định TRIMS)
55

Chương 3: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ
HÀNG RÀO THƯƠNG MẠI PHI THUẾ QUAN. CAM KẾT
CỦA VIỆT NAM VỚI WTO VỀ HÀNG RÀO THƯƠNG
MẠI PHI THUẾ QUAN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI
PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
61
3.1.
Pháp luật và thực tiễn của một số nước về hàng rào thương
mại phi thuế quan
61
3.1.1.
Pháp luật và thực tiễn của Hoa Kỳ về hàng rào thương mại phi
thuế quan
61
3.1.2.
Pháp luật và thực tiễn của Cộng đồng Châu Âu (EU) hàng rào
thương mại phi thuế quan
64
3.1.3.
Pháp luật và thực tiễn của Trung Quốc về hàng rào thương

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau mười một năm kể từ ngày chính thức nộp đơn xin gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), tháng 1/2007, Việt Nam đã chính thức trở
thành thành viên của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới này. Để làm được
điều này, Việt Nam đã phải vượt các vòng đàm phán song phương và đa
phương khó khăn, và phải hoàn thành một khối lượng công việc lớn về cải
cách thể chế và ban hành pháp luật để phù hợp với các định chế của WTO.
Gia nhập WTO, việc hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày
càng thực chất. Ngoài những cơ hội và lợi ích về kinh tế, thương mại và đầu
tư, Việt Nam cũng sẽ đối mặt với nhiều khó khăn. Quy chế thành viên WTO
của Việt Nam cũng không tạo ra sự dỡ bỏ hoàn toàn hàng rào trong thương
mại với 153 thành viên của tổ chức thương mại này. Khi là thành viên chính
thức của WTO, Việt Nam không những không loại bỏ hoàn toàn các rào cản
này mà còn tiếp tục đối mặt với các khó khăn đã tồn tại và các khó khăn mới
nảy sinh [2].
Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam không
ngừng gia tăng, từ 32,44 tỷ USD (năm 2005) lên 39,83 tỷ USD (năm 2006),
đạt 48,56 tỷ USD vào năm 2007, tăng 21,9% so với năm 2006 (thống kê hải
quan, thông tin hàng hoá xuất nhập khẩu, tình hình xuất nhập khẩu tháng 12
và cả năm 2005/2006 và 2007) [61]. Bên cạnh hoạt động sản xuất và tiêu thụ
tại thị trường nội địa, Việt Nam mong muốn mở rộng hơn nữa thị trường tiêu
thụ sản phẩm ra nước ngoài. Khi chưa tham gia WTO, hàng hóa xuất khẩu của
Việt Nam chịu nhiều thiệt thòi. Tuy nhiên, sau khi gia nhập, hàng xuất khẩu
của Việt Nam sẽ tiếp tục phải đối mặt với những biện pháp cản trở thương
mại từ các đối tác. Rào cản thương mại có thể là hàng rào thuế quan hoặc
hàng rào phi thuế quan. Dưới áp lực của hội nhập và tạo thuận lợi cho thương


thương mại thế giới" của Vụ Kế hoạch năm 2000; "Hệ thống rào cản kỹ thuật
trong Thương mại quốc tế và những giải pháp để vượt rào cản kỹ thuật của
các doanh nghiệp ở Việt Nam" năm 2002 và "Nghiên cứu các rào cản trong
Thương mại quốc tế và đề xuất các giải pháp đối với Việt Nam" năm 2004
của Viện Nghiên cứu Thương mại.
Ngoài ra là các bài viết như "Bảo hộ hợp lý nông nghiệp trong quá
trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế" của GS.TS. Bùi Xuân Lưu, Trường
Đại học Ngoại thương; "Giới thiệu về hạn ngạch thuế quan" của Nguyễn Hải
Yến, Vụ Chính sách Thương mại Đa biên, Bộ Thương mại (nay là Bộ Công
thương), tháng 8/2005; "Khía cạnh pháp lý của các biện pháp SPS" của Dự
án hỗ trợ thương mại đa biên II (MUTRAP II), Bộ Thương mại phối hợp cùng
Ủy ban Châu Âu thực hiện năm 2002
Hầu hết các công trình nghiên cứu và bài viết trên được thực hiện
trước khi Việt Nam gia nhập WTO, khi nước ta chưa bị ràng buộc bởi các
cam kết mở cửa thị trường và xóa bỏ các rào cản thương mại theo nghĩa vụ
WTO. Do đó, các công trình và bài viết này đã phân tích các quy định, thông
lệ của WTO về các biện pháp phi thuế quan khác nhau, có liên hệ và tìm hiểu
kinh nghiệm của một số nước trong sử dụng hàng rào thương mại phi thuế
quan nhằm đi sâu vào khía cạnh bảo hộ sản xuất trong nước trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế; hoặc nghiên cứu tính chất rào cản của các biện pháp
phi thuế quan trong tương quan so sánh với các biện pháp thuế quan mà
chưa nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống các biện pháp phi thuế quan
của WTO thông qua các Hiệp định đa biên tiêu biểu, cũng như chưa nghiên
cứu một cách tổng thể pháp luật và thực tiễn áp dụng các biện pháp phi thuế
quan của một số nước trên thế giới. Mặt khác, các công trình và bài viết này
nghiên cứu hàng rào thương mại nói chung dưới khía cạnh tác động tới chính
sách thương mại trong nước hơn là khía cạnh luật pháp. Do đó, dưới khía
cạnh luật pháp, luận văn này góp phần làm sáng tỏ hàng rào thương mại phi
thuế quan theo pháp luật của WTO một cách toàn diện và tổng thể, thông qua


Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn sẽ nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện các quy định và
thông lệ của WTO về việc áp dụng các biện pháp phi thuế quan phổ biến; các
quy định và thực tiễn điển hình về áp dụng các biện pháp phi thuế quan của một
số nước, nhóm nước gồm Hoa Kỳ, Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các Hiệp định của WTO, bao gồm:
- Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu (ILP);
- Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT);
- Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS);
- Hiệp định thực hiện điều VII của hiệp định chung về Thuế quan và
Thương mại 1994 (CVA);
- Hiệp định về biện pháp đầu tư liên quan đến Thương mại (TRIMS);
- Và một số hiệp định khác.
- Pháp luật của một số nước, nhóm nước như Hoa Kỳ, Châu Âu,
Trung Quốc, Nhật Bản, và Việt Nam.
Bên cạnh đó, luận văn cũng đưa ra một số đề xuất về hoàn thiện hàng
rào thương mại phi thuế quan cho phù hợp với tình hình mới, cung cấp một số
thông tin và đưa ra khuyến nghị đối với các cơ quan chính phủ, các Hiệp hội
và doanh nghiệp xuất khẩu vào một số thị trường lớn như Hoa Kỳ, Châu Âu
để hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đáp ứng được các yêu cầu về thủ tục và
kỹ thuật như quy định và pháp luật của WTO và các nước này.
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.

6
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê
và các phương pháp nghiên cứu truyền thống khác.
5. Ý nghĩa khoa học của luận văn

pháp hạn chế nhập khẩu trong một số trường hợp nhất định, nhằm bảo vệ sự
cân bằng của cán cân thương mại (Điều 12) hoặc duy trì các hình thức hỗ trợ
để phát triển kinh tế trong giai đoạn đầu phát triển, nâng cao mức sống của
người dân (Điều 18).
Tuyên bố Marrakesh ngày 15/4/1994 thể hiện quyết tâm của 124
Chính phủ tham gia Vòng đàm phán Urugoay về Đàm phán Thương mại Đa
biên trong việc thúc đẩy hơn nữa thương mại quốc tế; hoan nghênh việc cắt
giảm 40% thuế quan trên phạm vi toàn cầu và các thỏa thuận mở cửa thị
trường hàng hóa rộng hơn cho các đối tác thương mại. Cũng trong ngày
15/4/1994, Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới được ký kết tại
Marrkesh quy định cụ thể chức năng, cơ cấu tổ chức, cách thức hoạt động và
các quy định khác của WTO. Điều III (1) của Hiệp định Marrkesh quy định
chức năng của WTO là: Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, quản lý và
điều hành những mục tiêu khác của Hiệp định này và các Hiệp định Thương
mại Đa biên và cũng là một khuôn khổ cho việc thực thi, quản lý và điều hành
các Hiệp định Thương mại nhiều bên [35].
Một trong những chức năng hoạt động chính của WTO là tạo thuận lợi
cho thương mại quốc tế. Hoạt động tạo thuận lợi cho thương mại thể hiện

8
dưới nhiều hình thức, một trong các hình thức này là các quốc gia thành viên
cam kết cắt giảm thuế quan để mở cửa thị trường. Tuy nhiên, mở cửa thị
trường không đồng nghĩa với việc thả nổi thị trường nội địa cho hàng hóa
nước ngoài tự do xâm nhập. Song song với việc thực hiện cắt giảm thuế quan
theo các cam kết quốc tế song phương hoặc đa phương, các nước nhập khẩu
cần thiết lập các biện pháp hợp lý để tiếp tục bảo vệ thị trường trong nước,
thông qua đó bảo vệ ngành sản xuất, hoặc ít nhất là bảo vệ người tiêu dùng
Các biện pháp này được biết đến như là biện pháp phi thuế quan (NTM), hoặc
hàng rào phi thuế quan (NTB). Trong nhiều trường hợp, NTB hay NTM được
sử dụng với cùng một nghĩa và cùng một mục đích. Tuy nhiên, hai thuật ngữ

năm từ 1986-1994. Trong suốt quá trình đàm phán, các NTB mang tính chất
định lượng, hạn chế số lượng đã được chuyển hóa thành các biện pháp thuế
quan. Còn các NTB không mang tính định lượng khác được đưa vào nhóm
"các rào cản kỹ thuật". Cho tới nay, NTB vẫn là một vấn đề được quan tâm
nhiều tại Vòng đàm phán Doha của WTO những năm gần đây, với các nội
dung liên quan tới các biện pháp đầu tư, chính sách cạnh tranh, mua sắm
chính phủ, vấn đề tạo thuận lợi cho thương mại.
NTB trải qua một thời kỳ phát triển nhanh chóng khác sau khi Hiệp
định Marrakesh năm 1994 về thành lập WTO ra đời. Sự phát triển rộng rãi
của các hàng rào này đã tác động tiêu cực tới tự do thương mại, đối lập với
các nỗ lực cắt giảm thuế quan của các thành viên WTO. Một trong những lý
do tồn tại và phát triển của NTB là một khi đã xuất hiện, một biện pháp này sẽ
tồn tại rất lâu mà việc loại bỏ nó rất khó khăn và gây tốn kém về thời gian và
tiền bạc. Hoặc, khi đã loại bỏ biện pháp này thì biện pháp khác sẽ xuất hiện.
NTB, cũng như bất kỳ một chính sách bảo hộ nào khác đều có những mặt tích
cực và tiêu cực của mình. Nhìn chung, Chính phủ và thương mại nước sở tại
sẽ hưởng lợi nếu NTB được sinh ra với ý nghĩa như những tấm lá chắn bảo hộ
ngành sản xuất trong nước, hoặc bảo vệ sức khỏe người dân hay bảo vệ môi
trường. Ngược lại, Chính phủ nước ngoài và doanh nghiệp xuất khẩu sẽ phải
chịu nhiều chi phí vô hình phát sinh khi đối mặt với các biện pháp phi thuế

10
quan. Mặt khác, nếu hàng hóa không được nhập khẩu hoặc nhập khẩu hạn
chế, người tiêu dùng trong nước sẽ mất đi cơ hội mua hàng nước ngoài với
giá cả phù hợp và chất lượng tốt, vì cạnh tranh lành mạnh trong thương mại
chính là tiền để của sự phát triển, bên cạnh đó Chính phủ nước nhập khẩu mất
đi cơ hội thu thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài.
Đối với hàng hóa của các nước đang phát triển, xu hướng thiết lập
hàng rào phi thuế sau khi thành lập WTO đã tăng lên đáng kể [47, tr. 10]. Như
là thuế chống bán phá giá chẳng hạn, loại thuế này đại diện cho một công cụ

Các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước chậm phát triển là các
đối tượng chịu nhiều tác động nhất từ NTB. Năm 2002, UNCTAD/WTO đã
dự đoán rằng khoảng 40% hàng hóa xuất khẩu của các nước chậm phát triển
là đối tượng của các NTB. Đối với các nước đang phát triển, các nền kinh tế
chuyển đổi và các nước phát triển thì con số này chỉ là 15%.
NTB với vấn đề tự do hóa thương mại và tiếp cận thị trường:
Vòng đàm phán Urugoay đạt được nhiều kết quả về tự do thương mại.
Nhìn chung, thuế quan đã giảm tới ít nhất 1/3. Đặc biệt là các nước phát triển
phải giảm khoảng 38% thuế quan và tăng cường việc miễn thuế nhập khẩu
đối với các sản phẩm công nghiệp của nước đang phát triển từ 20-40%. Vòng
đàm phán Urugoay cũng thừa nhận việc chuyển đổi các biện pháp phi thuế quan
thành các biện pháp thuế quan tương ứng nhưng cho rằng việc chuyển đổi này
không bao giờ chính xác bởi sự khác nhau về phương pháp chuyển đổi được áp
dụng và sự khác nhau quá lớn giữa việc chuyển đổi thuế quan mang tính bảo hộ
và một bên là sự đánh thuế không lành mạnh.Ví dụ, ngành xuất khẩu của Ấn Độ
đã bị thiệt hại nặng nề vì một số rào cản định lượng khi xuất khẩu sang Mỹ, như
ngành may mặc và len. Nước này đã phải kiện Mỹ ra WTO vì Mỹ không có
lý do rõ ràng đối với cho việc áp dụng các rào cản này đối với hàng xuất khẩu
của Ấn Độ. Hoặc một số nước đã mở rộng quy chế đối xử ưu đãi đối với một
số bạn hàng của mình theo chính sách phân biệt đối xử. Ví dụ như hoa nhập

12
từ các nước Châu Âu được nhập miễn thuế vào Hà Lan, trong khi cũng loại
hoa đó nhập khẩu từ nước khác như Ấn Độ thì sẽ chịu thuế suất từ 18-20%.
Để giải quyết vấn đề NTB và giảm thiểu tác động của NTB đối với
các nước thuộc thế giới thứ ba trong giai đoạn hiện nay, quan trọng nhất vẫn
là xác định những việc họ phải làm để đối phó với các biện pháp kỹ thuật và
cộng đồng thương mại có thể hỗ trợ gì cho các nước này. Điều kiện ban đầu
để cạnh tranh trên thị trường quốc tế là phải đáp ứng được các tiêu chuẩn
quốc tế về chất lượng, đảm bảo sức khỏe và an toàn của các nước nhập khẩu,

cả các tiêu chuẩn quốc tế Các nước công nghiệp phát triển thường đặt ra
tiêu chuẩn an toàn thực phẩm rất nghiêm khắc đối với hàng nhập khẩu từ các
nước đang phát triển. Do đó, đối với các nước đang phát triển thì việc đáp ứng
được những tiêu chuẩn này là vấn đề rất khó khăn. Vì vậy, cần tạo điều kiện
cho các nước đang phát triển tham gia tích cực hơn vào việc xây dựng các
tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan tới hàng hóa xuất khẩu.
1.2. QUAN NIỆM PHÁP LÝ VỀ HÀNG RÀO THƯƠNG MẠI PHI THUẾ QUAN
1.2.1. Quan niệm pháp lý về hàng rào thƣơng mại phi thuế quan
của một số nƣớc
Từ điển Tiếng Việt giải thích: "Hàng rào buôn bán: là trở ngại mà
chính phủ một nước đặt ra đối với một hay nhiều mặt hàng xuất khẩu của
nước khác nhằm hạn chế việc xuất khẩu hàng hóa đó sang nước mình, thông
qua những hình thức như đánh thuế nhập cao, quy định hạn ngạch, kiểm soát
ngoại hối " [50, tr. 914].
Ở mức độ rộng nhất, NTB đề cập tới tất cả các rào cản đối với thương
mại mà không phải là rào cản thuế quan. Các rào cản này bao gồm cả các loại
thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng, cản trở nhập khẩu tự nguyện, trợ
cấp cho những khoản thua lỗ trong kinh doanh, rào cản kỹ thuật đối với
thương mại và các cản trở đối với các hoạt động thương mại hàng hóa.
Quan điểm của các nước rất khác nhau về vấn đề NTB [43, tr. 2].

14
EU không có một định nghĩa cụ thể về NTB, dựa trên cơ sở các báo
cáo của các nhà xuất khẩu Châu Âu, EU cho rằng NTB là tất cả các rào cản
mà họ cho là cản trở tới các hoạt động thương mại của các nhà xuất khẩu của
họ [43, tr. 1].
Theo Báo cáo thương mại quốc gia hàng năm đối với hàng rào ngoại
thương của Hoa Kỳ, thì NTB được định nghĩa theo nghĩa rộng và mang nặng
tính pháp lý. NTB được các nhà kinh tế và xuất khẩu của Hoa Kỳ nhìn nhận
là các quy định, chính sách và thực tiễn của quốc gia, có mục đích bảo vệ sản

mức cần thiết để hoàn tất một mục tiêu hợp pháp, có tính đến các
rủi ro có thể nảy sinh từ sự không hoàn tất. Các mục tiêu hợp pháp
đó là: các yêu cầu về an ninh quốc gia; việc ngăn ngừa các hoạt
động gian lận, bảo vệ sức khỏe và an toàn cho con người, động vật
hoặc môi trường [38, Điều 2.2].
Chủ thể của các NTB là các thành viên của WTO. "Thành viên của
WTO là các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ thuế quan riêng biệt tự chủ trong
việc điều hành các mối quan hệ thương mại và các vấn đề khác " [35, Điều 12].
Các thuật ngữ "quốc gia" hoặc "các quốc gia được sử dụng trong Hiệp định
này và các Hiệp định Thương mại Đa biên được hiểu là bao gồm cả Thành
viên của WTO có vùng lãnh thổ thuế quan riêng rẽ. Trong trường hợp Thành
viên WTO là một vùng lãnh thổ thuế quan riêng rẽ thì thuật ngữ "quốc gia"
được sử dụng trong Hiệp định này và các Hiệp định Thương mại Đa biên sẽ
được hiểu là vùng lãnh thổ thuế quan đó, nếu không có quy định cụ thể [35].
Việc không có một định nghĩa chuẩn, được quốc tế công nhận, đã khiến
cho việc nghiên cứu và phân tích NTB khó khăn hơn và do đó, kết quả phân
tích cũng kém tin cậy hơn. Từ đó, nhiều thành viên của WTO thấy rằng cần
phải có một định nghĩa chuẩn về NTB, mà tiêu chí được sử dụng để định
nghĩa NTB có thể là bản chất hạn chế thương mại và bảo hộ của chúng. Ở

16
một quốc gia phát triển áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật chặt chẽ và cao hơn
các nước khác hoặc cao hơn tiêu chuẩn thông thường của quốc tế cũng có khả
năng bị coi là sử dụng NTB.
Như vậy, chủ thể của các hàng rào thương mại phi thuế quan là:
- Quốc gia. Từ điển tiếng Việt giải thích: "Quốc gia là một nước gồm
có ba yếu tố: lãnh thổ, nhân dân và chủ quyền" [50, tr. 1622].
- Vùng lãnh thổ có thuế quan riêng rẽ: hiện nay vẫn tồn tại quy chế
thành viên đối với các Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan (Trung Quốc).
+ Đối tượng áp dụng của NTB là các hàng hóa nhập khẩu như các sản

nhập khẩu vào nước mình. Chính phủ có thể chỉ định một cảng nhất định làm
thủ tục nhập khẩu các sản phẩm có kích cỡ lớn như ô tô hay xe tải. Các sản
phẩm này có thể được nhập khẩu dưới dạng phụ tùng và sau đó sẽ được lắp
ráp tại nước nhập. Ngoài ra, nhân viên hải quan của nước nhập có thể lấy mẫu
thực phẩm nhập khẩu để "xét nghiệm" mà việc xét nghiệm này không biết bao
giờ mới có kết quả. Vào những năm 1990, một nhà xuất khẩu rượu vang từ
California của Mỹ xuất sang Hàn Quốc, số hàng này được lưu tại kho ngoại
quan tại Hàn Quốc, nhân viên hải quan của Hàn Quốc đã lấy một chai rượu đi
xét nghiệm. Vài tháng sau, nhà xuất khẩu có đơn hỏi kết quả thì Hải quan Hàn
Quốc cho biết họ vẫn đang xét nghiệm chai rượu trên); các quy định về môi
trường (việc nhập khẩu từ một nước có thể bị cấm do vi phạm quy định về
môi trường của nước nhập khẩu trong quá trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu
do sự khác biệt lớn về tiêu chuẩn môi trường giữa các nước. Các nhóm hoạt
động vì môi trường của Mỹ và các quan chức thương mại đã thảo luận gay gắt
vụ việc liên quan đến cá ngừ bắt ở Mêhicô và xuất khẩu sang Mỹ, vấn đề là
lưới dùng để bắt cá ở Mêhicô cũng bắt và phá hủy cá heo bơi gần đàn cá ngừ.
Do đó, Mỹ đã cấm việc nhập khẩu cá ngừ từ Mêhicô. Vụ việc được giải quyết
vào năm 1991, do một hội đồng GATT trước WTO giải quyết và bác bỏ lập
luận của các nhóm hoạt động vì môi trường của Mỹ. Hội đồng cho rằng lệnh

18
cấm nhập khẩu cá ngừ của Mỹ như là một chính sách bảo hộ thương mại và là
bất hợp pháp theo quy định của WTO).
NTB đã tăng lên nhanh chóng khi thuế quan đã giảm đáng kể sau các
cuộc đàm phán kéo dài nhiều thập kỷ trong khuôn khổ GATT. Nhiều người
cho rằng NTB đã trở thành một hình thức bảo hộ rất khó phát hiện và xác
định. Mặc dù NTB ngày càng trở nên phổ biến nhưng vẫn không thể tính toán
được tác động của NTB đối với thương mại quốc tế, chỉ thấy rõ ràng là NTB
đang làm tổn hại việc xuất khẩu từ các nước đang phát triển và các nước kém
phát triển. UNCTAD đã dự đoán rằng trong năm 2002, khoảng 40% xuất

Vấn đề thứ hai của vòng đàm phán về các vấn đề nông nghiệp (gọi là
vòng đàm phán NAMA) là thảo luận các vấn đề liên quan tới NTB. NTB là
tất cả các biện pháp, ngoài thuế, kiểm soát dòng hàng hóa nhập khẩu vào một
quốc gia. Thuật ngữ NTB mang nghĩa tiêu cực và bất hợp pháp. Tuy nhiên,
đại đa số các NTB hoàn toàn là hợp pháp và hợp lệ theo pháp luật của WTO.
Ví dụ như quy định an toàn đối với đồ chơi của trẻ em và tiêu chuẩn vệ sinh
đối với thực phẩm. Nhiều người thích sử dụng từ "quy định và tiêu chuẩn"
hơn là "rào cản" bởi mặc dù các NTB có thể gây cản trở thương mại quốc tế,
nhưng nhìn chung chúng được coi là các biện pháp quan trọng được sử dụng
để đảm bảo các mục tiêu chính sách công. Còn một số NTB khác gây ra sự
chậm trễ và cản trở không cần thiết tại biên giới hoặc lấp dưới hình thức thủ
tục hải quan, các NTB này có thể kiềm chế đáng kể hoạt động xuất khẩu, đặc
biệt là từ các nước đang phát triển.
Các buổi thảo luận về NTB không nhận được sự quan tâm đông đảo
như những buổi thảo luận về cắt giảm thuế quan, mặc dù đối với nhiều nước
các trở ngại đối với việc tiếp cận thị trường của NTB cũng quan trọng như các
tác động của thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu. Có thể các nước này đã
nhận thấy rằng cả thuế quan và phi thuế quan đã gây ra các điều kiện khó
khăn khi tiếp cận thị trường, gây ra những tác động đáng kể của NTB đối với
hàng hóa của các nước đang phát triển, thậm chí trong cả trường hợp vẫn
được ưu tiên đãi ngộ thuế quan.

20
Trên thực tế, các nước nhập khẩu kể cả phát triển hay đang phát triển
cũng đều thông báo các điều kiện và tiêu chuẩn về môi trường, an toàn và sức
khỏe cho các nhà xuất khẩu, các biện pháp này thậm chí được xem là để theo
đuổi các mục tiêu hợp pháp và phù hợp với WTO [65]. Các nước thành viên
gửi thông báo về NTB mà họ phải đối mặt, nhưng trên thực tế các nước không
thực hiện tốt công việc này vì việc báo cáo là khó khăn và phức tạp, đặc biệt
đối với các nước đang phát triển.

- Các quy định kỹ thuật;
- Thủ tục trước khi xếp hàng;
- Thủ tục hải quan đặc biệt;
- Nghĩa vụ trả lại các sản phẩm đã sử dụng.
1.3. PHÂN LOẠI CÁC HÀNG RÀO THƢƠNG MẠI PHI THUẾ QUAN
WTO chưa có một hệ thống phân loại NTB chuẩn. Do đó, việc hợp tác
và sự phối hợp nỗ lực của các tổ chức quốc tế và khu vực là rất quan trọng để
tăng cường việc thu thập và phân tích thông tin về NTB để cung cấp tốt hơn
cho các Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp và các đối tượng khác.
Trong thực tế, các biện pháp phi thuế quan rất đa dạng và phong phú.
Do vậy, việc phân loại các biện pháp này rất khó khăn. Có nhiều cách để phân
loại NTB dựa vào các tiêu chí khác nhau như khả năng áp dụng, hoặc là tấn
suất áp dụng.
Thời gian qua, WTO đã cố gắng phát hiện và phân loại các NTB trong
thương mại quốc tế để tìm hiểu và tìm cách loại trừ chúng. Tại cuộc họp hội
đồng WTO tháng 7/2004, Chủ tịch Nhóm đàm phán về Tiếp cận thị trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status