nghiên cứu - đánh giá và dự báo hiện trạng ngập úng tại quận Bình Thạnh - Pdf 33

Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Hoàng Hưng
Chương I: Mở đầu
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ :
Mới vào đầu mùa mưa, chỉ sau một trận mưa mà đường phố Thành phố
Hồ Chí Minh đã có diện mạo mới: những con đường, những khu phố, dãy nhà
ngập trong nước (không chỉ là nước mưa mà còn là nước từ đường cống, kênh
rạch, các khu vực bò trũng nước tù đọng không thoát được,… ). Từ lâu nay, người
dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quen với cảnh lội nước “bì bõm” sau những trận
mưa, kéo theo đó là các vấn đề kẹt xe, vệ sinh môi trường, … Mặc dù đã được sự
quan tâm và nói đến nhiều của các cơ quan quản lý, nhà lãnh đạo, báo chí, truyền
thông nhưng vấn đề ngập lụt của thành phố vẫn là bài ca muôn thû chưa có hồi
kết. Mỗi mùa mưa về, người ta lại nghe “nhiều hơn” điệp khúc: “Mưa- ngập - kẹt
xe” hay “Đường ngập, nâng đường-nhà ngập, nâng nhà”, để rồi nhìn lại ngập,
nâng nhà, mãi trong vòng luẩn quẩn. Vì sao vậy? Có lẽ câu trả lời đã có trong mỗi
chúng ta, “ngập” chỉ đơn giản là do nước thoát không kòp thì gây ra ngập. Tuy
nhiên, đằng sau đó còn rất nhiều nguyên nhân khác nào là ngập do triều cường
theo chu kỳ trong thời gian không có mưa, hay do điều kiện mặt đất bò bê tông
hoá cao, nước không thấm được xuống tầng đất sâu và tầng nước ngầm, vừa gây
ngập tầng đất mặt vừa lại làm mất lượng nước bổ sung hàng năm cho nước ngầm,
làm mực nước ngầm mỗi ngày một tụt sâu hơn và còn nhiều các nguyên nhân
khách quan và chủ quan khác nữa.
Hơn nữa, do trải qua nhiều thời kỳ xây dựng khác nhau, nhất là trong chiến
tranh, trong những ngày đầu xây dựng đất nước, các công trình thường không
đồng bộ, cái này chồng chéo cái kia, kinh tế kỹ thuật lạc hậu yếu kém. Hầu hết
cống thoát nước trong các đô thò của Thành phố Hồ Chí Minh là kênh hở, đậy nắp
SVTH: Nguyễn Hoàng Yến 1
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Hoàng Hưng
đan. Nhìn chung hệ thống cống có kích thước bé, độ dốc nhỏ, cấu tạo chưa hợp lý,
thiết kế xây dựng có nơi sai nguyên tắc kỹ thuật, hầu hết đều xuống cấp, có nơi
xuống cấp trầm trọng.
Vì hệ thống thoát nứơc không đáp ứng kòp thời, lượng mưa ngày càng tăng,

1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Sau 1 thời gian nghiên cứu và dưới sự hướng dẫn của thầy PGS.TS. Hoàng
Hưng đã xác đònh được đề tài nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp đại học như
sau: “NGHIÊN CỨU – ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO HIỆN TRẠNG NGẬP ÚNG
TẠI QUẬN BÌNH THẠNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”, trong quá trình
nghiên cứu đề tài hướng đến các mục tiêu sau:
_ Đưa ra bức tranh về hiện trạng ngập úng trong đô thò Thành phố Hồ Chí Minh,
và đặc biệt là trên đòa bàn quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh dựa vào mô
hình quản lý nước mưa SWMM.
_ Tìm hiểu và đưa ra nguyên nhân gây ra tình trạng ngập úng của quận Bình
Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh.
_ Từ đó đưa ra các giải pháp phục vụ công tác giảm ngập, cải thiện môi trường
đô thò, môi trường của quận Bình Thạnh hiện tại và tương lai.
1.4. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:
Giới hạn nội dung : Tìm hiểu về tình hình ngập úng, nguyên nhân gây
ngập, các giải pháp kiểm soát và hướng đến quy hoạch khu vực quận Bình Thạnh
Thành phố Hồ Chí Minh
SVTH: Nguyễn Hoàng Yến 3
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Hoàng Hưng
Phạm vi đề tài : Quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh.
1.5. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Tìm hiểu và đánh giá tình hình ngập nước và ngập úng của quận Bình
Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh.
Năng lực thoát nước của các lưu vực trên đòa bàn nội thành Thành phố Hồ
Chí Minh và quận Bình Thạnh TP. Hồ Chí Minh.
Tìm hiểu và đánh giá các biện pháp kiểm soát ngập úng đang được áp
dụng.
Xây dựng bộ dữ liệu đầu vào cho mô hình SWMM để đánh giá tình trạng
ngập úng và khả năng thoát nước của quận Bình Thạnh.
Trên cơ sở tìm hiểu đề xuất một số kiến nghò về biện pháp quản lý, công

0
46’45’’ độ vó Bắc và từ
106
0
41’00’’ độ kinh Đông. Chiều rộng lớn nhất là 7.250 m ( từ Bắc xuống Nam)
và chiều dài lớn nhất là 5.500 m ( từ Đông sang Tây), cửa ngõ của tất cả các tỉnh
thành trong cả nước, là vùng đất có vò trí chiến lược cực kỳ quan trọng.
Khu vực ranh giới của quận Bình Thạnh được xác đònh như sau:
Phía Đông Bắc giáp với quận 12 và quận Thủ Đức giới hạn bởi sông Vàm
Thuật.
Phía Đông giáp với quận 2, giới hạn bởi sông Sài Gòn.
Phía Nam giáp với quận 1, cách nhau bởi con rạch Thò Nghè.
Phía Tây – Tây Bắc giáp với quận Phú Nhuận và quận Gò Vấp.
Chiều rộng lớn nhất là 7250 m (từ Bắc xuống Nam)
Chiều dài lớn nhất là 5500 m (từ Đông sang Tây)
Quận Bình Thạnh có sông Sài Gòn bao quanh mạn Đông Bắc. Cùng với
sông Sài Gòn các kênh rạch: Thò Nghè, Cầu Bông, Văn Thánh, Thanh Đa, Hố
Tàu, …đã tạo một hệ thống đường thuỷ đáp ứng lưu thông cho xuồng, ghe nhỏ đi
SVTH: Nguyễn Hoàng Yến 6
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Hoàng Hưng
sâu vào các khu vực trên khắp đòa bàn Bình Thạnh và thông thương với các quận
khác.
Với vò trí đòa lý như trên, quận có nhiều thuận lợi cho sự phát triển sản
xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt là ưu thê về vò trí trung tâm và
giao lưu với các khu vực lân cận.
Quận Bình Thạnh được xem là một nút giao thông quan trọng của thành phố
Hồ Chí Minh bởi vì Bình Thạnh là điểm đầu mối gặp gỡ các quốc lộ 1, quốc lộ
13, là cửa ngõ đón con tàu thống nhất Bắc Nam qua cầu Bình Lợi vào ga Hoà
Hưng và đặc biệt là bến xe khách miền Đông mỗi năm đón hàng triệu hành
khách các tỉnh trong cả nước.

sóng ( vùng giáp ranh với phường 12).
2.1.3 Thổ nhưỡng :
Bình Thạnh có 4 loại đất chính như sau:
 Đất phèn ít: phân bố tập trung tại phường 13,22 và 28.
 Đất phèn trung bình: phân bố tập trung tại phường 28.
 Đất phèn nhiều: phân bố trong khu vực phường 25 và phường 26.
 Đất phù sa không được bồi có tầng đất sét : phân bố từng dãy, nằm ven
sông Sài Gòn thuộc khu vực phía Tây Bắc phường 28.
SVTH: Nguyễn Hoàng Yến 8
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Hoàng Hưng
2.1.4 Đặc điểm khí hậu :
Quận Bình Thạnh có khí hậu đặc trưng của vùng Đông Nam Bộ, đó là khí
hậu nóng ẩm và chòu ảnh hưởng của gió mùa với hai mùa nắng rõ rệt, thường 6
tháng mưa và 6 tháng nắng. Nhưng do ảnh hưởng của thời tiết gây ra thất thường
là số tháng nắng nhiều hơn số tháng mưa hoặc ngược lại. Mùa mưa từ tháng 5
đến tháng 10, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Khí hậu có tính ổn đònh
cao, thay đổi khí hậu giữa các năm nhỏ. Không có thiên tai, hầu như không có lũ
lụt, chỉ bò ảnh hưởng nhẹ không đáng kể.
 Nhiệt độ không khí
Chế độ nhiệt tại Tp Hồ Chí Minh nói chung và khu vực quận Bình Thạnh
nói riêng tương đối điều hoà. Nhiệt độ được đo tại trạm khí tượng Tân Sơn Nhất
được trình bày trong bảng 2.1 .
Bảng 2.1 Các đặc trưng chế độ nhiệt
Các đặc trưng Trò số(
0
C)
Nhiệt độ trung bình năm ( tính cho cả năm) 27,42
Nhiệt độ tối cao tuyệt đối ( năm 1975) 41
Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối ( năm 1937) 13,8
Nhiệt độ của tháng cao nhất ( tháng 4 hàng năm) 29

_ Số giờ nắng bình quận: 6,3 giờ / ngày.
_ Số giờ nắng tối đa: 12 giờ / ngày.
_ Số giờ nắng thấp nhất: 5 giờ / ngày.
_ Tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 5 (204 giờ)
_ Tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 11 (136 giờ)
 Chế độ mưa:
Mưa có tác dụng làm sạch các chất ô nhiễm trong không khí và pha loãng
các chất ô nhiễm trong nước sông, kênh rạch. Tuy nhiên, chế độ mưa ảnh hưởng
rất lớn đến vấn đề ngập lụt đường phố. Nước mưa cũng cuốn trôi các chất ô
nhiễm, đặc biệt là các chất thải nguy hại, vào nguồn nước gây ô nhiễm nguồn
nước mặt và có thể ảnh hưởng đến nước ngầm vì toàn thành phố không có hệ
thống thoát nước mưa, do đó sau cơn mưa có rất nhiều con đường trong quận bò
ngập lụt gây mùi hôi thối từ các cống thoát nước và ách tắc giao thông.
Lượng mưa có khuynh hướng tăng dần theo trục Đông Bắc – Tây Nam và
về mặt không gian lượng mưa phân bố không đều trên phạm vi Quận. Lượng mưa
trong năm phân bố không đều, tập trung chủ yếu trong tháng 4 đến tháng 11; khô
SVTH: Nguyễn Hoàng Yến 10
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Hoàng Hưng
hạn xảy ra nặng trong tháng 12 đến tháng 3 ảnh hường xấu đến sinh hoạt và sản
xuất. Kết quả quan trắc lượng mưa của trạm khí tượng Tân Sơn Nhất được thể
hiện trong bảng 2.2, lượng mưa về mùa mưa chiếm khoảng 95% cả năm, về mùa
khô chiếm 5% cả năm.
Bảng 2.2 Các đặc trưng về chế độ mưa
Các yếu tố đặc trưng về chế độ mưa Trò số(mm)
Lượng mưa trung bình năm 1979
Lượng mưa lớn nhất năm 2718
Lượng mưa nhỏ nhất năm 1553
Số ngày mưa trung bình năm 154
Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất 338( tháng 9)
Số ngày mưa trung bình tháng lớn nhất 22( tháng 9)

Bảng 2.3 Độ ẩm tương đối trong các tháng tại Tp Hồ Chí Minh
Tháng Độ ẩm tương đối(%)
TB Lớn nhất Nhỏ nhất
1 77 99 23
2 74 99 22
SVTH: Nguyễn Hoàng Yến 12
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Hoàng Hưng
3 74 98 20
4 76 99 21
5 83 99 33
6 86 100 30
7 87 100 40
8 86 99 44
9 87 100 43
2.1.5 Đặc điểm thủy văn:
2.1.5.1Nguồn nước:
Nguồn nước mặt: Quận Bình Thạnh có hệ thống sông rạch chiếm 1/15 diện
tích toàn Quận, diện tích mặt nước là 326,89 ha, bao gồm:
Sông Sài Gòn : bao quanh với chiều dài 17,5 km: mặt sông rộng trung bình
265 m
Kênh Thanh Đa : dài 1,35 km, rộng trung bình 60m.
Rạch Miếu Nổi : dài 640 m, rộng 1 – 6m, nhiều đoạn bò co hẹp gây ngập
lụt nhiều trong mùa mưa. Cải tạo kênh này nằm trong Dự án đầu tư “ Xây doing
khu dân cư Miếu Nổi Phường 3 – Quận Bình Thạnh”
Rạch Bùi Hữu Nghóa : rộng 2 – 8m , dài 620m, rạch này để thoát nước cho
lưu vực nhỏ nằm giữa hai tuyến đường Bùi Hữu Nghóa và Đinh Tiên Hoàng.
Nhiều đoạn rạch bò co hẹp và lấn chiếm nhiều.
Rạch Cầu Bông : rộng 10 – 16m, dài 1480m, nối liền với rạch Cầu Sơn,
cũng đóng vai trò như là một tuyến đường vận tải thong mại nhỏ, vận chuyển
hàng hóa vào nội thành.

Một năm chia làm 3 thời kỳ thủy triều:
 Thời kỳ thủy triều lên cao: tháng 9 đến tháng 12.
 Thời kỳ thủy triều xuống thấp : tháng 4 đến tháng 8
 Thời kỳ thủy triều trung bình : tháng 1 đến tháng 3.
Thủy triều lên cao vào các ngày 1 – 4 và các ngày 14 – 17 âm lòch, mỗi
tháng xuống thấp vào các ngày xen kẽ. Sự thay đổi biên độ thủy triều hàng tháng
cao so với sự thay đổi hàng năm. Hàng tháng lại có 2 kỳ triều cường theo chu kỳ
mặt trăng vào các ngày 1,2,3,4,14,15,16,17 (âm lòch) và 2 kỳ triều kém vào giữa
các ngày nói trên.
Ảnh hưởng của triều khá xa hai sông: sông Đồng Nai lên đến Trò An cách
biển 150 km; sông Sài Gòn lên đến Dầu Tiếng cách biển 180 km. Cùng với thủy
triều là sự xâm nhập mặn, vào mùa mưa ảnh hưởng của triều đối với độ mặn trên
sông thấp nhưng về mùa khô do lưu lượng sông giảm nhiều, ảnh hưởng rất lớn.
Thủy triều tuyến kênh thuộc hệ sông Sài Gòn, theo chế độ bán nhật triều,
biên độ triều trung bình trong ngày là 2 m, mực nước cao nhất là + 1,35 m, mực
nước thấp nhất – 1,8 m. Chế độ nước sông chòu ảnh hưởng mạnh của thuỷ triều.
Bảng 2.4. Trò số đặc trưng bình quân đỉnh triều tại trạm Phú An – Sông Sài
Gòn
Tháng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
H
max
(cm)
105 103 98 85 79 78 82 90 105 115 110 108
H
min
-98 -103 -125 -136 -147 -168 -163 -160 -140 -96 -87 -98
SVTH: Nguyễn Hoàng Yến 15
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Hoàng Hưng
(cm)

tiểu thủ công nghiệp.
Dân cư phân bố không đều giữa các phường. Phường có dân cư cao nhất
là phường 12: 36.670 người. Phường có dân cư thấp nhất là phường 28: 6.807
người. Mật độ dân cư trung bình toàn quận là 198 người/ha. Tổng số hộ gia đình
của quận là: 87.241 hộ (thể hiện ở bảng 2.5).
SVTH: Nguyễn Hoàng Yến 16
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Hoàng Hưng
Dân số những năm qua của quận Bình Thạnh tăng khá nhanh và sẽ còn
tiếp tục tăng trong những năm tới. Nguyên nhân gia tăng dân số của quận một
mặt do tăng tự nhiên, mặt khác do dân nhập cư từ các nơi khác đến. Trong giai
đoạn hội nhập từ quận ven trở thành quận nội thành, quận Bình Thạnh đã thu hút
một lượng dân cư từ các nơi khác chuyển đến sinh sống. Sự di chuyển của người
dân đến đây cũng nói lên phần nào tiềm lực phát triển kinh tế của quận Bình
Thạnh.
Bảng 2.5. Một số chỉ tiêu tổng hợp về dân số và diện tích
STT Đơn vò hành
chính-phường
Khu
phố
Tổ
dân
số
Số hộ
dân
Dân số
(Người)
Mật độ
dân số
(Người/ha
)

Quận Bình Thạnh với tổng diện tích đất tự nhiên là 2.076 ha, lớn thứ 2
trong các quận nội thành. Hiện trạng sử dụng đất được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.6. Tình hình sử dụng đất quận Bình Thạnh
Loại đất Diện tích đất (ha) Tỷ lệ %
1. Đất nông nghiệp 348,39 16,78
2. Đất chuyên dùng 466,74 22,48
3. Đất ở (không tính vườn tạp) 917,36 44,19
4. Đất chưa sử dụng 343,52 16,55
Tổng số 2.076 100%
(Nguồn : Niên giám thống kê quận Bình Thạnh - 2006)
Xét về mặt quy mô thì sự phân bố đất ở quận Bình Thạnh là không đều
nhau. Sự chênh lệch giữa phường có diện tích lớn nhất và phường có diện tích
nhỏ nhất lên đến trên 20 lần. Trong tổng số 2076 ha, phường 1 có diện tích nhỏ
nhất : 26,33 ha chiếm 1,27 % diện tích toàn quận. Điều đáng lưu ý ở nay là cụm
phường có diện tích nhỏ gồm : phường 1, 2, 14 chỉ chiếm từ 1,27% đến 1,55%
diện tích của quận lại là cụm trung tâm (Theo quy hoạch tổng thể, cụm này được
SVTH: Nguyễn Hoàng Yến 18
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Hoàng Hưng
xác đònh là trung tâm văn hoá thương mại Gia Đònh). Phường có diện tích lớn
nhất là phừơng 28 (548,50 ha), chiếm khoảng 26,42% diện tích toàn quận.
Với tổng diện tích hiện có, quận Bình Thạnh phân chia theo đơn vò hành
chính là 28 phường, sự phân chia không đồng đều nhau về diện tích, có thể thấy
qua bảng 2.2. Cùng với sự tăng dân số dẫn đến tình hình sử dụng đất đô thò có
nhiều thay đổi lớn thể hiện qua việc san lấp đất làm nền nhà, đường sá, cầu cống,
công trình công cộng… là những diện tích hầu như không bò thấm nước, đặc biệt là
các quận nội thành và một số vùng ven nội thành. Do đó đặc trưng gia tăng dân
số, kèm theo tình hình sử dụng đất có ý nghóa quan trọng trong việc đánh giá diện
tích không thấm liên quan đến quá trình gia tăng dòng chảy bề mặt ảnh hưởng
tình trạng ngập úng và tiêu thoát nước.
2.2.3. Hiện trạng sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp :

Cty 578 1.161 1.951 2.438 2.836
DN 167.097 539.261 471 490 623
Cá thể 1.412.000 1.553.067 1.844.300 2.087.000 2.401.000
Tổng 2.390.533 3.624.728 4.563.300 5.475.000 6.442.000
(Nguồn niên giám thống kê Quận Bình Thạnh)
2.2.5. Nông nghiệp :
Sản lượng ngành nông nghiệp không lớn, chủ yếu tập trung ở phường 28,
diện tích và sản lượng đất nông nghiệp và ngành chăn nuôi được trình bày trong
bảng 2.9 và 2.10.
Bảng 2.9 Diện tích và sản lượng nông nghiệp năm 2004
Loại đất Diện tích đất (ha) năm 2004
Đất nông nghiệp
- Đất canh tác
- Đất trồng cây lâu năm
- Mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
348.39
290.39
47
11
Đất chuyên dùng 466.74
Đất ở ( không tính vườn tạp) 917.36
Đất chưa sử dụng 343.52
(Nguồn niên giám thống kê Quận Bình Thạnh)
Bảng 2.10 Sản lượng ngành chăn nuôi trong năm 2004
SVTH: Nguyễn Hoàng Yến 20
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Hoàng Hưng
Chăn nuôi Số liệu điều tra 1/10; đv: con
Đàn bò sữa 173
Đàn heo 953
Đàn gia cầm 2.825

tổng chiều dài các con đường.
Phần lớn các con đường trên đòa bàn quận không có lề đường (do xây cất
nhà cửa trái phép hoặc do chưa được xây dựng,…). Đường xá trên đòa bàn quận
phân bố không đồng đều, tập trung ở trung tâm quận và chia nhánh nhiều, còn
các vùng bán đô thò của quận thì lại rất ít đường giao thông. Do vậy các hướng
giao thông trên đều dồn về các trục chính, thường gây tình trạng tắt nghẽn giao
thông.
2.2.6.2. Cây xanh đô thò:
Hướng phát triển của quận là xây dựng hệ thống khu du loch và công viên
với diện tích cây xanh lớn, phát huy thế mạnh sông nước và cảnh quan đẹp của
khu vực gồm:
 Đã xây dựng được một khu trung tâm du lòch và phục vụ du loch cấp thành
phố tại Thanh Đa – Bình Qùi (50 ha).
 Xây dựng mới công viên, sinh hoạt văn hoá thanh thiếu nien tại phường 12
(30 ha) tại khu du lòch công viên Văn Thánh.
 Xây dựng các điểm du lòch dọc sông Sài Gòn và tăng diện tích cây xanh
hơn nữa.
SVTH: Nguyễn Hoàng Yến 22
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Hoàng Hưng
 Tạo dãi cây xanh và các đường phố mới dọc theo kênh rạch.
Qua việc nghiên cứu tình hình đặc điểm tự nhiên- kinh tế – xã hội quận
Bình Thạnh cho thấy quận có vò trí đòa lý rất quan trọng, là cửa ngõ phía Đông
của Thành phố Hồ Chí Minh nên có tiềm năng và tốc độ phát triển kinh tế rất
cao. Cùng với sự phát triển đó thì việc gia tăng dân số, sự đầu tư vào cơ sở hạ
tầng còn hạn chế, đặc điểm đòa hình còn thấp… đã gây nên hiện tượng ngập úng
khi có mưa và triều cao, do đó ngập úng đã đặt ra một vấn đề can phải quan tâm
của quận Bình Thạnh.
2.2.7. Văn hoá- xã hội
Bình Thạnh là một trong những khu vực có người cư trú khá cổ xưa của
thành phố, nơi qui tụ của nhiều lớp dân cư qua các thời kỳ lòch sử hình thành Tp

đường thủy, chính vì vậy kích thước song rạch phải thoả mãn điều kiện trên.
Chế độ mực nước dòng chảy trong các song rạch vừa phụ thuộc vào thủy triều,
vừa phụ thuộc vào dòng chảy thượng lưu, vừa phụ thuộc vào chế độ mưa như rạch:
 Rạch Nhiêu Lộc – Thị Nghè: đây là dạng rạch cụt, xuất phát từ khu vực sân bay
Tân Sơn Nhất, chảy qua các quận Tân Bình, quận 1, quận 3 và quận Bình
Thạnh rồi đổ ra song Sài Gòn tại xưởng đóng tàu Ba Son với chiều dài 9300 m.
 Rạch Tân Hóa – Lò Gốm: đây cũng dạng rạch cụt. đầu rạch xuất phát từ Bàu
Cát, chảy qua quận Tân Bình, quận 11, quận 6 và quận 8 rồi đổ vào kênh Tàu
Hũ tại Gò Gốm với chiều dài 7350 m.
 Rạch Tàu Hủ - Bến Nghé và kênh Đơi – kênh Tẻ : Đây là 2 trục tiêu lớn nằm
song song với nhau, một đầu nối với sơng Sài Gòn bằng 2 rạch: Bến Nghé và
Kênh Tẻ, một đầu kia nối với sơng Bến Lức (chợ Đệm) bằng kênh Tàu Hũ và
SVTH: Nguyễn Hoàng Yến 24
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Hoàng Hưng
kênh Đơi. Giữa kênh Tàu Hũ và kênh Đơi lại được nối với nhau bằng 4 kênh
ngang số 1,2,3,4, cầu chữ Y là giao điểm của 4 kênh rạch (Kênh Đơi, kênh Tàu
Hũ, kênh Tẻ và rạch Bến Nghé). Chiều dài kênh Đơi – kênh Tẻ là 13 km, kênh
Tàu Hủ - Bến Nghé là 12.2 km.
 Rạch Nước Lên – rạch Bến Cát (còn gọi là Tham Lương – Bến Cát và Tham
Lương – Nước Lên): là hệ kênh tiêu lớn chạy vòng cung gần như áp sát với xa
lộ Đại Hàn, một đầu nối với sơng Sài Gòn bằng rạch Bến Cát, một đầu nối với
sơng Bến Lức bằng rạch Nước Lên, ở giữa là kênh 19/5. Tổng chiều dài khoảng
32,021 m.
 Rạch Cầu Bơng – Cầu Sơn – Bình Triệu, Bình Lợi - rạch Lăng: là rạch tiêu
thốt nước chính cho khu vực phía Bắc của quận Bình Thạnh, mộy đầu nối với
rạch Cầu Bơng thuộc hệ thống Nhiêu Lộc – Thị Nghè, đầu kia nối với sơng Sài
Gòn có tổng chiều dài khoảng 3,5 km.
Nhìn chung các tuyến kênh rạch của TPHCM nói chung và tại quận Bình
Thạnh nói riêng đã bị lấn chiếm rất nghiêm trọng . Kênh rạch ngày càng bị mất dần do
đơ thị hố gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giải quyết thốt nước, Khả năng dẫn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status