Định giá doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cổ phần hóa thực trạng và giải pháp - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2015
----------o0o----------

TÊN CÔNG TRÌNH:

ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ
TRÌNH CỔ PHẦN HÓA. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý (KD1)

Hà Nội, 2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM ”
NĂM 2015
----------o0o----------

TÊN CÔNG TRÌNH:

ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ
TRÌNH CỔ PHẦN HÓA. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý (KD1)


Ngành học

: Quản trị kinh doanh

Người hướng dẫn : TS. Lê Hương Lan


MỤC LỤC


4
LỜI MỞ ĐẦU
1, Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình cải cách và hội nhập kinh tế nước ta, nhằm tăng cường
khả năng cạnh tranh của khối doanh nghiệp nhà nước trong hoạt động kinh
doanh, yêu cầu cần phải đẩy mạnh cổ phần hóa khối doanh nghiệp này, đa
dạng hóa các hình thức sở hữu vốn. Nhưng quá trình này diễn ra còn chậm
chạp, chưa đạt yêu cầu trong thời gian qua. Một trong những lý do chủ yếu
khiến quá trình này bị chậm là chúng ta không thể xác định được giá trị của
doanh nghiệp này một cách hợp lý, mà để mua bán một tài sản thì giá cả của
đối tượng phải được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người mua và
người bán. Từ đó, nhu cầu cần phải xác định giá trị của một doanh nghiệp để
tiến hành cổ phần hóa, bán vổn cổ phần để huy động vốn cho các mục tiêu
phát triển đất nước, hoặc chuyển nhượng phần hùn vốn giữa các bên trong
công ty liên doanh ngày một nhiều và cấp thiết.
Xuất phát từ nhu cầu đó, tác giả đã thực hiện đề tài: “Định giá doanh
nghiệp Nhà nước trong quá trình cổ phần hóa. Thực trạng và giải
pháp” với mong muốn trình bày ưu, nhược điểm của một số phương pháp
đang được sử dụng tại Việt Nam, phân tích thực trạng các yếu tố tác động đến
quá trình định giá doanh nghiệp và đưa ra các biện pháp để nâng cao chất

Đề tài được kết cấu gồm ba chương, ngoài phần mở đầu, kết luân và
phụ lục tham khảo.
Chương 1: Cơ sở lý luận về định giá doanh nghiệp:
Chương này phân tích tổng thể những nội dung chính của doanh
nghiệp, định giá doanh nghiệp và vai trò của nó đối với doanh nghiệp, Nhà
nước, nhà đầu tư; nội dung công tác định giá doanh nghiệp cùng các yếu tổ vi
mô, vĩ mô ảnh hướng đến quá trình này.
Chương 2: Thực trạng công tác định giá doanh nghiệp trong quá trình
cổ phần hóa ở Việt Nam.
Chương này trình bày tổng thể về thực trạng về tiến trình cổ phần hóa,
về phương pháp định giá tài sản và dòng tiền chiết khấu, từ đó đưa ra đánh
giá về hạn chế, nguyên nhân tồn tại của quá trình.


6
Chương 3: Giái pháp tháo gỡ khó khăn cho công tác định giá doanh
nghiệp trong quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam thời gian tới.
Đề tài đưa ra những điểm mới về định hướng kế hoạch cổ phần hóa các
doanh nghiệp giai đoạn 2016-2020, giải pháp vĩ mô, vi mô tháo gỡ khó khăn
cho công tác định giá doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP
1.1. Doanh nghiệp và định giá doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp
Theo điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 định nghĩa: “ Doanh nghiệp là một
tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh”
Hiện nay nước ta có 7 loại hình doanh nghiệp chính, trong đó bao gồm
các loại hình doanh nghiệp sau:
-

đang nắm giữ những nghành, những lĩnh vực then chốt trong hệ thống cơ sở
vật chất kỹ thuật quan trọng nhất cho công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước,
nắm giữ tòan bộ cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội có tính huyết mạch, và hầu hết
cách doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp nhà nước trong cách nghành xây
dựng, cơ khí, chế tạo luyện kim, xi măng, điện tử, dầu khí, thông tin liên lạc…
Doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng đa phần trong các nghành. Cụ thể
hơn, tỷ trọng đóng góp phần doanh nghiệp nhà nước trong cách nghành như
sau: 80% công nghiệp khau thác, 60% công nghiệp chế biến, 99% công nghệ
điện-gas-dầu khí, trên 82% vận chuyển hàng hóa, 50% vận chuyển hàng
khách…74% thị phần nền kinh tế.
Doanh nghiệp nhà nước có vai trò hết sức quan trọng vào việc điều tiết
cung cầu ổn định giá cả, chống lạm phát, ổn định được tỷ giá, khắc phục các
mặt trái của nền kinh tế thị trường nói chung.
Doanh nghiệp nhà nước còn có vai trò quan trọng trong xuất nhập khẩu,
đóng vai trò tập trung lớn và ổn định vào ngân sách đất nước.
Tuy nhiên, những năm gần đây cho thấy một số doanh nghiệp nhà nước
hoạt động kém hiệu quả, gây thua lỗ và ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế.
Khiến cho Chính phủ phải “thả phao” cứu các doanh nghiệp này bằng nhiều
biện pháp tài chính: khoanh nợ, giãn nợ, mua nợ xấu…Hiện nay, doanh nghiệp
nhà nước còn một số điểm yếu kém nổi bật như:


8
Nhận nhiều ưu đãi của nhà nước nhưng hiệu quả kém, sức cạnh tranh
thấp, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro mất cân đối tài chính thua lỗ kém dài. Theo Bộ
Tài Chín, tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty năm 2010 đạt
1.088.290 tỷ đồng, bình quân bằng 1,67% lần vốn chủ sở hữu. Trong đó hơn
30 tập đoàn, tổng côn ty có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu lớn hơn 3
lần. Cá biệt có 7 công ty có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu lớn hơn 10
lần.

Định giá doanh nghiệp là phần quan trọng trong quá trình cấu trúc nền
kinh tế, đổi mới lại doanh nghiệp, tổ chức, sắp xếp lại dây chuyền sản xuất
hoặc các bộ phận sản xuất kinh doanh. Quá trình định giá nhằm mục tiêu tính
toán, xác định giá trị doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Thực chất là
quá trình ước tính khoản tiền mà nhà đầu tư có thể trả để có được doanh
nghiệp. Nhưng theo một số chuyên gia kinh tế thì quá trình định giá doanh
nghiệp manh tính nghệ thuật hơn tính khao học chính xác, vì quá trình này
chủ yếu dựa vào hoạt động quá trình sản xuất dự trù trong tương lai mà
không chỉ là hoạt động trong quá khứ. Vì vậy để định giá được doanh nghiệp
cần phải có đầu óc phán đoán tốt. Hoạt động của mọi doanh nghiệp là biến
động theo đó giá trị thực tế của doanh nghiệp sau một thời gian hoạt động là
không còn phù hợp trên sổ sách kế toán nữa.
Vì vậy, ta có thể đưa ra khái niệm định giá doanh nghiệp là xác định giá
trị ước tính của doanh nghiệp theo giá cả thị trường. Giá trị ước tính của
doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận: Giá trị thực và giá trị kỳ vọng. Trong đó,
giá trị thực là giá trị còn lại của doanh nghiệp theo sổ sách kế toán được tính
theo giá thị trường tại thời điểm định giá. Còn giá trị kỳ vọng là lợi ích mà
doanh nghiệp đem lại cho người mua trong tương lai.
1.1.3. Vai trò định giá doanh nghiệp
1.1.3.1. Đối với doanh nghiệp nhà nước
Việc xác định được chính xác giá trị của doanh nghiệp nhà nước giúp
biết rõ được giá trị thực của doanh nghiệp mình để từ đó định hướng kế
hoạch phát triển trong tương lai.
Đặc biệt trong cổ phần hóa giúp cho quá trình này của doanh nghiệp
thuận lợi hơn, thu hút được nhiều nhà đâu tư có chất lượng để đổi mới công


10
nghệ phát triển doanh nghiệp theo định hướng mới, nâng cao sức cạnh tranh
trong nghành với các đối thủ cạnh tranh, củng cố tiềm lực tài chính. Và tránh

1/ Xác định vấn đề
Trong bước này cần chú ý các vấn đề sau:
* Thiết lập mục đích định giá
* Nhận dạng sơ bộ doanh nghiệp cần định giá: pháp lý, loại hình, quy
mô, địa điểm, các cơ sở, chi nhánh, tài sản, sản phẩm, thương hiệu, thị trường,

* Xác định cơ sở giá trị của định giá
* Xác dịnh tài liệu cần thiết cho việc định giá
2/ Lập kế hoạch định giá
* Việc lập kế hoạch định giá nhằm xác định rõ những bước công việc
phải làm và thời gian thực hiện từng bước công việc cũng như toàn bộ thời
gian cho việc định giá.
* Nội dung kế hoạch phải thể hiện những công việc cơ bản sau: Xác định
các yếu tố cung cầu thích hợp với chức năng, các đặc tính và các quyền gắn
liền với doanh nghiệp được mua bán và đặc điểm thị trường; Xác định các tài
liệu cần thu thập về thị trường, về doanh nghiệp, tài liệu so sánh; Xác định và
phát triển các nguồn tài liệu, đảm bảo nguồn tài liệu đáng tin cậy và phải
được kiểm chứng; Xây dựng tiến độ nghiên cứu, xác định trình tự thu thập và
phân tích dữ liệu, thời hạn cho phép của trình tự phải thực hiện; Lập đề
cương báo cáo kết quả định giá.
3/ Tìm hiểu doanh nghiệp và thu thập tài liệu
Trong bước này cần lưu ý:
* Khảo sát thực tế tại doanh nghiệp: kiểm kê tài sản, khảo sát tình hình
sản xuất kinh doanh thực tế của doanh nghiệp.


12
* Thu thập thông tin trước hết là các thông tin, tư liệu từ nội bộ doanh
nghiệp: tư liệu về tình hình sản xuất kinh doanh, các báo cáo tài chính - kế
toán - kiểm toán, hệ thống đơn vị sản xuất và đại lý, đặc điểm của đội ngũ

6.1 Mục đích định giá
6.2 Đối tượng định giá phải được mô tả rõ.
Cần phải nêu rõ đối tượng định giá là toàn bộ doanh nghiệp, lợi ích
doanh nghiệp hay một phần lợi ích doanh nghiệp, lợi ích đó thuộc về toàn bộ
doanh nghiệp hay nằm trong tài sản cá biệt do doanh nghiệp sở hữu. Mô tả
doanh nghiệp định giá, bao gồm những nội dung sau:
* Loại hình tổ chức doanh nghiệp
* Lịch sử doanh nghiệp
* Triển vọng đối với nền kinh tế và của ngành
* Sản phẩm, dịch vụ, thị trường và khách hàng.
* Sự nhạy cảm đối với các yếu tố thời vụ hay chu kỳ
* Sự cạnh tranh
* Nhà cung cấp
* Tài sản gồm tài sản hữu hình và vô hình
* Nhân lực
* Quản lý
* Sở hữu
* Triển vọng đối với doanh nghiệp
* Những giao dịch quá khứ của các lợi ích sở hữu tương tự trong doanh
nghiệp.
6.3 Cơ sở giá trị của định giá: định nghĩa giá trị phải được nêu và xác định.
6.4 Phương pháp định giá:


14
Các phương pháp định giá và lý do áp dụng các phương pháp này;
những tính toán và logic trong quá trình áp dụng một hay nhiều phương
pháp định giá; xuất phát của các biến số như các tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ vốn hoá
hay các yếu tố thẩm định khác; những lập luận khi tổng hợp những kết quả
định giá khác nhau để có kết quả giá trị duy nhất.

Nhóm phương pháp định giá này dựa trên quan điểm cho rằng giá trị
doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị kinh tế được đo bằng khả năng sinh lời
của doanh nghiệp. Lợi nhuận luôn là mục tiêu quan trọng đối với doanh
nghiệp cũng như với các nhà đầu tư. Do đó, điều mà các nhà đầu tư mong đợi
nhất là khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai.
Nhóm phương pháp này gồm 5 phương pháp chủ yếu:
- Phương pháp Chiết khấu dòng tiền (Discounted Cash Flow – DCF)
- Phương pháp Chiết khấu dòng cổ tức (Divident Discount Model – DDM)
- Phương pháp Hệ số giá thị trường trên thu nhập (P/E)
- Phương pháp hiện tại hoán lợi nhuận thuần (PV)
- Phương pháp Dòng tiền vốn chủ (FCFE)
* Nhóm phương pháp dựa trên cơ sở thị trường
Phương pháp định giá dựa trên cơ sở thị trường cho rằng: trong nền kinh
tế thị trường, khi các doanh nghiệp được đưa ra mua bán có nhiều điểm
tương tự nhau nên có thể so sánh được, dựa vào đó có thể sử dụng kết quả
định giá của các doanh nghiệp tương tự để phân tích, so sánh và tính toán
giá trị của doanh nghiệp.
Nhóm phương pháp này bao gồm:
-

Phương pháp tài sản

-

Phương pháp so sánh (peer evaluation)

-

Phương pháp chi phí




17
Vn: Giá trị doanh nghiệp ở cuối chu kỳ đầu tư (năm thứ n)
i : Tỷ suất hiện tại hóa
Quy trình thực hiện phương pháp:
Bước 1: Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong quá khứ,
đánh giá, dự đoán chiến lược kinh doanh và kết quả kinh doanh trong tương
lai:
Thực hiện dự báo dài hạn về các dòng tiền vào và dòng tiên ra trong quá khứ
để đánh giá ảnh hưởng đến dòng tiền phát sinh trong tương lai, bao gồm:
-

Ước tính, dự đoán các chỉ tiêu như tỷ lệ tăng trưởng tỷ suất hoàn vốn
đầu tư. Thường được thông qua việc áp dụng phân tích SWOT (điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) hoặc phân tích 5 forces (khả năng
thâm nhập thị trường) (Sản phẩm/dịch vụ thay thế, nhà cung cấp, đối
thủ cạnh tranh, người mua/khách hàng) hoặc thông qua các bước: (1)
Đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp/phân tích đặc trưng
của ngành, những lợi thế và bất lợi của doanh nghiệp qua đó đánh giá
được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như tiềm năng phát
triển của doanh nghiệp.; (2) Dự tính khả năng của doanh nghiệp trong
tương lai (khả năng xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp, các yếu tố có
thể tác động mạnh tới hoạt động SXKD như lạm phát, cầu của thị
trường đối với sản phẩm của doanh nghiệp; (3) Dự báo về doanh thư,
chi phí vận hành, các khoản vốn đầu tư bổ sung và các khoản vốn rút ra
khỏi quá trình luân chuyển trong từng năm; (4) Dự báo chu kỳ đầu tư
(n) và giá trị doanh nghiệp ở thời điểm cuối của chu kỳ đó (V n). Thông
thường, thời điểm cuối của chu kỳ đầu tư được xác định khi mà các số
liệu dự báo trong tương lai xa không còn đủ độ tin cậy ở mức độ cần

hệ thống thì phải điều chỉnh lại các yếu tổ tính CP.

Bước 3 : Xác định giá trị hiện tại của dòng tiền thuần theo tỷ suất chiết
khấu (i) nói trên đên để tìm ra giá trị doanh nghiệp.
Giá trị của toàn doanh nghiệp là tổng giá trị hoạt động SXKD trong các
năm của doanh nghiệp cộng với giá trị của tài sản khi kết thúc hoạt động
SXKD.
Giá trị vốn chủ sở hữu bằng giá trị toàn doanh nghiệp trừ đi giá thị trường
của tất cả các khoản nợ.
Ưu điểm :
Phương pháp dòng tiền chiết khấu dựa vào lợi nhuận trong tương lai là
phương pháp định giá dựa trên khả năng hoạt động và sinh lợi của doanh
nghiệp trong tương lai. Do đó phương pháp này có một số ưu điểm:
* Định giá sát thực hơn giá trị của các doanh nghiệp đang hoạt động có
hiệu quả, có kế hoạch và chiến lược kinh doanh tốt, thể hiện khả năng phát


19
triển trong tương lai; khi đó doanh nghiệp được xem xét dưới trạng thái động
tương tự như một dự án đầu tư. Theo đó, tất cả cá yêu tố tác động đến giá trị
doanh nghiệp đều được dựa vào đánh giá và xem xét chi tiết từ các yếu tố bên
ngoài doanh nghiệp đến các yếu tố thuộc về nội tại doanh nghiệp, từ đó có thể
chỉ ra những triển vọng và ước tính các dòng tiền làm cơ sở để định giá doanh
nghiệp.
* Quan niệm về dòng tiền còn cho phép các chuyên gia định giá tránh được
vấn đề phức tạp khi phải điều chỉnh số liệu kế toán sao cho có thể phản ánh
đúng thời điểm phát sinh các khoản tiền, như điều chỉnh doanh thu, khấu hao,
các hạch toán hàng tồn kho....
* Phương pháp DCF phản ánh thực hơn thu nhập của doanh nghiệp trong
tương lai vì nó được điều chỉnh theo mức độ rủi ro thích hợp cho từng loại

chuyển giao công nghêk....mà tài sản của doanh nghiệp chủ yếu là TS vô hình.
2. Phương pháp tài sản
Phương pháp định giá doanh nghiệp theo giá trị tài sản cho rằng giá trị
của một doanh nghiệp bằng tổng các giá trị của từng loại tài sản riêng biệt
trừ đi các khoản nợ của doanh nghiệp. Giá trị của tài sản được đo bằng hiệu
quả sử dụng và khai thác chúng nhằm tạo ra những lợi ích kinh tế trong
tương lai.
Căn cứ xác định giá trị doanh nghiệp là: các chứng từ, sổ sách kế toán, bác
cáo tài chính của doanh nghiệp những năm gần nhất, báo cáo kiểm kê tài sản,
vật tư hàng hóa, tiền vốn, biên bản đối chiếu công nợ... Một số loại hình định
giá của phương pháp này dựa trên việc bán tài sản của doanh nghiệp, dưa
trên việc thanh lý tài sản, dựa trên giá trị tài sản ròng. Bài đề cập đến phương
pháp định giá theo giá trị tài sản ròng.
Khi đó: Giá trị doanh nghiệp = Giá trị tài sản ròng + Giá trị lợi thế
* Xác định giá trị tài sản ròng:
Cách 1: Căn cứ vào giá trị thị trường


21
Khi đó, giá trị tài sản ròng chính là giá bán tất cả các bộ phận cấu thành tài
sản của doanh nghiệp trên thị trường (nhà cửa, đất đai, máy móc, thiết bị,
hàng hóa...) vào thời điểm định giá doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các khoản
nợ của doanh nghiệp. Giá trị thị trường được xác định cho từng tài sản riêng
biệt.Giá trị tài sản ròng được xác định theo công thức:
NAV=
Trong đó:
NAV : Tổng giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp tính theo giá trị thị trường
tại thời điểm định giá.
Ai: Giá trị thị trường của tài sản I tại thời điểm định giá.
N: Tổng số các loại tài sản

nghề
Giá trị lợi thế = Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo sổ sách kế
toán bình quân n năm liên tiếp x Tỷ suất lợi nhuận siêu ngạch
Ưu điểm:
* Đơn giản, dễ tính vì nó phản ánh tương đối đầy đủ và trực quan giá trị tài
sản hiện có của doanh nghiệp theo mức giá thị trường
* Với doanh nghiệp độc lập, quy mô nhỏ sẽ hiêu quả tốn ít thời fian và chi
phí.
Nhược điểm:
* Phương pháp này đã bỏ qua phần lớn các yếu tố phi vật chất nhưng lại có
giá thực sự và nhiều khi lại chiếm tỷ trọng rất lớn trong giá trị doanh nghiệp
như: thương hiệu, bằng sáng chế, công nghệ độc quyền, trình độ quản lý, trình


23
độ công nhân, uy tín, thị phần của doanh nghiệp... Đó có thể là những doanh
nghiệp có tài sản không đáng kế nhưng triển vọng sinh lợi lại rất cao.
* Với phương pháp này doanh nghiệp được xem như tập hợp rời rác các
loại tài sản với nhau và không xem xét mối quan hệ hữu cơ giữa chúng. Điều
đó có nghĩa là sẽ dánh giá doanh nghiệp trong một trạng thái tĩnh và không
được coi như một thực thể, một tổ chức đang tồn tại, hoạt động và phát triển.
* Phương pháp này không cung cấp và xây dựng được những cơ sở thông
tin cần thiết để các bên có liên quan đánh giá về triể vọng sinh lời của doanh
nghiệp.
Đối tượng áp dụng:
- Thường áp dụng trong trường hợp thị trường chứng khoán chưa phát
triển hoặc đang trong giai đoạn đầu phát triển, hoặc thiếu thông tin lịch sử về
tình hình hoạt động của doanh nghiệp, hoặc việc thu thập thông tin để sử
dụng các phương pháp định giá khác gặp khó khăn và không đủ tin cậy.
- Những doanh nghiệp độc lập hoặc có thu nhập thấp và dòng tiên dự đoán

cao hiệu quả công tác quản lý, giám sát đối với thị trường này.
Theo đó, mặc dù chịu ảnh hưởng, tác động của kinh tế thế giới và kinh
tế trong nước, các cấu phần của thị trường tài chính vẫn có sự phát triển so
với năm 2013, tổng giá trị huy động vốn thông qua kênh phát hành trái phiếu
chính phủ tăng 29% so với năm 2013, đạt kết quả cao nhất từ trước đến nay;
tổng giá trị huy động vốn qua TTCK đạt 237 nghìn tỷ đồng tương đương 5,9
% GDP, tăng 6% so với năm 2013, thị trường bảo hiểm tiếp tục duy trì mức
tăng trưởng ổn định với tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng khoảng 14,2% so
với năm 2013. Công tác quản lý, giám sát hoạt động của thị trường chứng
khoán, vấn đề công bố thông tin, quản trị công ty niêm yết tiếp tục được củng
cố qua đó thúc đẩy thị trường hoạt động công khai, minh bạch. Những kết
quả khả quan của thị trường tài chính Việt Nam trong năm 2014 được thể
hiện trên những kết quả như sau:


25
- Về cơ chế, chính sách: Hệ thống văn bản, cơ chế chính sách tiếp tục
được hoàn thiện cho phù hợp với tình hình thị trường đồng thời tăng cường
công tác quản lý, giám sát thị trường chứng khóa. Trong năm 2014, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định phê duyệt Đề án xây dựng và phát
triển thị trường chứng khoán phái sinh, Bộ Tài chính đã ban hành các Thông
tư và Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã ban hành các Quyết định hướng dẫn
về chế độ quản lý giám sát và chế độ thu, sử dụng phí trên thị trường chứng
khoán. Hiện tại, khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của Thị trường chứng
khoán tương đối đồng bộ, thị trường vận hành trên nguyên tắc công khai
minh bạch, tạo niềm tin cho các chủ thể tham gia trên thị trường.
- Đến cuối tháng 12/2014, có 673 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết
trên thị trường chứng khoán với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá là
425.000 tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2013. Giá trị vốn hoá thị trường cổ
phiếu đạt khoảng 31,48% GDP. Tình hình sản xuất kinh doanh của DN niêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status