Đề tài tốt nghiệp GVHD: Ks.Vũ Hải Yến
SVTH: Lê Thò Hà Trang
1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
Đất nước ta hiện nay đang trong quá trình đô thò hóa phát triển không ngừng cả
về tốc độ lẫn qui mô, số lượng lẫn chất lượng. Bên cạnh những mặt tích cực,
những tiến bộ vượt bậc thì vẫn còn những mặt tiêu cực, những hạn chế mà không
một nước đang phát triển nào không phải đối mặt, đó là tình trạng môi trường
ngày càng bò ô nhiễm cụ thể đó là ô nhiễm về đất, nước, không khí và tình trạng
tài nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt, và hàng loạt các vấn đề về môi
trường khác cần được quan tâm sâu sắc và kòp thời giải quyết một cách nghiêm
túc, triệt để.
Cùng với sự phát triển vượt bậc của đất nước, Thò xã Bảo Lộc hiện nay đang
phấn đấu xây dựng đến năm 2010 trở thành đô thò loại 3, tiếp tục giữ vai trò trung
tâm kinh tế – xã hội, phục vụ cho sự phát triển của các tỉnh phía Nam tỉnh Lâm
Đồng, đòa bàn có qui mô dân số hơn nữa triệu người và nhiều tiềm năng đang
được khai thác .
Để thực hiện chức năng là trung tâm phát triển vùng hành chính kinh tế của
tỉnh, là thủ phủ của ngành dâu tằm tơ Việt Nam và ngành chế biến chè phía Nam
đất nước, Thò xã Bảo Lộc đang kêu gọi sự hợp tác của các đô thò trong cả nước, và
các nhà đầu tư, sự quan tâm, giúp đỡ của các Bộ, ngành trung ương… Để từng
bước “Xây dựng Bảo Lộc thành một thành Phố phát triển ngang tầm với các nước
xung quanh ta”. (Lời thủ tướng Võ Văn Kiệt khi về thăm Bảo Lộc năm 1993).
Lượng chất thải phát sinh từ những hoạt động trên ngày càng tăng, đa dạng về
thành phần và có nguy cơ gây ô nhiễm. Một trong những nguồn gây nguy cơ ô
nhiễm chủ yếu là chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh tế và sinh
hoạt hàng ngày. Với lượng rác được thải ra hàng ngày là 35-40 tấn/ngày, hầu hết
và làm ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân. Rác thải luôn biến đổi với tỉ lệ
thuận với tốc độ gia tăng dân số và phát triển kinh tế. Vì vậy thời gian thu gom,
Đề tài tốt nghiệp GVHD: Ks.Vũ Hải Yến
SVTH: Lê Thò Hà Trang
3
vận chuyển và xử lý không đáp ứng kòp thời sẽ làm cho mức độ ô nhiễm ngày
càng gia tăng.
Trước những thực tế trên, hiện trạng quản lý CTR trên đòa bàn thò xã Bảo Lộc
đang là một vấn đề khó khăn, cho công tác thu gom vận chuyển, xử lý, tốn kém và
gây ô nhiễm môi trường. Do đó, nhằm giải quyết những khuất mắc trên, tôi quyết
đònh thực hiện đề tài “Nghiên cứu các giải pháp tốt nhất trong hệ thống quản
lý CTR đô thò cho thò xã Bảo Lộc và qui hoạch đến năm 2020” với hy vọng
việc thực hiện phân loại rác tại nguồn đạt hiệu quả mang lại ý nghóa hàng năm có
hàng trăm tấn rác được tận dụng để tái chế, tái sử dụng, phục vụ sản xuất, nâng
cao lợi ích kinh tế, giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường. Đặc biệt là góp phần có
thể giải quyết được những vấn đề nan giải hiện nay của thò xã Bảo Lộc.
1.2. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
p dụng lý thuyết về phân loại rác thải tại nguồn thu gom phục vụ vào công
tác quản lý chất thải rắn trên đòa bàn thò xã Bảo Lộc. Đề xuất biện pháp thu gom
rác hợp lý, thiết kế được công nghệ xử lý rác hiệu quả, tái chế, tái sử dụng và tiết
kiệm vốn đầu tư và chi phí vận hành .
1.3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở khảo sát thu thập và biên hội các thông tin về hệ thống thu gom,
vận chuyển CTR trên đòa bàn thò xã Bảo Lộc.
- Đánh giá được hiện trạng hệ thống quản lý CTRSH trên đòa bàn thò xã Bảo
Lộc (Nguồn, thu gom, vận chuyển, xử lý…).
- Dự báo tốc độ phát sinh CTR, nhu cầu vận chuyển, nhu cầu xử lý CTR đến
năm 2020
- Tuyến thu gom và chiều dài tuyến đường thu gom trên đường
- Mỹ quan và chất lượng môi trường tại các điểm tập trung rác
Thiết kế trạm phân loại rác
- Thiết bò, dụng cụ và nhân lực
- Chất lượng môi trường xung quanh
Vận chuyển
- Qui trình vận chuyển và thực tế
Đề tài tốt nghiệp GVHD: Ks.Vũ Hải Yến
SVTH: Lê Thò Hà Trang
5
- Tuyến và thời gian vận chuyển ( tốc độ và hoạt động)
- Phương tiện vận chuyển
- Tiêu thụ nhiên liệu
- Phí vận chuyển (ngày?, đêm ?)
- Khối lượng thành phần CTR
- Chất lượng môi trường vận chuyển
Trên cơ sở đó để nghiên cứu lựa chọn thiết kế phương án tối ưu để quản lý quá
trình thu gom, vận chuyển và xử lý tái chế chất thải rắn sinh hoạt trên đòa bàn thò
xã Bảo Lộc – Lâm Đồng để lấy sản phẩm tái chế đó phục vụ cho chăm sóc cây
trồng.
1.5. ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Chất thải rắn có nhiều loại: CTR y tế, CTR sinh hoạt, CTR công nghiệp, chất
thải rắn xây dựng,… nhưng do thời gian, điều kiện có hạn và còn nhiều hạn chế
nên đối tượng tập trung nghiên cứu chủ yếu là CTR sinh hoạt bao gồm:
• Chất thải rắn từ hộ gia đình
• Chất thải rắn phát sinh từ chợ
• Chất thải rắn phát sinh từ cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, trường học, trung
tâm thương mại.
đến quản lý chất thải rắn đô thò. Các tài liệu tham khảo trong đề tài này được ghi
trong phần “ tài liệu tham khảo”.
1.6.2.2 Điều tra thực đòa
Là hình thức điều tra thông qua phiếu trả lời hay phỏng vấn trực tiếp từ các đối
tựng có liên quan đến quá trình phát sinh chất thải rắn như các hộ dân, các cơ
quan, nhà máy, xí nghiệp, trường học khu vui chơi giải trí … phương pháp này
được sử dụng trong luận văn qu những lần điều tra thực đòa và qua phiếu phỏng
vấn trực tiếp các hộ gia đình đang sống ở thò xã.
Các thông tin phỏng vấn và đều tra các hộ gia đình tập trung vào:
- Lượng rác thải trong ngày.
- Nghề nghiệp và nguồn thu nhập chính của gia đình.
Đề tài tốt nghiệp GVHD: Ks.Vũ Hải Yến
SVTH: Lê Thò Hà Trang
7
- Hình thức thu gom và xử lý rác thải ở các hộ gia đình.
- Các vấn đề về sức khỏe có liên quan đến bãi rác.
1.6.2.3 Phương pháp mô hình hóa môi trường
Phương pháp mô hình hóa môi trường được sử dụng trong luận văn để dự báo
dân số và tốc độ phát sinh chất thải rắn trên đòa bàn thò xã Bảo Lộc từ nay đến
năm 2020 thông qua phương pháp EuLer cải tiến trên cơ sở số liệu dân số hiện tại
và tốc độ gia tăng dân số.
Sử dụng mô hình toán học hàm Euler cải tiến giúp tính toán , dự báo trên một
khoảng thời gian dài với công thức như sau:
N
i+1
= N
i
+ r.N
t : khoảng thời gian chênh lệch (thường lấy
∆
t = 1 năm).
r : tốc độ gia tăng dân số (%).
1.6.2.4 Phương pháp bản đồ hóa
Phương pháp bản đồ hóa dùng để xác đònh chiều dài các tuyến đường thu gom
và các điểm tập trung rác bằng phầm mềm Mapinfo, Auto Cad .
Số liệu được xử lý với phần mềm Microsoft Excel. Phần soạn văn bản được sử
dụng với phần mềm Microsoft Word.
1.7. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Đề tài cung cấp một số cơ sở tìm ra giải pháp tối ưu cho công tác quản lý chất
thải rắn tại thò xã Bảo Lộc theo hình thức tổ chức hệ thống thu gom rác của nhà
nước trên cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp tại đòa bàn thò xã như:
- Đề xuất biện pháp phân loại rác tại nguồn
Đề tài tốt nghiệp GVHD: Ks.Vũ Hải Yến
SVTH: Lê Thò Hà Trang
8
- Xử lý CTR làm compost
- Nâng cao nhận thức của người dân
Vạch tuyến thu gom hiệu quả, triệt để lượng rác phát sinh hàng ngày, đồng
thời phân loại, tái sử dụng CTR.
Mang lại lợi ích kinh tế cho nhà nước trong chi phí xử lý rác, đồng thời tìm
ra được giải pháp để giải quyết cho vấn đề đất chôn lấp rác đang thiếu hụt do
khối lượng rác gia tăng.
nhiều mầm bệnh và tích chất nguy hại của nó cũng tăng dần. Sự thải bỏ các thực
phẩm thừa và các loại chất thải khác tại các thò trấn, khu trục lộ, đường giao
thông, khu đất trống… dẫn đến việc vô hình tạo môi trường cho những mầm bệnh
dòch nhiễm bộc phát như chuột, kí sinh trùng (bọ chét), ruồi… mang mầm bệnh
dòch hạch lây lan khắp mọi nơi. Đến tận thế kỉ 19, việc kiểm soát dòch bệnh liên
quan đến sức khỏe cộng đồng mới được quan tâm và họ nhận thấy rằng các chất
thải từ thực phẩm dư thừa cần được thu gom và tiêu hủy hợp vệ sinh, tránh các
bệnh truyền nhiễm. Mối quan hệ giữa sức khỏe cộng đồng và việc lưu giữ, thu
gom, vận chuyển và xử lý cần được tiến hành đồng bộn và kòp thời để đảm bảo
sức khỏe cũng như làm sạch môi trường sống của chúng ta.
2.1. TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN
2.1.1 Khái niệm
Có nhiều khái niệm nêu rõ về chất thải rắn. Nhìn chung có hai khái niệm về
chất thải rắn có thể chấp nhận được về tính logic của nó, đó là:
- Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các
hoạt động kinh tế – xã hội của mình (các hoạt động sản xuất, đời sống và duy trì
sự tồn tại của cộng đồng…), trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra
từ các hoạt động sản suất và hoạt động sống.
Đề tài tốt nghiệp GVHD: Ks.Vũ Hải Yến
SVTH: Lê Thò Hà Trang
10
- Chất thải rắn đô thò được dònh nghóa là: vật chất mà con người tạo ra ban
đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thò mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ
đó. Thêm vào đó, chất thải được coi là chất thải rắn đô thò nếu chúng được xã hội
nhìn nhận như một thứ mà thành phố có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy.
- Theo quan niệm này thì chất thải rắn đô thò có các đặc trưng sau:
- Bò vứt bỏ trong khu vực đô thò.
- Thành phố có trách nhiệm thu gom
11
dựng chửa chữa nâng cấp mở rộng
đường phố, cao ốc, san nền xây
dựng.
cao, bụi.
Dòch vụ công cộng
đô thò
Hoạt động dọn rác vệ sinh
đường phố, công viên, khu vui
chơi giải trí, bãi tắm.
Rác cành cây cắt tỉa, chất thải
chung tại khu vui chơi, giải trí.
Các khu công
nghiệp
Công nghiệp xây dựng, chế tạo,
công nghiệp nặng- nhẹ, lọc dầu,
hóa chất, nhiệt điện.
Chất thải do quá trình chế biến
công nghiệp, phế liệu, và các
rác thải sinh hoạt
Nông nghiệp Đồng cỏ, đồng ruộng, vườn cây
ăn trái, nông trại.
Thực phẩm bò thối rửa, sản
phẩm nông nghiệp thừa, rác,
chất độc hại.
(Nguồn: Nguyễn Văn Phước - Giáo trình Quản Lý Chất Thải Rắn)
2.2. THÀNH PHẦN CHẤT THẢI RẮN
quen, mức độ văn minh, tốc độ phát triển…). Một số đặc trưng điển hình của chất
thải ở Việt Nam:
- Hợp phần có thành phần hữu cơ cao (50,27% - 62,22%).
- Chứa nhiều đất cát, sỏi đá vụn, gạch vỡ, vỏ sò, sành sứ…
- Độ ẩm cao, nhiệt trò thấp (900kcal/kg).
Bảng 2.2: Lượng chất thải tạo thành và tỉ lệ thu gom trên toàn quốc từ năm
1997-1999.
Loại chất thải Lượng phát sinh
(tấn/ngày)
Lượng thu gom (%)
1997 1998 1999 1997 1998 1999
Chất thải sinh hoạt 14.525 16.558 18.879 55 68 75
Bùn, cặn cống 822 920 1.049 90 92 92
Phế thải xây dựng 1.798 2.049 2.336 55 65 65
Chất thải y tế nguy hại 240 252 277 75 75 75
Chất thải CN nguy hại 1.930 2.2 2.508 48 50 60
Tổng cộng 19.315 21.979 25.049 56 70 73
(Nguồn: Số liệu quan trắc –CEETIA –năm 2000)
Bảng 2.3: Thành phần chất thải rắn ở một số đô thò năm 1998. % theo tải lượng
Thành phần Hà Nội Hải Phòng Hạ Long Đà Nẵng Tp HCM
Chất hữu cơ 50,1 50,58 40,1-44,7 31,50 41,25
Cao su, nhựa 5,50 4,52 2,7-4,5 22,50 8,78
Giấy, carton, giẻ vụn. 4,2 7,52 5,5-5,7 6,81 24,83
Kim loại 2,50 0,22 0,3-0,5 1,04 1,55
Thủy tinh, gốm, sứ 1,8 0,63 3,9-8,5 1,08 5,59
Đất, đá, cát, gạch vụn 35,90 36,53 47,5-36,1 36,0 18
Độ ẩm 47,7 45-48 40-46 39,09 27,18
Độ tro 15,9 16,62 11 40,25 58,75
Tỷ trọng, tấn/m
3
.
Phương pháp xác đònh trọng lượng riêng của chất thải rắn:
Mẫu chất thải rắn để xác đònh trọng lượng riêng có thể có thể tích khoảng 500
lít sau khi xáo trộn bằng kỹ thuật “Một phần tư” các bước tiến hành như sau:
1. Đổ nhẹ mẫu chất thải rắn vào phòng thí nghiệm có thể tích đã biết (tốt nhất
là thùng có dung tích 100 lít) cho đến khi chất thải đầy đến miệng thùng.
2. Nâng thùng chứa lên cách mặt sàn khoảng 30 cm và thả rơi tự do, lặp lại 04
lần.
3. Tiếp tục làm đầy thùng bằng cách đổ thêm mẫu chất thải rắn vào thùng thí
nghiệm để bù vào phần chất thải đã đè xuống.
4. Cân và ghi khối lượng của cả thùng thí nghiệm và chất thải rắn.
5. Trừ khối lượng cân được ở trên cho khối lượng của thùng thí nghiệm ta
được khối lượng của phần chất thải thí nghiệm.
6. Chia khối lượng tính từ bước trên cho thể tích của thùng thí nghiệm ta được
khối lượng của phần chất thải rắn thí nghiệm.
7. Lập lại thí nghiệm ít nhất hai lần để có giá trò trọng lượng riêng trung bình.
Đề tài tốt nghiệp GVHD: Ks.Vũ Hải Yến
SVTH: Lê Thò Hà Trang
14
BD: Trọng lượng riêng của chất thải rắn (theo Bulk Density) được xác đònh theo
công thức :
(Trọng lượng thùng chứa + chất thải) – (trọng lượng thùng chứa
BD =
Dung tích thùng chứa
Độ ẩm
Độ ẩm của chất thải rắn được đònh nghóa là lượng nước chứa trong một đơn vò
trọng lượng chất thải ở trạng thái nguyên thủy.
Độ ẩm chất thải rắn được biển diễn bằng hai phương pháp: trọng lương ướt và
S = l
S = (l + w)/2
S = (l + h + w)/3
S = (l.w)
1/2
S = l.w.h)
1/3
Trong đó:
S: kích thước của các thành phần.
l: chiều dài, mm
w: là chiều rộng,
Khi sử dụng các phương pháp khác nhau thì kết quả sẽ có sự sai lệch, tùy thuộc
vào hình dáng kích thước của chất thải mà ta chọn phương pháp đo lường cho phù
hợp.
Khả năng giữ nước tại thực đòa (hiện trường)
Khả năng giữ nước tại hiện trường của chất thải rắn là toàn bộ lượng nước mà
nó có thể giữ lại trong mẫu chất thải dưới tác dụng kéo xuống của trọng lực. Là
một chỉ tiêu quan trọng trong việc tính toán xác đònh lượng nước rò rỉ từ bãi rác.
Khả năng giữ nước tại hiện trường thay đổi phụ thuộc vào áp lực nén và trạng thái
phân hủy của chất thải (ở khu dân cư và các khu thương mại thì dao động trong
khoảng 50 – 60%).
Độ thấm (tính thấm) của chất thải đã được nén
Hệ số thấm được tính như sau:
µ
γ
µ
- Độ ẩm (lượng nước mất đi sau khi sấy ở 105
0
C trong 1h).
- Chất dễ cháy bay hơi (trọng lượng mất đi thêm vào khi đem mẫu chất thải
rắn đã sấy ở 100
0
C trong 1h, đốt cháy ở nhiệt độ 950
0
C trong lò nung kín).
- Carbon cố đònh (phần vật liệu còn lại dễ cháy sau khi loại bỏ các chất bay
hơi).
- Tro (trọng lượng còn lại sau khi đốt cháy trong lò hở).
2) Điểm nóng chảy của tro
Điểm nóng chảy của tro là nhiệt độ đốt cháy chất thải để tro sẽ thành một khối
rắn (gọi là clinker) do sự nấu chảy và kết tụ, và nhiệt độ này khoảng 2000 đến
2200
0
F (1100 đến 1200
0
C).
3) Phân tích cuối cùng các thành phần tạo thành chất thải rắn
Phân tích cuối cùng các thành phần tạo thành chất chủ yếu xác đònh phần trăm
(%) của các nguyên tố C, H, O, N, S và tro. Kết quả phân tích cuối cùng mô tả các
Đề tài tốt nghiệp GVHD: Ks.Vũ Hải Yến
SVTH: Lê Thò Hà Trang
17
thành phần hóa học của chất hữu cơ trong chất thải rắn. Kết quả này còn đóng vai
trò rất quan trọng trong việc xác đònh tỉ số C/N của chất thải có thích hợp cho quá
Chất thải thực phẩm
Giấy
Catton
Chất dẻo
Vải, hàng dệt
Cao su
Da
Lá cây, cỏ
Gỗ
Bụi, gạch vụn, tro
48
3,5
4,4
60
55
78
60
47,8
49,5
26,3
6,4
6
5,9
7,2
6,6
10
8
6
6
3
5
6
5
10
2,45
10
10
4,5
1,5
68
(Nguồn:
Trần Hiếu Nhuệ, Ứng Quốc Dũng, Nguyễn Thò Kim Thái, Quản lý
chất thải rắn đô thò, NXB Xây Dựng – Hà Nội -2001)
2.4. PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN
Chất thải rắn rất đa dạng, vì vậy có nhiều cách phân loại khác nhau như:
2.4.1 Phân loại theo công nghệ quản lý – xử lý
Phân loại chất thải rắn theo dạng này, người ta chia ra các loại: Các chất cháy
được, các chất không cháy được, các chất hỗn hợp.
Bảng 2.5: Phân loại theo công nghệ xử lý
Thành phần Đònh nghóa Ví dụ
1/ Các chất cháy
được.
- Giấy
- Hàng dệt
- Rác thải
- Cỏ, gỗ, củi, rơm.
- Da và cao su.
chế tạo từ chất dẻo.
- Các vật liệu và sản phẩm được
chế tạo từ da và cao su.
- Phim cuộn, túi chất dẻo, chai
lọ chất dẻo, bòch nylon…
- Giấy dép, băng cao su…
2/ Các chất không
cháy được.
- Kim loại sắt. - Kim loại không
phải sắt
- Thủy tinh.
- Đá và sành sứ. - Các vật liệu và các sản phẩm
được chế tạo từ sắt mà dễ bò
nam châm hút.
- Các vật liệu không bò nam
châm hút.
- Các vật liệu và sản phẩm được
chế tạo từ thủy tinh.
- Các vật liệu không cháy khác
ngoài kim loại và thủy tinh
SVTH: Lê Thò Hà Trang
20
carton, plastic, vải, cao su, da, gỗ… và chất không cháy được như thủy tinh, vỏ hộp
kim loại…
- Tro, xỉ: vật chất còn lại trong quá trình đốt củi, than, rơm, lá… ở các hộ gia
đình, công sở, nhà hàng, nhà máy, xí nghiệp…
- Chất thải xây dựng: Đây là chất thải rắn từ quá trình xây dựng, sửa chữa
nhà, đập phá công trình xây dựng tạo ra các xà bần, bêtông…
- Chất thải đặc biệt: Được liệt vào loại rác này có rác thu gom từ việc quét
đường, rác từ thùng rác công cộng, xác động vật, xe ôtô phế thải…
- Chất thải từ các nhà máy xử lý ô nhiễm: chất thải này có hệ thống xử lý
nước, từ nước thải, từ các nhà máy xử lý chất thải công nghiệp. Thành phần chất
thải loại này đa dạng và phụ thuộc vào bản chất của quá trình xử lý. Chất thải này
thường là chất thải dạng rắn hoặc bùn (nước chiếm từ 25 – 95%).
- Chất thải nông nghiệp: Vật chất loại bỏ từ các hoạt động nông nghiệp như
gốc rơm, rạ, cây trồng, chăn nuôi. Hiện nay chất thải này chưa được quản lý tốt
ngay ở các nước phát triển vì đặc điểm phân tán về số lượng và khả năng tổ chức
thu gom.
- Chất thải nguy hại: bao gồm chất thải hóa chất, sinh học dễ cháy, dễ nổ hoặc
mang tính phóng xạ theo thời gian có ảnh hưởng đến đời sống con người, động
thực vật. Những chất này thường xuất hiện ở thể lỏng, khí và rắn. Đối với chất thải
loại này, việc thu gom, xử lý phải hết sức cẩn thận.
2.5. TỐC ĐỘ PHÁT SINH CHẤT THẢI RẮN
Việc tính toán được tốc độ phát thải rác là một trong những yếu tố quan trọng
trong việc quản lý rác thải bởi vì từ đó người ta có thể xác đònh được lượng rác
phát sinh trong quá trình sản xuất, tiêu dùng, đồng thời dự báo được trong tương lai
để có kế hoạch và biện pháp quản lý chặt chẽ từ khâu thu gom, trung chuyển, vận
chuyển đến xử lý. Vì thế để quản lý tốt lượng rác phát sinh ta cần biết tốc độ phát
sinh chất thải rắn. Phương pháp xác đònh tốc độ phát thải rác cũng gần giống như
chở chất thải rắn từ các vò trí đặt các thùng chứa tới điểm tập trung (trạm trung
chuyển, trạm xử lý hoặc bãi chôn lấp). Thời gian thao tác tại bãi thải bao gồm thời
Lượng vào
Nhà máy
Xí nghiệp
Lượng ra
Nguyên nhiên liệu
(Sản phẩm)
Lượng rác thải
Đề tài tốt nghiệp GVHD: Ks.Vũ Hải Yến
SVTH: Lê Thò Hà Trang
22
gian bốc dỡ và thời gian chờ đợi. Ngoài ra quá trình vận chuyển còn tính đến thời
gian hoạt động ngoài hành trình (thời gian tính toán đển kiểm tra phương tiện, thời
gian đi từ cơ quan tới vò trí bốc xếp đầu tiên, thời gian khắc phục do ngoại cảnh
gây ra, thời gian bão dưỡng, sửa chữa thiết bò…).
Sơ đồ tổng quát của quá trình vận chyển rác: Hình 2.1: Sơ đồ tổng quát quá trình vận chuyển rác
2.7. MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN HIỆN NAY
Do tính chất quan trọng của chất thải rắn nên cần phải có một số biện pháp
khống chế ô nhiễm. Một trong những mục tiêu quan trọng để quản lý chất thải rắn
là giảm được nguồn sinh ra chất thải rắn bằng cách hoàn lưu tái sử dụng, thu gom,
vận chuyển, chế biến và chôn lấp hợp vệ sinh. Nói cách khác là nhằm đưa ra mức
độ thích hợp và thỏa mãn được việc bảo vệ tài nguyên.
Vào những năm đầu thế kỷ, lượng chất thải thành phố tạo ra còn nhiều hạn chế
do dân số còn rất ít, các chất hữu cơ được đưa vào đất như phân bón và thương mại
thải và bảo vệ tài nguyên.
Kinh nghiệm một số nước cho thấy có đến 90% chai và trên 90% can được đưa
vào sử dụng lại trung bình từ 15 – 20 lần. Để thực hiện được cần phải có vò trí để
tập trung thuận tiện cho người dân, hiện nay phương pháp thường dùng hơn cả là
hệ thống thu gom. Ở những đòa điểm trung tâm, người ta đặt các thùng chứa thích
hợp, có thể được thiết kế để thu nhận “sản phẩm mong muốn”, chẳng hạn màu
trắng để thu gom thủy tinh… thu gom tập trung là biện pháp thích hợp để phục vụ
cộng đồng nói chung và việc hoàn lưu – tái sử dụng cũng đạt kết quả cao hơn. Hơn
nữa, thu gom tập trung là biện pháp rất đơn giản: các chất thải thu gom được đem
tới nơi chứa tạm thời hoặc trực tiếp đến khu chế biến.
Hoàn lưu – tái sử dụng về mặt kinh tế không có lợi nhưng chính quyền phải
khuyến khích quần chúng phải quan tâm và ủng hộ việc này. Môi trường chỉ có ý
nghóa thật sự khi giảm được lượng chất thải, bảo vệ tài nguyên, giảm tiêu hao
năng lượng, giảm sử dụng nước.
2- Thu gom
đô thò, chất thải thường đặt ngay ở vỉa hè hoặc sau khu xây dựng, đựng trong
các túi nylon, thùng rác, hoặc được mang tới nơi công cộng riêng biệt và đặt vào
Đề tài tốt nghiệp GVHD: Ks.Vũ Hải Yến
SVTH: Lê Thò Hà Trang
24
các thùng rác kín hơn. Đối với khu vực có số dân cư khoảng 500 người có một chỗ
thu gom là tốt nhất.
Sự hợp lý hóa hệ thống thu gom chất thải là điều quan trọng, có thể thu gom
đến 80 – 85% chất thải rắn vào nơi thu gom thống nhất. Nghiên cứu quản lý chất
thải rắn không nên cho rằng chất thải được thu gom chờ vứt bỏ. Trong việc hợp lý
hóa hệ thống thu gom, cần xác đònh mức độ phục vụ đã đề ra như thu gom thường
xuyên, phân tích kho chứa tạm thời và phương pháp thu gom đã sử dụng cũng như
tính phù hợp của tuyến đường thu gom.
dùng làm nguyên liệu trong công nghiệp.
2.8. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN
2.8.1 Phương pháp cơ học
Giảm kích thước
Kích thước được sử dụng nhằm mục đích là làm giảm kích thước của các loại
vật liệu trong rác tải đô thò. Các thiết bò thường sử dụng là búa đập, kéo cắt, và
máy nghiền.
Phân loại theo kích thước
Phân loại theo kích thước hay sàn lọc là một quá trình phân loại hỗn hợp các
loại vật liệu có kích thước khác nhau thành hai hay nhiều loại vật liệu có cùng
kích thước sử dụng các loại sàng có kích thước khác nhau.
Các thiết bò sử dụng thường nhất là các loại sàng rung và sàng có dạng trống
quay. Loại sàng rung sử dụng khi các vật liệu tương đối khô như là kim loại và
thủy tinh. Loại sàng trống quay dùng để tách rời các loại giấy carton và giấy vụn. Phân loại theo trọng lượng
Phân loại bằng phương pháp trọng lượng là một kỹ thuật được sử dụng rất rộng
rãi dùng để phân loại các vật liệu có trọng lượng riêng khác nhau, được sử dụng
để tách rời các loại vật liệu từ quá trình cắt nghiền thành hai dạng khác nhau:
dạng có trọng lượng riêng nhẹ như giấy, nhựa, các chất hữu cơ và dạng có trọng