Nghiên cứu khả năng thích ứng và một số biện pháp kỹ thuật đối với địa lan kiếm Trần Mộng Xuân (Cymbidium lowianum) tại Lai Châu - Pdf 33

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHONG VĨNH CƯỜNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VÀ MỘT SỐ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI ĐỊA LAN KIẾM
TRẦN MỘNG XUÂN (Cymbidium lowianum) TẠI LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHONG VĨNH CƯỜNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VÀ MỘT SỐ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI ĐỊA LAN KIẾM
TRẦN MỘNG XUÂN (Cymbidium lowianum) TẠI LAI CHÂU
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO THANH VÂN

THÁI NGUYÊN - 2015


Tác giả luận văn

Phong Vĩnh Cường


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ........................................................ vi
DANH MỤC BẢNG ...................................................................................... vii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề ................................................................................................. 1
2. Mục tiêu, yêu cầu của đề tài...................................................................... 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .................................................. 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ................................. 5
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ...................................................................... 5
1.1.1. Cơ sở khoa học của nghiên cứu vùng sinh thái và đặc điểm nông
sinh học ..................................................................................................... 5
1.1.2. Cơ sở khoa học của nghiên cứu thuốc bảo vệ thực vật................... 5
1.1.3. Cơ sở khoa học của nghiên cứu sử dụng phân bón lá..................... 5
1.1.4. Cơ sở khoa học của nghiên cứu giá thể .......................................... 7
1.2. Đặc điểm hình thái trong hệ thống phân loại ......................................... 7
1.3. Yêu cầu về ngoại cảnh của cây lan ...................................................... 13
1.3.1. Nhu cầu về ánh sáng ..................................................................... 13
1.3.2. Nhu cầu về nhiệt độ ...................................................................... 16
1.3.3. Nhu cầu về độ ẩm.......................................................................... 17
1.3.4. Nhu cầu về dinh dưỡng ................................................................. 20
1.3.5. Độ thông gió.................................................................................. 23

một số vùng sinh thái tỉnh Lai Châu ........................................................... 43
3.1.1. Đánh giá khả năng thích ứng của Địa lan kiếm Trần Mộng Xuân
tại một số vùng sinh thái tỉnh Lai Châu .................................................. 43
3.1.2. Đặc điểm khí hậu các vùng nghiên cứu các năm 2014- 2015 ...... 44
3.1.3. Ảnh hưởng của các vùng sinh thái đến sinh trưởng và phát triển
của cây địa lan kiếm TMX ...................................................................... 45


i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
hoàn toàn trung thực, có thực tiễn; chưa được bảo vệ ở bất kỳ một hội đồng
khoa học hay học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đều đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều
được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Phong Vĩnh Cường


vi
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

BPQL

: Bón phân qua lá

BVTV


NN&PTNT

: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

TLB

: Tỷ lệ bệnh

TMX

: Trần Mộng Xuân


vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Nhu cầu ánh sáng của một số nhóm loài lan .................................. 15
Bảng 1.2. Các biện pháp chủ yếu tưới nước cho lan ...................................... 19
Bảng 3.1: Tình hình trồng địa lan kiếm Trần Mộng Xuân tại các vùng nghiên
cứu năm 2014 .................................................................................. 43
Bảng 3.2: Đặc điểm khí hậu các vùng nghiên cứu các năm 2014 - 2015 ....... 44
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của các vùng sinh thái đến sinh trưởng và phát triển của
cây địa lan kiếm TMX .................................................................... 45
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của các vùng sinh thái đến thời điểm ra hoa của cây địa
lan kiếm TMX ................................................................................. 46
Bảng 3.5: Độ bền hoa của cây địa lan kiếm TMX .......................................... 47
Bảng 3.6: Chất lượng hoa của cây địa lan kiếm TMX tại Lai Châu ............... 48
Bảng 3.7: Tình hình sâu bệnh hại trên địa lan kiếm Trần Mộng Xuân ở các
vùng sinh thái của tỉnh Lai Châu .................................................... 49
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và phát triển của cây
địa lan kiếm TMX ........................................................................... 50

Hoa địa lan là một trong những loại cây trồng có giá trị kinh tế cao ở
một số nước trồng hoa trên thế giới như Mỹ, Thái lan, Đài Loan… Tại Việt
Nam, trong khoảng 20 năm trở lại đây nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, hoa
lan bắt đầu được nuôi trồng nhiều, nhiều loài lan mới có màu sắc đẹp, đa dạng
đã ra đời nhờ công nghệ lai giống, cấy ghép. Khảo sát từ những khu vực trồng
lan, các viện nghiên cứu, các trung tâm thì hoa lan được lai tạo đang ngày
càng phong phú, đặc biệt là giống lan Hồ Điệp và Địa Lan Kiếm... Lan Hồ
Điệp màu mới có cánh hoa trắng họng tím, cánh tím đậm, họng vàng, cánh
vàng nhạt, họng hồng, cánh cam, họng đỏ, cánh trắng, họng cam đang được
sản xuất. Địa lan kiếm cũng khoe đủ sắc mầu mới: hoa màu vàng cam pha
xanh lá cây, hoa màu cam đất họng đỏ pha vàng, lục pha vàng, hoa có đài
hồng bông tím, hoa đài hồng nhạt, cánh hồng đậm. Đặc biệt là giống địa lan
kiếm có hương thơm ngát với đài hoa màu nâu, bông hình chuông màu hồng.
Theo một số nhà vườn các giống hoa lan, đặc biệt là hoa địa lan kiếm có màu
mới lai tạo có giá cao hơn 20-30%. Dù giá thành có cao hơn so với các loài
hoa khác nhưng hiện nay đang ngày càng có nhiều người thích chơi hoa lan
nhờ các đặc tình nổi bật của nó như đa dạng về màu sắc, mùi hương quyến rũ,
tuy khó trồng nhưng lại bền, đẹp hơn các loài hoa khác. Đặc biệt những chậu
địa lan kiếm Trần Mộng Xuân có hình dáng bề thế, lá cong rủ xuống trông
thướt tha yêu kiều cho những bông hoa nở đúng vào dịp tết nguyên đán hết
sức có giá trị đang rất được ưa chuộng và hấp dẫn người chơi bởi vẻ đẹp tự
nhiên và hương thơm.
Địa lan kiếm Trần Mộng Xuân (Cymbidium lowianum) là loại lan có
hoa rất đẹp, với vẻ đẹp của loài có hoa tự dài, hoa to và bền, màu sắc xanh


2

vàng, cánh môi vàng sẫm, số lượng hoa trên chùm có thể lên tới vài chục hoa.
Hoa nở đúng vào dịp tết Nguyên đán nên mang lại hiệu quả kinh tế rất cao.

Để có cơ sở phát triển sản xuất loài hoa có giá trị kinh tế này tại tỉnh
Lai Châu cần phải nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc loại
hoa lan này trên địa bàn nhằm phát huy lợi thế sẵn có của địa phương, mang
lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất và địa phương.
Từ những yêu cầu thiết thực đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên
cứu khả năng thích ứng và một số biện pháp kỹ thuật đối với Địa lan
kiếm Trần Mộng Xuân (Cymbidium lowianum) tại Lai Châu”.
2. Mục tiêu, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục tiêu
Nghiên cứu khả năng thích ứng của giống hoa địa lan kiếm Trần Xuân
Mộng tại một số vùng sinh thái của tỉnh Lai Châu và nghiên cứu một số biện
pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống hoa địa lan kiếm
Trần Xuân Mộng trên địa bàn tỉnh.
Xác định khả năng thích ứng của địa lan kiếm Trần Mộng Xuân với
một số tiểu vùng sinh thái trên địa bàn của tỉnh Lai Châu
Xác định một số biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm nâng cao năng suất,
chất lượng, đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất hoa địa lan kiếm Trần
Mộng Xuân.
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá khả năng thích ứng của cây Địa lan kiếm Trần Mộng Xuân
tại một số vùng sinh thái tỉnh Lai Châu.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đối với sinh trưởng và phát
triển cây Địa lan kiếm Trần Mộng Xuân.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể đến sinh trưởng và phát
triển của địa lan kiếm Trần Mộng Xuân.


4

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số thuốc bảo vệ thực vật đối với

Thái Nguyên.
Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới những
người thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên và khích
lệ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành Luận văn.

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn

Phong Vĩnh Cường


6

trồng. Bón phân qua lá (BPQL) có một vai trò ngày càng gia tăng trong dinh
dưỡng cây trồng và đã được áp dụng từ nhiều năm nay trên thế giới, đây là
một phương pháp giảm giá thành đầu tư, dễ áp dụng và hiệu quả để gia
tăng năng suất và chất lượng cây trồng dẫn đến gia tăng lợi nhuận nếu
được áp dụng đúng cách.
Quy trình sinh học của cơ chế hấp thu qua lá và phân phối dinh
dưỡng bên trong cây trồng, thực hiện các nhiệm vụ bên trong lá hoặc vận
chuyển các chất dinh dưỡng khoáng ra khỏi lá đến các bộ phận khác của
cây trồng và quy trình hấp thu thông qua màng tế bào (plasma
membrane), từ các không bào bên trong lá (apoplast) vào bên trong tế bào
(symplast) sẽ xảy ra.
Phân bón có vai trò quan trọng đối với cây trồng, ngoài việc bón phân
qua hệ rễ thì việc bón phân qua lá là biện pháp kỹ thuật quan trọng, có hiệu suất
sử dụng phân bón cao, cung cấp dinh dưỡng có hiệu quả, bổ sung kịp thời các
nguyên tố dinh dưỡng cho cây trồng. Khi bón phân qua lá, các chất dinh dưỡng
được dẫn đến các tế bào mô cây qua hệ thống khí khổng ở bề mặt lá. Trong
thành phần chất dinh dưỡng của phân bón qua lá ngoài các nguyên tố đa lượng

bã nấm....,
1.2. Đặc điểm hình thái trong hệ thống phân loại
Họ Phong lan (Orchidaceae Juss.) thuộc Bộ Phong lan (Orchidales),
trong Lớp một lá mầm (Monocotyledones) của Ngành thực vật Hạt kín
(Angiospermae). Đây là một họ thực vật có nhiều đặc điểm hình thái, cấu
tạo hoa đa dạng và phức tạp. Trong quá trình tiến hóa, Họ Phong lan đều
bắt nguồn từ tổ tiên kiểu Hypoxis có 6 mảnh bao hoa và 6 nhị đực (Võ Văn
Chi, 1978) [3], (Phạm Hoàng Hộ, 1993) [5], (Trần Hợp, 1968) [6]. Tuy
nhiên, sự thay đổi về hình dạng cánh hoa và vừa giảm bớt, vừa dính lại của
nhị đực với bộ nhụy làm cho Họ Phong lan thành một họ có lối sinh sản
chuyên hóa nhất của loài thực vật có hoa. Quá trình tiến hóa này phân chia
họ Phong lan thành 5 họ phụ, trong đó: từ các loài nguyên thủy nhất có 2


8

đến 3 nhị đực rời nhau: Apostasioideae; sau đó là nhóm có 2 nhị:
Cypripedioideae và các loài chỉ có 1 nhị đực dính với bộ nhụy (chiếm 99%
tổng

số

loài

của

cả

họ):



Còn ở Việt Nam, số loài hiện đã biết là 897 loài thuộc 152 chi. Chúng
chiếm khoảng 80% số loài được biết đến (Trần Hợp, 1988) [7].
Ở họ Phong lan, ngoài các loài mọc ở đất chúng còn sống được trong
các hốc đá, vách đá, sống phụ trên vỏ thân cây gỗ, sống trong mùn (xác thực
vật) hay sống ký sinh trên rễ các cây ở trong rừng. Do đa dạng về dạng sống,
nên họ Phong lan có hình thái cấu tạo hết sức độc đáo. Sơ bộ có thể mô tả các
cơ quan sinh dưỡng và sinh sản của Phong lan như sau:
Hệ rễ: Đối với các loài sống ở đất, chúng thường có củ nạc to nhỏ
không đều, hoặc rễ chùm xum xuê trên các thân, rễ bò dài hoặc ngắn. Tuy
nhiên, nét độc đáo của họ Phong lan là lối sống phụ bì (bì sinh), bám, treo lơ
lửng trên các thân cây gỗ khác. Chúng phát triển hệ rễ nạc dài, ngắn, mập hay
mảnh mai tùy thuộc vào từng loài để đưa cơ thể bò đi xa hay chụm lại thành
bụi dày. Hệ rễ phát triển nhiều hay ít phụ thuộc vào hình dạng chung của cơ
thể. Ở các loài nhỏ bé, hệ rễ cũng nhỏ, đan thành búi, ngược lại, ở những loài
có kích thước lớn hay trung bình hệ rễ ký sinh phát triển rất phong phú, mọc
rất dài, mập và khỏe vừa giữ cho cơ thể bám vững chắc vừa hấp thu nước lơ
lửng trong không khí.
Nhiều loài có hệ rễ đan, bện chằng chịt là nơi thu gom mùn từ vỏ cây
gỗ hay cây bụi, trong không khí để làm nguồn dự trữ chất dinh dưỡng cho
cây. Ngược lại có loài mọc bò dài, hệ rễ có khi buông thõng xuống theo các
đoạn thân, cứng hoặc mảnh mai, treo lơ lửng trong không khí hoặc cắm
thẳng xuống đất.
Ở một số loài có thân, lá kém phát triển, hệ rễ phát triển dày đặc và
kiêm nhiệm luôn cả vai trò quang hợp, rễ có dạng bẹt, bò rất dài, màu xanh
như lá. Đặc biệt các loại Lan sống hoại, sống ký sinh, bộ rễ có hình dạng, cấu
trúc khá độc đáo, có dạng búi nhỏ với những vòi, giác hút ngắn, dầy đặc để
lấy dinh dưỡng từ những đám xác thực vật thông qua hoạt động của nấm. Mặc




11

thành bẹ ôm lấy cây, đôi khi phần lá dưới sát gốc tiêu giảm đi chỉ còn là
những bẹ không có phiến lá hay giảm hẳn thành các vẩy.
Các loài địa lan có số lá trên nhánh biến động rất lớn: loại có lá trên
nhánh ít như Đông Lan (2-6 lá/ nhánh); trong khi đó Bạc Lan
(Cerythrostylum) có số lá rất lớn (9,1 lá/nhánh). Độ dày và độ rộng của lá
cũng rất khác nhau, lá dài phải kể đến đó là Ngọc Bích (Cymbidium
dayamum): 100cm; Thanh Ngọc (Cymbidiumensifolium) 40-80 cm (Charles
Marles, Fitch, 1981) [34].
Về màu sắc, phiến lá thường có màu xanh bóng như các chi Lan Kiếm
(Cymbidium.SW), Chi lan Bầu Rượu (Calanthe R.Br), có loài màu xanh đậm
như Hạc Đính vàng (Phaius flavum), có loài lan lại có màu hồng và nổi lên các
đường vẽ trắng theo các gân rất đẹp như chi Lan Gấm (Goodyera.R.Browm),
Lan Sứa (Anoectochilus BL), Lan San Hô (Luisia Gaudisc).
Hoa: Cấu tạo của hoa lan cực kỳ phong phú và đa dạng, có thể gặp
nhiều loài hoa mà mỗi mùa chỉ có một đóa hoa nở hoặc có nhiều cụm hoa mà
mỗi cụm chỉ ra một bông... Mặc dù muôn hình muôn vẻ nhưng nếu quan sát
hoa của bất kỳ loài Phong lan nào cũng có một tổ chức đồng nhất của hoa
mẫu 3 là một kiểu hoa đặc trưng của lớp một lá mầm nhưng đã biến đổi rất
nhiều để hoa có đối xứng qua một mặt phẳng (Trần Hợp, 1988) [7].
Mầm hoa của địa lan được hình thành từ đốt thứ 3, thứ 4 ở gần đáy
của các củ. Hoa đứng thẳng hay cong, thường dài và mang nhiều hoa; còn
ở các loài sống phụ, chồi hoa thường xuất hiện bên dưới củ giả, trong các
nách lá, tách các bẹ già đâm ra bên ngoài. Thông thường, mỗi củ giả chỉ
cho hoa một lần. Chồi hoa thường xuất hiện đồng thời với chồi thân,
nhưng chồi hoa mập, tròn hơn, còn chồi thân hơi dẹp. Các lá đầu tiên ở
chồi thân mọc đâm ra hai phía hình đuôi cá, còn ở chồi hoa các lá bao hoa
luôn ôm chặt quanh phát hoa (Trần Hợp, 1990) [8].

1.4.3. Kỹ thuật tưới nước cho cây ........................................................... 24


13

Hạt: Có rất nhiều hạt, kích thước nhỏ li ti, trong lượng rất nhẹ, toàn
bộ hạt trong một quả chỉ khoảng 1/10 - 1/1.000mg; trong đó không khí
chiếm 76 - 96% thể tích của quả. Hạt chỉ cấu tạo từ một khối phôi chưa
phân hóa, trên một mạng lưới nhỏ xốp chứa đầy không khí. Phần lớn hạt
thường chết vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết để nảy mầm. Chỉ ở trong
những khu rừng già ẩm ướt, vùng ôn đới núi cao mới có thể đủ điều kiện để
hạt nảy mầm (Trần Hợp, 2007) [10].
* Đặc điểm sinh học của cây địa lan Trần Mộng Xuân (Cymbidium
lowianum)
Địa lan Trần Mộng Xuân có tên khoa học Cymbidium lowianum thuộc
Họ phong lan (Orchidaceae). Lan đất, củ giả tròn, lá hình dải hẹp dài từ 40 100cm, số lá trung bình/nhánh là 5,1 lá. Chùm hoa dài từ 70 - 100cm thường
dài hơn lá, với 20 - 45 hoa. Hoa lớn dài 12cm màu vàng lục cánh môi chia ba
thùy màu vàng, đỉnh môi màu đỏ hồng.
Loại địa lan này chỉ đẻ 1 nhánh/năm, đẻ 2 đợt mầm trong năm vào
tháng 3-4 và tháng 9-10. Những mầm đẻ vào tháng 9-10 thường là mầm sinh
trưởng, phát triển kém, còi cọc, những mầm này khó có khả năng cho ra hoa.
Tốc độ sinh trưởng về chiều cao của địa lan chậm, nhanh nhất là tháng thứ 6
mới đạt chiều cao tối đa.
1.3. Yêu cầu về ngoại cảnh của cây lan
Để sinh trưởng và phát triển tốt cần có yếu tố ngoại cảnh như nơi xuất
xứ. Muốn nuôi dưỡng tốt hoa lan trước tiên chúng ta cần tìm hiểu đặc tính
sinh trưởng của nó qua các yếu tố chủ yếu sau:
1.3.1. Nhu cầu về ánh sáng
Ánh sáng là điều kiện rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển
thông qua quá trình quang hợp và hô hấp. Đây cũng là yếu tố rất quan trọng cho sự

- Nhóm Calanthe nhu cầu ánh sáng khoảng 30%
- Nhóm Coelogyne nhu cầu ánh sáng khoảng 50%
- Nhóm Eria nhu cầu ánh sáng khoảng 60%


15

Đối với mỗi loài lan lại có sự khác biệt tương đối trong từng nhóm
và cho dù trong điều kiện nuôi trồng nhân tạo cũng không thể tạo điều
kiện tuyệt đối về một nhu cầu sinh thái nào đó, mà chỉ là tương đối
(Nguyễn Công Nghiệp, 1986) [12].
Bảng 1.1. Nhu cầu ánh sáng của một số nhóm loài lan
Nhu cầu

Các nhóm loài chủ yếu

ánh sáng
Ưa bóng 30 40%

Một số loài thuộc chi Tai Dê (Liparis), Chi lan Sứa
(Anoectochilus), Chi lan Bầu Rượu (Calanthe), Chi lan Luân
(Eulophia), Hạt Đính (Phaius), Paphiopedilum,...

Trung tính 60 Chi
- 70%

lan

Kiếm




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status