Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LẠI VIỆT CƢỜNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VÀ MỘT SỐ BIỆN
PHÁP KỸ THUẬT SẢN XUẤT CÀ CHUA VỤ ĐÔNG XUÂN
NĂM 2009 - 2010 VÀ 2010 - 2011 TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRỒNG TRỌT
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VÀ MỘT SỐ BIỆN
PHÁP KỸ THUẬT SẢN XUẤT CÀ CHUA VỤ ĐÔNG XUÂN
NĂM 2009 - 2010 VÀ 2010 - 2011 TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRỒNG TRỌT
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số : 60 62 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Tiến sĩ Nguyễn Thị Mão
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
THÁI NGUYÊN- 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn tốt nghiệp cao học tại
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều
kiện của Nhà trường, Khoa sau đai học, các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè để
hoàn thành luận văn của mình. Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
- Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học Trường đại học Nông
Lâm Thái Nguyên.
- TS. Nguyễn Thị Mão – Giảng viên khoa Nông học Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên.
- Các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành trong khoá học.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các Thầy Cô giáo,
gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình học
tập và thực hiện để tài.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2011
TÁC GIẢ
Xuân 2009 - 2010 và 2010 - 2011 tại Thái Nguyên 45
Bảng 3.3: Chiều cao cây và số lá của các giống cà chua thí nghiệm vụ Đông
Xuân 2009 - 2010 và 2010 - 2011 tại tp Thái Nguyên 47
Bảng 3.4: Tình hình sâu, bệnh hại trên các giống cà chua thí nghiệm vụ Đông
Xuân 2009 - 2010 và 2010 - 2011 tại Thái Nguyên 49
Bảng 3.5: Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống cà chua trong vụ Đông
Xuân 2009 - 2010 và 2010 - 2011 tại Thái Nguyên 50
Bảng 3.6: Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống cà chua thí
nghiệm vụ Đông Xuân 2009 - 2010 và 2010 - 2011 tại Thái
Nguyên 52
Bảng 3.7: Một số đặc điểm hình thái quả của các giống cà chua thí nghiệm vụ
Đông Xuân 2009 - 2010 và 2010 - 2011 tại Thái Nguyên 54
Bảng 3.8: Các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của giống cà chua TN386 trong
vụ Đông Xuân 2010 - 2011 ở các mật độ trồng khác nhau 56
Bảng 3.9: Động thái tăng trưởng chiều cao của giống cà chua TN386 trong vụ
Đông Xuân 2010 - 2011 ở các mật độ trồng khác nhau 58
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Bảng 3.10: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây qua các kỳ theo dõi 61
Bảng 3.11: Động thái tăng trưởng số lá trên thân chính của giống cà chua TN386
vụ Đông Xuân 2010 - 2011 ở các mật độ trồng khác nhau 63
Bảng 3.12: Tình hình sâu, bệnh hại trên giống cà chua TN386 vụ Đông Xuân
2010 - 2011 ở các mật độ trồng khác nhau 64
Bảng 3.13: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống cà chua
TN386 ở các mật độ trồng khác nhau vụ Đông Xuân 2010 - 2011 66
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến hiệu quả kinh tế của giống cà chua
TN386 trong vụ Đông Xuân 2010 - 2011 69
Bảng 3.15: Các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của giống cà chua TN386 ở các
công thức trồng xen vụ Đông Xuân 2010 – 2011 71
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng
ngày của mỗi người trên khắp hành tinh, đặc biệt khi lương thực và các loại thức
ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng, như một
nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Rau là nguồn
cung cấp năng lượng cho cơ thể. Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì
nhu cầu tiêu thụ rau bình quân hàng ngày của mỗi người trên thế giới cần
khoảng 250-300g/ngày/người tức 90-110kg/người/năm. Rau cung cấp cho cơ
thể con người các chất dinh dưỡng quan trọng như các loại vitamin, muối
khoáng, axit hữu cơ, các hợp chất thơm, cũng như protein, lipit, chất xơ Trong
141.400.629 tấn, đứng đầu trong các loại rau quả. Ở nước ta, cà chua được trồng
với diện tích nhỏ (24.160 ha), sản lượng thấp (472.569 tấn), mức tiêu thụ bình
quân chỉ đạt 5,6 kg/người/năm, trong khi đó mức tiêu thụ bình quân trên thế giới
là 17kg/người/năm.
Thái Nguyên là thành phố công nghiệp có tổng diện tích tự nhiên là
3.562,82 km² , theo số liệu của Tổng cục thống kê từ năm 2008 đến 2010 diện
tích trồng cà chua của cả tỉnh trung bình khoảng 477 ha/năm, năng suất trung
bình chỉ đạt 83,2 tạ/ha (khoảng 40% năng suất trung bình của cả nước) với sản
lượng 3970 tấn. Mức tiêu thụ bình quân đầu người là 3,6 kg/người/năm, thấp
hơn rất nhiều so với mức tiêu thụ bình quân cả nước. Với dân số khoảng trên
300.000 người ở khu vực thành phố (Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên 2010), là
nơi tập trung khá đông các cơ quan xí nghiệp, các trường đại học, cao đẳng và
trung học chuyên nghiệp. Có thể nói đây là thị trường khá lớn để tiêu thụ các sản
phẩm rau quả nói chung và cà chua nói riêng. Tuy nhiên, với sản lượng như trên
thì chưa thể đáp ứng nhu cầu cà chua cả về số lượng và chất lượng cho địa bàn
Tỉnh. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do chưa có được bộ giống
tốt và quy trình kỹ thuật phù hợp để sản xuất cà chua đạt hiệu quả kinh tế cao.
Phần lớn các giống cà chua được trồng tại đây là những giống địa phương, giống
nhập nội chưa rõ nguồn gốc nên năng suất không cao và chất lượng thấp. Bên
cạnh đó kỹ thuật canh tác chưa phù hợp như bố trí mật độ chưa hợp lý, sử dụng
phân bón và thuốc bảo vệ thực vật không theo hướng dẫn làm cho hiệu quả sản
xuất chưa cao, giá cả không ổn định và gây ra ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
cần có những biện pháp để nâng cao năng suất, chất lượng cà chua nhằm đáp
ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường và nâng cao thu nhập cải thiện đời sống cho
người sản xuất. Nếu nâng cao năng suất, chất lượng cà chua thì vừa đáp ứng
được cho nhu cầu tiêu thụ vừa nâng cao thu nhập cho người sản xuất.
Trong những năm gần đây, với tốc độ đô thị hóa nhanh, diện tích đất nông
Xác định bộ giống cà chua cho năng suất và chất lượng cao, phù hợp với
điều kiện tự nhiên, điều kiện sinh thái vụ Đông Xuân tại Thái Nguyên.
Xác định mật độ khoảng cách trồng và cây trồng xen thích hợp nhất đối
với giống cà chua triển vọng để sản xuất cà chua an toàn trong vụ Đông Xuân tại
thành phố Thái Nguyên, giới thiệu cho sản xuất.
4. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Lựa chọn giống cà chua mới có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, năng
suất cao và phù hợp với điều kiện vụ Đông Xuân tại Thái Nguyên.
- Theo dõi một số chỉ tiêu về sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu,
các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống cà chua triển vọng ở các
mật độ trồng khác nhau trong vụ Đông Xuân tại Thái Nguyên .
- Nghiên cứu khả năng hạn chế sâu, bệnh hại khi trồng xen giống cà chua
với một số loại cây trồng khác trong vụ Đông Xuân tại Thái Nguyên . Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
thể xem là một trong những bước thử nghiệm để đánh giá hiệu quả kinh tế mang
lại khi xen canh cà chua với các loại cây trồng khác, cũng như tác động tương
hỗ giữa cà chua với cây trồng xen trên địa bàn Thái Nguyên.
2. Nguồn gốc và phân loại cà chua
2.1 Nguồn gốc cà chua
Nhiều nghiên cứu cho rằng, cà chua (Lycopersicon esculentum Mill.) có
nguồn gốc ở Nam Mỹ và là một trong những cây trồng quan trọng của người
Anh Điêng (Gould WA, 1983) [34]. Bên cạnh đó, việc tìm thấy họ hàng của
nhiều loại cà chua hoang dại ở khu vực từ Chilê tới Ecuador và vùng Thái Bình
Dương bao gồm cả quần đảo Galapagos cũng khẳng định cà chua có xuất xứ từ
khu vực này. Về nguồn gốc cũng có nhiều ý kiến khác nhau song tập trung chủ
yếu vào hai hướng:
- Hướng thứ nhất cho rằng cây cà chua có nguồn gốc từ L. esculentum
Varpimpine lliforme.
- Hướng thứ hai cho rằng cà chua Anh Đào (L. esculentum
Varcerasiforme) là tổ tiên của cà chua trồng ngày nay [36].
Cà chua đã tồn tại ở Peru hàng nghìn năm nhưng nó chỉ thực sự được biết
đến khi người Tây Ban Nha thám hiểm ra khu vực này vào những thập niên đầu
của thế kỷ 16 [34]. Nhiều bằng chứng về trồng trọt và các phân tích về di truyền
đã chứng minh rằng cà chua đã được thuần hóa ở Trung Mỹ [29, 31, 38].
Theo tài liệu từ Châu Âu thì người Aztec và người Toltec là những người
phát tán cây cà chua đến các châu lục. Ở Châu Âu, sự tồn tại của cà chua được
khẳng định thông qua tác phẩm giới thiệu về những giống cà chua có màu vàng
và màu đỏ được mang về từ Mêhicô của nhà nghiên cứu về thực vật Pier Andrea
Mathiolus vào năm 1544 [32]. Đây cũng là thời điểm chứng minh sự tồn tại của
cà chua trên thế giới.
Theo Luck Will (1946) cà chua từ Nam Mỹ được đưa đến Châu Âu vào
tourn được phân làm ba loài thuộc hai chi phụ:
Chi phụ 1: Eriopersion dạng cây một năm hoặc nhiều năm quả không bao
giờ chín đỏ, luôn có màu xanh, có sọc tía, quả có lông, hạt nhỏ. Chi phụ này
gồm hai loài (Lycopersion Peruvianum Mill; Lycopersion Hirsutum Humb. Et.
Bonpl và các loài phụ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Chi phụ 2: Eulycopersicon. Dạng cây hàng năm, quả chín đỏ hoặc vàng.
Chi phụ này gồm một loài là (Lycopersion esculentum Mill.), loài này gồm ba
loài phụ:
- L. Esculentum Mill. Ssp. Spontaneum Brezh – cà chua hoang dại
- L.Esculentum Mill. Ssp. Spontaneum – cà chua bán hoang dại
- L.Esculentum Mill. Ssp. Spontaneum – cà chua trồng trọt, là loại lớn
nhất, có các biến chủng có khả năng thích ứng rộng, được trồng rộng khắp thế
giới có 3 dạng:
+ L. Esculentum Var vulgare Brezh.
+ L. Esculentum Var Validum (Bailey) Brezh. Cà chua Anh Đào, thân
bụi, cây thấp, thân có lông tơ, lá trung bình, cuống ngắn, mép cong.
+ L. Esculentum Var Grandiflium (bailey) Brezh. Cà chua lá to, cây trung
bình, mặt lá láng bóng, số lá trên cây từ ít đến trung bình.
3. Giá trị của cà chua
3.1 Giá trị dinh dƣỡng
Nhiều nhà nghiên cứu và phân tích thành phần hóa học đã xếp cà chua
vào nhóm rau quả dinh dưỡng. Trong quả cà chua chín có chứa nhiều đường
(Glucoza, Fructoza, Saccaroza), các Vitamin (A, B
1
, B
2
, C), các axit hữu cơ
0,76
Carbon hydrat (g)
4,46
4,23
Kali (mg)
223
220
Photpho (mg)
24
19
Magie (mg)
11
11
Vitamin C (mg)
19
18,30
Vitamin A (mg)
623
556
Vitamin E (mg)
0,38
0,91
Niacin (mg)
0,628
0,67
(Nguồn: USA Nutrient Data Base)
Khi so sánh thành phần dinh dưỡng của cà chua với một số loại rau quả
khác như táo, chanh, anh đào, dâu tây thì Becker - Billing thấy rằng nhóm
vitamin trong quả cà chua chiếm tỷ lệ cao hơn, đặc biệt là vitamin C, A cao gấp
10 lần so với dâu tây, gấp 2 lần so với quả anh đào (Becker - Billing dẫn trong
Antioxidant và Lycopen tự nhiên.
Ngoài các chất dinh dưỡng, những giống cà chua có độ Brix cao, thịt quả
dày, có sắc tố (lycopen, caroten, xantophyl) cao được dùng nhiều trong công
nghiệp chế biến thực phẩm.
Với giá trị dinh dưỡng cao nên cà chua là loại rau được trồng phổ biến ở
khắp các châu lục, là món ăn thông dụng ở nhiều nước và là loại rau ăn quả có
giá trị sử dụng cao.
3.3 Giá trị kinh tế
Với giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng cao, cà chua được nhiều người
ưa chuộng nên nó là loại cây được trồng mang lại giá trị kinh tế cao cho người
sản xuất. Đây là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao và là mặt hàng xuất
khẩu quan trọng của nhiều nước trên thế giới. Theo điều tra năm 1999, lượng cà
chua trao đổi trên thị trường thế giới là 36,7 triệu tấn với lượng sử dụng tươi
chiếm từ 5-7%. Ở Đài Loan, hàng năm xuất khẩu cà chua tươi đạt 925.000 USD
và 40.800 USD cà chua chế biến. Theo tính toán vào thời điểm đó mỗi hecta sản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
xuất cà chua có thể đem lại thu nhập 4.000 - 5.000 USD cho người sản xuất
(Nguyễn Xuân Hiển và cs, 2003) [12].
Mỹ là nước sản xuất cà chua lớn với giá trị xuất khẩu hàng năm rất cao,
chỉ tính riêng năm 1997 tổng kim ngạch giá trị xuất khẩu cà chua của nước này
cao gấp 4 lần lúa nước và 20 lần lúa mì (Tạ Thu Cúc, 2002) [16].
Theo thống kê của tác giả T.Marikawa (1998) hàng năm Nhật Bản sản
xuất được 406.700 tấn nước sốt cà chua, 87.000 tấn nước ép cà chua, 7.700 tấn
cà chua nghiền bột, song Nhật Bản vẫn còn phải nhập thêm 78.000 tấn cà chua.
Ở Việt Nam, tùy điều kiện sản xuất có thể thu được từ 1 -3 triệu đồng/1
sào bắc bộ. Với điều kiện của vùng Gia Lâm Hà Nội thì 1 ha cà chua có thể thu
được 27.409.000 VNĐ (Bùi Thị Gia 2000). Theo Ngô Quang Vinh viện khoa
học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam cho biết, 1 ha cà chua ghép có thể đạt năng
nhiệt độ thấp hơn 15
o
C hoặc cao hơn 35
o
C. Nhiệt độ thích hợp nhất cho cà chua
sinh trưởng và phát triển là 22 - 24
o
C. Khi nhiệt độ hạ thấp xuống mức 10 -
12
o
C sẽ làm cho cây ngừng sinh trưởng, rụng nụ, rụng hoa; nếu duy trì mức
nhiệt độ ấy trong thời gian dài sẽ làm cây chết. Tuy nhiên trong chu kỳ sinh
trưởng của cà chua, tùy giống, tùy giai đoạn sinh trưởng, phát triển mà yêu cầu
về nhiệt độ khác nhau.
4.2 Ánh sáng
Ánh sáng có ảnh hưởng tới mọi quá trình sinh trưởng, phát triển của cây
trồng nói chung và cà chua nói riêng. Ảnh hưởng của ánh sáng là tổng hợp sự
ảnh hưởng của 3 thành phần: thời gian chiếu sáng, cường độ chiếu sáng và chất
lượng ánh sáng.
Do có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới nên cây cà chua có yêu cầu lớn về
cường độ ánh sáng. Cường độ chiếu sáng tối thiểu cho cà chua sinh trưởng, phát
triển là 4.000lux (Tạ Thu Cúc, 1985) [13]. Cường độ ánh sáng cao làm tăng diện
tích lá và tốc độ sinh trưởng của cây. Theo Somos (1971) thì cường độ ánh sáng
cần cho cà chua ra hoa, đậu quả không được thấp hơn 10.000lux và khoảng thích
hợp là 14.000-20.000lux (Mai Phương Anh, 2000) [9]. Ánh sáng có cường độ
thấp sẽ tạo nên những hạt phấn không có sức sống và vòi nhụy vươn dài, gây
khó khăn cho sự thụ phấn, giảm khả năng thụ tinh dẫn đến năng suất giảm và
quả thường bị dị hình (Kallo, 1993) [37].
4.3 Nƣớc
Cà chua là cây có khả năng chịu hạn nhưng đồng thời lại là cây ưa nước.
hợp nhất là đất pha cát, nhiều chất mùn hay đất phù sa, đất bồi giữ ẩm và thoát
nước tốt và chứa tối thiểu là 1,5% chất hữu cơ, cà chua thích hợp trồng trên đất
có pH = 5,5 – 6,5 (Kuo và cs, 1998) [29]. Cà chua thuộc họ cà rất mẫn cảm với
các loại bệnh hại, vì vậy yêu cầu chế độ luân canh nghiêm ngặt, không nên trồng
cà chua trên loại đất mà cây trồng vụ trước là những cây trong họ cà như: khoai
tây, cà tím cà chua trồng tốt nhất trên đất trồng lúa, hay sau vụ bắp cải, dưa
leo, hành tây
4.6 Dinh dƣỡng
Cây cà chua là loại cây có thời gian sinh trưởng dài, thân lá sinh trưởng
mạnh, ra hoa, đậu quả nhiều, tiềm năng cho năng suất cao. Do đó cung cấp đầy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
đủ chất dinh dưỡng cho cà chua đầy đủ thì cà chua mới có thể sinh trưởng, phát
triển tốt cho năng suất cao, chất lượng tốt.
Cà chua cần các nguyên tố dinh dưỡng: đạm, lân, kali, canxi, lưu huỳnh,
magiê, bo, sắt, mangan, đồng, kẽm để hoàn thành chu kỳ sống của mình,
trong đó các yếu tố dinh dưỡng, cà chua sử dụng nhiều nhất là kali, đạm sau đó
là lân và canxi (Tạ Thu Cúc, 2002) [14]. Theo nghiên cứu của Endelschein dẫn
trong Tạ Thu Cúc, 2002 [14], muốn đạt sản lượng 50 tấn/ha, cây cà chua cần hút
từ đất 479 kg nguyên tốt dinh dưỡng, trong đó khoảng 73% tập trung vào quả,
27% tập trung vào cho thân lá.
Nhu cầu chất dinh dưỡng phụ thuộc vào tuổi cây, giống và điều kiện
trồng, phần lớn các chất nuôi quả được hấp thụ sau khi trổ hoa, do đó cây yêu
cầu chất dinh dưỡng nhiều nhất khoảng sau 10 ngày sau khi nở hoa cho đến khi
trái bắt đầu chín (Mai Thị Phương Anh và cộng sự, 2000) [9]. Việc cung cấp đầy
đủ, cân đối các chất dinh dưỡng cho cây là yếu tố có tính chất quyết định năng
suất và chất lượng cà chua.
5. Tình hình sản xuất và nghiên cứu cà chua trên thế giới
5.1 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới
66,59
533
(Nguồn: FAOSTAT FAO Statistic Divison, 2010 [33])
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
Qua bảng số liệu trên ta thấy: Năm 2009, Châu Á là nơi có diện tích trồng
cà chua lớn nhất với 3.048 nghìn ha, sau đó là Châu Phi với 852 nghìn ha, tiếp
theo là Châu Âu với diện tích 554 nghìn ha, Châu Mỹ trồng 516 nghìn ha và
thấp nhất là Châu Úc với 8 nghìn ha.
Về năng suất cà chua: Tuy Châu Úc là châu lục có diện tích trồng cà chua
thấp nhất nhưng lại là châu lục có năng suất cao nhất với 66,59 tấn/ha, điều đó
cho thấy rằng Châu Úc có những bước tiến mới về giống và khoa học kỹ thuật
trong việc trồng và sản xuất cà chua, Châu Mỹ là châu đứng thứ hai về năng suất
đạt 49,57 tấn/ha, thấp nhất là Châu Phi với 21,38 tấn/ha.
Về sản lượng cà chua: Đứng đầu về sản lượng cà chua là Châu Á với
74.158 nghìn tấn, tiếp theo là Châu Mỹ (25.578 nghìn tấn) và thấp nhất là Châu
Úc (533 nghìn tấn).
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lƣợng
(tấn)
2000
3.984.593
27,2041
108.397.207
28,1607
136.229.711
2009
4.980.424
28,3912
141.400.629
Nguồn: FAO STAT Database Results,2010 [33]
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 168 nước sản xuất cà chua trong đó
Trung Quốc là nước có sản lượng cà chua cao nhất thế giới, sau đó đến Thổ Nhĩ
Kỳ, Ấn Độ và một số nước khác.
Năm 2000 diện tích trồng cà chua là 3.984.593 ha đến năm 2009 là
4.980.424 ha, tăng lên 995.831 ha. Điều này chứng tỏ các nước trên thế giới đã
chú trọng đến việc trồng cà chua. Sản lượng cà chua tăng khá nhanh, năm 2000
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
là 108.397.207 tấn đến năm 2009 là 141.400.629 tấn, tăng lên 33.003 tấn. Năm
2002 năng suất đạt cao nhất 280,282 tạ/ha đến năm 2004 giảm xuống chỉ còn
263,652 tạ/ha (Bảng 2.3). Sau đó năng suất cà chua tiếp tục tăng trở lại. Mặc dù
năng suất cà chua không ổn định song diện tích trồng cà chua ngày càng mở
rộng cho nên sản lượng cà chua tiếp tục tăng lên theo thời gian.
Qua bảng 2.4 cho ta thấy, hiện nay trên thế giới có khoảng 168 nước sản
xuất cà chua trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng cà chua cao nhất thế
giới trong các năm từ 2006 đến 2009. Năm 2006 Trung Quốc đạt sản lượng là
32.519,315 nghìn tấn đến năm 2009 đạt 34120,040 nghìn tấn tăng lên 1.600,725
nghìn tấn. Kế tiếp là Mỹ với 14141,850 nghìn tấn năm 2009 so với năm 2006
tăng lên 1884,678 nghìn tấn so với năm 2006 (12.257,172 nghìn tấn), sau đó là
Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Italia, Ai Cập, Italia, Tây Ban Nha, Braxin, Iran, Mehicô,
Hi Lạp. Tuy nhiên, một số nước có sản lượng cà chua tăng giảm thất thường như
Iran năm 2006 là 5064,571 tấn, nhưng đến năm 2008 lại giảm xuống chỉ còn
Ai Cập
8576,070
8639,024
9204,097
10000,000
Italia
6351,202
6350,162
5976,912
6382,700
Tây Ban Nha
3800,552
4081,477
3922,500
4749,200
Braxin
3362,655
3431,230
3867,655
4204,638
Iran
5064,571
5534,266
4826,396
5887,714
Mêhicô
2899,153
3150,353
2936,773
-
giống cà chua thích hợp cho từng vùng sinh thái, từng mùa vụ và mục đích sử
dụng. Để nghiên cứu chọn tạo ra những giống cà chua có năng suất cao phù hợp
với từng điều kiện cụ thể, các nhà khoa học đã sử dụng nguồn gen di truyền của
các loài hoang dại và bán hoang dại vì chúng có khả năng chống chịu tốt với
điều kiện bất thuận của môi trường. Bằng nhiều con đường khác nhau như: lai
tạo, chọn lọc dưới nền nhiệt độ cao và thấp, gây đột biến nhân tạo các nhà
khoa học đã tạo ra giống thích hợp trong điều kiện nhiệt độ cao có phổ thích ứng
rộng, có khả năng trồng nhiều vụ trong năm (Kiều Thị Thư, 1998) [7].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
Từ năm 1977-1984, Ai cập đã tiến hành nghiên cứu về hợp phần chọn tạo
giống cà chua cho năng suất cao, kết quả cho thấy các giống cà chua có nguồn
gốc từ Mỹ như Cal, Ace, Hausney, Marmande và Prytchard, VFN - 8,VFN -
Bush đều có những đặc tính tốt như quả to, có năng suất và chất lượng cao, còn
một số giống khác như Castlex - 1017, Casvoock, E -6202, Gs - 30, Peto86, UC
-82 và UC97 có đặc điểm là thịt quả chắc. Các giống có màu quả vàng khi chín
như Case, Rich, Golde Bty, Jubylee Vaysumay đều có hàm lượng đường cao,
riêng giống VF145 - B7897 được đánh giá là giống cải tiến vừa có năng suất và
chất lượng tốt. Các giống này đều thích hợp trong các thời vụ.
Ở Mỹ công tác chọn tạo giống cà chua được tiến hành từ rất sớm đến nay
đã thu được nhiều thành tựu đáng kể. Trường Đại học California đã chọn ra
được những giống cà chua mới như UC-105, UC-134, UC82 có năng suất cao và
có nhiều đặc điểm tốt như tính chống chịu nứt quả cao và quả cứng (Hồ Hữu An
1996) [6]. Từ năm 1991 - 2007, công ty cung cấp giống cà chua của Mỹ đã
nghiên cứu, lai tạo và giới thiệu tới 600 giống cà chua chất lượng cao phù hợp
với tiêu dùng tươi và làm nguyên liệu chế biến công nghiệp. Cùng với giống
mới được chọn ra hàng năm, các giống cũ (xuất xứ lâu đời) ở Mỹ cũng được duy
trì vừa được dùng trong sản xuất vừa được dùng để lai tạo. Trong đó một số
giống thích hợp ở thời vụ nóng như: Costoluto, Genvese, Super, Italian, Paste,