ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN XUÂN TRƢỜNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA MỘT SỐ
GIỐNG CAO SU NHẬP NỘI TỪ TRUNG QUỐC TẠI
VÙNG TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI PHÍA BẮC
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Thái Nguyên - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN XUÂN TRƢỜNG
Nguyễn Xuân Trƣờng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của các
thầy cô giáo giảng dạy, thầy cô giáo hướng dẫn khoa học, được sự giúp đỡ của cơ
quan, các đồng ghiệp và gia đình. Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và
kính trọng đến:
PGS.TS. Nguyễn Hữu Hồng – Phòng đào tạo – Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên;
TS. Nguyễn Văn Toàn –Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi
phía Bắc;
Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, tập thể giáo viên của trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên;
Tập thể lãnh đạo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc;
Gia đình, bạn bè và các bạn đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt
thời gian học tập, thực hiện đề tài.
Phú Thọ, ngày 18 tháng 9 năm 2012.
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Trƣờng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên i
MỤC LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ii
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 29
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 30
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 30
2.3. Nội dung nghiên cứu 30
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 31
2.5. Phƣơng pháp phân tích và sử lý số liệu 34
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1. Khả năng sinh trƣởng của các giống cao su nhập nội tại vùng Trung du
và miền núi phía Bắc 35
3.1.1. Tỷ lệ sống 35
3.1.2. Sinh trưởng vanh thân 38
3.1.3. Sinh trưởng chiều cao cây 46
3.2. Khả năng chịu lạnh của các giống cao su nhập nội ở vùng Trung du và
miền núi phía Bắc 51
3.2.1. Đánh giá điều kiện vùng trồng và diễn biến điều kiện thời tiết đợt
rét năm cuối năm 2010 và đầu năm 2011 51
3.2.2. Đánh giá thiệt hại của các giống trên các điểm thí nghiệm sau đợt rét
đầu năm 2011 56
3.2.3. Đánh giá mức độ phục hồi sau rét của các giống trên các điểm thí
nghiệm 59
3.3. Mức độ nhiễm bệnh phấn trắng của các giống cao su nhập nội tại vùng
Trung du và miền núi phía Bắc 63
Chƣơng 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68
RRII
Viện nghiên cứu cao su Ấn Độ
RRIM
Viện nghiên cứu cao su Malaysia
RRIV
Viện nghiên cứu cao su Việt Nam
SALB
Bệnh cháy lá Nam Mỹ
TB
Trung bình
TV
Tăng vanh
VN 73 - 46
Vân Nghiên 73 - 46
W
Nguồn gen wickham
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên iv
DANH MỤC BẢNG
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1: Tỷ lệ sống của các giống sau trồng 1 tháng
36
Bảng 3.2: Tỷ lệ sống của các giống sau trồng 20 tháng
37
Bảng 3.3: Sinh trưởng vanh thân các giống tháng 11 năm 2011
38
Bảng 3.16: Tỷ lệ thiệt hại phân theo cấp của các giống tháng 2 năm 2011
57
Bảng 3.17: Mức độ phục hồi phân theo cấp của các giống tháng 5 năm
2011
59
Bảng 3.18: Khả năng phục hồi phân theo cấp của các giống tháng 5 năm
2011
59
Bảng 3.19: Khả năng phục hồi phân theo cấp của các giống tháng 5 năm
2011
60
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên v
Bảng 3.20: Khả năng phục hồi phân theo cấp của các giống tháng 5 năm
2011
60
Bảng 3.21: Tổng hợp khả năng phục hồi sau rét của các giống cao su theo
địa hình và cao trình tháng 5 năm 2011
61
Bảng 3.22: Mức độ nhiễm bệnh phấn trắng của các giống cao su trên các
điểm thí nghiệm tháng 4 năm 2011
64
Bảng 3.23: Mức độ nhiễm bệnh phấn trắng của các giống cao su trên các
điểm thí nghiệm tháng 4 năm 2012
65
43
Hình 3.3: Động thái tăng trưởng vanh thân qua các tháng trong năm tuổi
thứ 2 và 3 của các giống cao su tại Phong Thổ - Lai Châu
44
Hình 3.4: Động thái tăng trưởng vanh thân qua các tháng trong năm tuổi
thứ 2 và 3 của các giống cao su tại Mai Sơn - Sơn La
45
Hình 3.5: Diễn biến nhiệt độ tối cao và nhiệt độ tối thấp trong tháng 1 và
tháng 2 năm 2011 tại Phú Hộ - Phú Thọ
54
Hình 3.6: Diễn biến nhiệt độ tối cao và nhiệt độ tối thấp trong tháng 1 và 2
năm 2011 tại Chiềng Ban - Mai Sơn - Sơn La
55
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây cao su (Hevea bzasiliensis) thuộc họ Euphobiaceae có nguồn ngốc tại
lưu vực sông Amazon (Nam Mỹ). Cao su được du nhập vào Việt Nam năm 1897 và
được trồng chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ (vùng truyền thống). Đây là vùng có
những điều kiện thuận lợi cho cây cao su sinh trưởng, phát triển: Nhiệt độ trung
bình năm từ 26 - 27
0
C, ít thay đổi trong năm; tốc độ gió trung bình 2- 3m/s; cao
trình trồng thấp từ 30 - 250m, tầng đất dầy trên 1m, thành phần cơ giới đất từ thịt
nặng đến trung bình [32]. Đến năm 2010, diện tích trồng cao su cả nước đạt khoảng
740.000 ha [8]. Qua thời gian phát triển, cao su đã chứng tỏ là cây công nghiệp có
vùng miền núi phía Bắc còn nhiều hạn chế (quy mô, vật liệu, địa điểm nghiên
cứu ). Đến nay, chưa có cơ cấu giống thích hợp cho vùng miền núi phía Bắc. Các
giống được khuyến cáo trồng trên diện rộng trong thời gian qua (IAN 873, GT1,
RRIV 1, RRIM 600, RRIM 712) dựa trên kết quả khảo nghiệm giống trên qui mô
nhỏ được viện nghiên cứu cao su Việt Nam và Viện khoa học kỹ thuật nông lâm
nghiệp miền núi phía Bắc phối hợp thực hiện từ năm 1994. Do đặc thù là cây công
nghiệp lâu năm nên việc lai tạo và tuyển chọn giống cao su thích ứng cho từng vùng
mất rất nhiều thời gian (khoảng 20 năm) [16].
Trung Quốc là nước rất thành công trong việc phát triển cao su ngoài vùng
truyền thống. Hai vùng trồng cao su đặc thù của Trung quốc: Vân Nam (có mùa
Đông lạnh) và Đảo Hải Nam (ảnh hưởng của gió). Nhờ thành công của công tác
chọn tạo giống theo hướng chịu lạnh và chịu gió nên năng suất cao su ngoài vùng
truyền thống của Trung Quốc đạt từ 1,5 - 2 tấn/ha [15].
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi cho rằng để nhanh chóng có được
giống cao su tốt, giống cao su chịu lạnh kịp thời phục vụ cho sự phát triển cao su
vùng miền núi phía Bắc, thì nhập nội giống từ Trung Quốc là con đường nhanh và
hiệu quả nhất. Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng thích
ứng của một số giống cao su nhập nội từ Trung Quốc tại vùng Trung du và miền
núi phía Bắc”.
2. Mục đích và yêu cầu
2.1. Mục đích
Đánh giá được khả năng thích ứng của một số giống cao su nhập nội từ
Trung Quốc tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc, tìm được giống cao su có khả
năng thích ứng với điều kiện của vùng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3
2.2. Yêu cầu
Đề tài so sánh, đánh giá được khả năng sinh trưởng, chịu lạnh của các giống
tuyến 6
0
Bắc và kinh tuyến 46
0
- 77
0
Tây ở rừng Amazone, Nam Mỹ bao gồm các
nước Brazil Bolivia, Clombia, Peru, Ecuado, Venezuela, French Guiana, Surinam và
Guyana. Vùng sinh thái tư nhiên của cây cao su có hai dạng tiểu vùng khí hậu. Vùng
đất thấp ở phía Bắc lưu vực sông Amazone, thuộc khí hậu nhiệt đới ẩm với lượng mưa
trung bình trên 2000 mm/năm, không có mùa khô hoặc mùa khô rất ngắn, nhiệt độ
trung bình 28
0
C. Vùng chân đồi của lưu vực sông Amazone hướng về phía Tây dãy núi
Andes và phía Nam Mato Grosso có mùa khô 3 - 5 tháng, mưa ít hơn 1500 mm/năm.
Giữa hai vùng này là kiểu khí hậu trung gian với mùa khô 1 - 3 tháng. Vùng Acre có
lượng mưa từ 1.683 - 2.264 mm/năm với 0 - 4 tháng mùa khô.
Hình 1.1: Phân bố tự nhiên cây cao su (Viện nghiên cứu cao su Việt Nam)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5
Nhà thám hiểm Christopher Columbus và các thuỷ thủ khi đi khám phá
các vùng đất châu Mỹ vào các năm 1493 - 1496 đã phát hiện ra chất cao su từ
những quả bóng làm từ nhựa cây của thổ dân đảo Haiti. Đến đầu thế kỷ 19,
Brazil là nước duy nhất xuất khẩu cao su cho công nghiệp thế giới. Bằng nhiều
con đường, cao su đã được di nhập đến các vùng trồng khác nhau.
Năm 1873, Colin và Markham thu được 2.000 hạt cao su tại Cametta gần
cảng Para và đem trồng trong vườn Bách Thảo Kew (Luân Đôn) nhưng chỉ có
Indonesia; 29%
Thái Lan; 24%
Malaysia; 9%
Trung Quốc; 8%
Việt Nam; 6%
Ấn Độ; 6%
Các nước khác;
18%
Hình 1.2: Tỷ trọng diện tích trồng cao su các nước trên Thế giới năm 2010
Indonesia; 27%
Thái Lan; 32%
Malaysia; 9%
Trung Quốc; 6%
Việt Nam; 7%
Ấn Độ; 8%
Các nước khác;
11%
Hình 1.3: Tỷ trọng sản lượng của các nước trên Thế giới năm 2010
“ Nguồn: MO YEYONG, 2011”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7
1.2. Đặc điểm thực vật học
Cây cao su khi ở tình trạng hoang dại tại vùng nguyên quán Amazone với mật
độ cây thưa thớt (1 cây cho một hay vài ha) và với chu kỳ sống trên 100 năm, nên
nắng 40 - 50 ngày. Trên cây cao su non 1 - 2 tuổi, khi chồi ngọn phát triển lên các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
tầng lá mới thì các lá già ở tầng dưới tự hoại. Cây cao su từ tuổi 3 trở lên có đặc
điểm là hàng năm vào một thời điểm tương đối cố định, toàn bộ tán lá vàng và rụng
trụi, sau đó cây tạo lại tán lá non đó là giai đoạn rụng lá sinh lý còn gọi là rụng lá
qua Đông. Thời gian rụng lá kéo dài khoảng 1 tháng tùy thuộc vào giống [20].
1.2.3. Hoa
Cây cao su từ 5 - 6 tuổi trở lên bắt đầu ra hoa. Thường cao su ra hoa vào thời
điểm cây ra lá non tương đối ổn định (tháng 2 - tháng 3 dương lịch). Hoa cao su là
hoa đơn tính đồng chu. Hoa đực và hoa cái mọc riêng nhưng mọc trên cùng một
cây. Trên một chùm hoa, hoa đực thường tụ họp thành một nhóm từ 3 - 7 hoa mọc ở
đoạn dưới các nhánh thứ cấp. Hoa đực nhỏ hơn hoa cái. Hoa cái mọc riêng lẻ từng
cái ở đầu cành, hoa cái to hơn hoa đực, có kích thước bình quân là 8mm dài. Ở cây
cao su, hoa đực và hoa cái không chín cùng một lúc mà thường hoa đực chín trước
một ngày sau thì tàn.
1.2.4. Quả và hạt
Quả cao su hình tròn hơi dẹp có đường kính từ 3 - 5cm, quả nang gồm 3
ngăn, mỗi ngăn chứa 1 hạt. Vỏ quả được cấu tạo bằng nhiều lớp tế bào trong đó có
3 lớp tế bào lignin cơ học, lúc quả chín các lớp lignin cơ học này hoạt động khiến
vỏ quả vỡ và phóng hạt đi xa. Sau 19 - 20 tuần thì quả chín. Hạt cao su hình hơi dài
hoặc hình bầu dục có kích thước thay đổi từ 2,0 - 3,5cm dài. Lớp vỏ ngoài hạt láng,
màu nâu đậm hay nhạt hoặc vàng đậm trên có các vân màu đậm hơn. Khi mới rụng,
hạt có ẩm độ khoảng 36 - 38%. Khi tồn trữ ẩm độ hạt sụt dần đến khi còn dưới 15%
thì hạt không còn khả năng nẩy mầm.
1.2.5. Vỏ và hệ thống ống mủ
Cắt ngang qua thân cây, có thể phân biệt được 3 phần rõ rệt: Phần trong cùng
là gỗ kế đến là lớp tượng tầng và ngoài cùng là lớp vỏ.
C cây khô héo, dưới 10
0
C cây có thể chịu đựng trong một thời
gian ngắn nếu kéo dài cây sẽ bị nguy hại như héo và rụng lá, chồi ngọn ngưng
sinh trưởng, thân cây cao su KTCB bị nứt nẻ, xì mủ Nhiệt độ thấp dưới 5
0
C
kéo dài sẽ dẫn đến cây chết. Ở nhiệt độ 25
0
C năng suất cây đạt mức cao nhất,
nhiệt độ mát dịu vào sáng sớm (1- 5 giờ sáng) giúp cây cao su sản xuất mủ cao
nhất. Các vùng trồng cao su lớn hiện nay phần lớn là ở vùng khí hậu nhiệt đới có
nhiệt độ bình quân năm 28
0
± 2
0
C và biên độ nhiệt trong ngày 7 - 8
0
C.
b. Lượng mưa: Cây cao su có thể trồng ở những vùng đất có lượng mưa từ 1.500
- 2.000mm/năm, nếu lượng mưa thấp hơn thì cần phải phân bố đều trong năm,
đất phải giữ nước tốt. Ở những nơi không có điều kiện thuận lợi, cây cao su cần
lượng mưa 1.800 - 2.000mm/năm. Các trận mưa tốt nhất cho cây cao su là 20 -
30mm nước và mỗi tháng có khoảng 150mm nước mưa.
c. Gió: Gió nhẹ 1 - 2m/s có lợi cho cây cao su vì giúp cho vườn cây thông
thoáng, khi gió cấp 5 - 6 sẽ làm lá cao su xoăn lại, rách lá, chậm tăng trưởng,
trồng cao su ở những nơi có gió mạnh thường xuyên, gió to, gió lốc sẽ gây hư
hại cho cây, gãy cành, trốc gốc nhất là ở những vùng đất nông rễ cây cao su
không phát triển sâu và rộng được.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
xói mòn vừa dễ cạo mủ, thu mủ và vận chuyển về nơi chế biến.
c. Lý, hoá tính đất: pH giới hạn để trồng cao su là từ 3,5 - 7,0; tốt nhất là từ 4,5 - 5,5.
d. Độ dày tầng đất: Đây là một yếu tố quan trọng. Đất trồng cao su lý tưởng phải có
tầng canh tác sâu 2m trong đó không có tầng trở ngại cho sự tăng trưởng của rễ cao
su như lớp thủy cấp treo, lớp laterit, lớp đá tảng Thực tế hiện nay đất có tầng canh
tác từ 0,8m trở lên là có thể xem là đạt yêu cầu trồng được cao su. Rễ cao su rất mẫn
cảm với mức thủy cấp trong đất. Khi đất có mức thủy cấp thường xuyên ở độ sâu
khoảng 60cm cách mặt đất thì sự phát triển của rễ cao su sẽ gặp trở ngại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11
e. Kết cấu đất: Đất có thể trồng cao su phải có thành phần sét ở lớp đất mặt (0-
30cm) tối thiểu 20% và lớp đất sâu hơn (> 30cm) tối thiểu là 25%. Ở nơi mùa khô
kéo dài, đất phải có thành phần sét 30 - 40% mới thích hợp trồng cây cao su. Ở
vùng khí hậu khô hạn, đất có tỷ lệ sét từ 20 - 25% (đất cát pha sét) được xem là giới
hạn cho cây cao su. Các loại đất có thành phần hạt thô (θ = 1 - 2cm) chiếm 30% ở
chiều sâu 20 - 30cm cách đất: ít thích hợp cho cây cao su. Đất có thành phần hạt thô
chiếm trên 50% trong 80cm lớp đất mặt xem như không thích hợp cho cây cao su.
Các thành phần hạt thô sẽ gây trở ngại cho sự phát triển của rễ cao su và ảnh hưởng
bất lợi đến khả năng dự trữ nước của đất.
g. Chất dinh dưỡng trong đất: Cây cao su cần cung cấp đủ chất dinh dưỡng đa
lượng như: N, P, K, Ca, Mg và cả vi lượng. Đối với cây cao su, các chất dinh dưỡng
trong đất không phải là yếu tố giới hạn nghiêm trọng. Tuy nhiên, trồng cao su trên
các loại đất nghèo dinh dưỡng cần đầu tư nhiều phân bón sẽ làm tăng chi phí đầu tư
khiến hiệu quả kinh tế kém đi.
1.4. Vai trò của cây cao su đối với phát triển kinh tế - xã hội
Cây cao su chiếm vị trí quan trọng trong nền nông lâm nghiệp nước ta và
được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như: cây lấy mủ, lấy gỗ, cây bảo vệ đất
năng suất một số giống đang trồng ở nước ta cho thấy sau 20 – 21 năm tuổi, 1 ha
cao su có thể đạt sản lượng gỗ từ 162 – 389m
3
, trong đó trữ lượng gỗ thân chính
chiếm khoảng 75 – 77% [23].
1.4.2. Về xã hội: Việc trồng, chăm sóc và khai thác cây cao su đòi hỏi một lực lượng
lao động khá lớn (bình quân 1 lao động cho 2 - 3 ha) và ổn định lâu dài trong 20 - 30
năm cho nên trên các diện tích trồng cây cao su với quy mô trung bình đến lớn, một
số lượng công nhân ổn định sẽ được giao công việc thường xuyên và ổn định trong
thời gian dài. Ngoài ra, hệ thống đường sá, điện nước, trường học cũng được xây
dựng. Trồng cao su góp phần phân bổ dân cư hợp lý giữa vùng thành thị và vùng
nông thôn, thu hút lao động cho các vùng trung du, miền núi, vùng định cư của dân
tộc ít người, đời sống của nhân dân ổn định, trật tự xã hội và an ninh quốc phòng
được giữ vững.
1.4.3. Về môi trường: Trên các loại đất bạc màu, đất đồi dốc, đất trống đồi trọc, cây
cao su khi trồng với diện tích lớn còn có tác dụng phủ xanh đất trống, đồi trọc, chống
xói mòn, bảo vệ môi trường rất tốt nhờ vào tán lá cao su rậm, diện tích che phủ rộng.
Ngoài ra, do chu kỳ sống của cây cao su có thời gian dài 20 - 30 năm cho nên bảo vệ
vùng sinh thái được bền vững trong thời gian dài. Kết quả theo dõi cho thấy, trên các
loại đất tái canh cao su, nếu trong chu kỳ canh tác trước vườn cây được chăm sóc thích
hợp thì độ phì của đất hầu như được đảm bảo như tình trạng trước khi trồng cao su.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
Khả năng đóng góp về sinh khối của vườn cao su sau một chu kỳ kinh doanh tương
đương với rừng tự nhiên nhiệt đới ẩm, song song với tác dụng bảo vệ, phục hồi đất
nhờ khả năng che phủ đất thường xuyên như rừng. Các nghiên cứu cho thấy trong
chu kỳ kinh doanh của 1ha cao su có thể đồng hóa trên 135 tấn Carbon, trong đó có
khoảng 42 tấn cho việc sản xuất cao su và 93 tấn cho việc tạo sinh khối. Sản xuất cao
Năm 1899 và 1913 - 1916, Indonesia đã nhập trực tiếp các nguồn giống nhiều
loài cao su ở Brazil và Surinam: Hevea spruceana, Hevea guianensis, Hevea collina.
Nguồn giống này về sau được phối hợp lại với nguồn Hevea brasiliensis, nhưng sản
lượng con lại rất kém dù rằng sinh trưởng khá tốt do đó không được chú trọng.
Năm 1917, Indonesia đã thành công lần đầu phương pháp ghép nhân giống
vô tính ở cây cao su và từ đó lan truyền ra các nước khác. Các cây mẹ thực sinh cao
sản từ quần thể hạt tạp được nhân thành các dòng vô tính như: Tj 1, Tj 16, PR 107,
GT 1, BD 5, BD 10, AVROS 49, AVROS 352, LCB 1320
Năm 1919, Indonesia cũng là nơi bắt đầu phương pháp thụ phấn nhân tạo để
tạo giống mới. Từ 1929 - 1951, Indonesia nhập thêm giống để tăng cường nguồn
vật liệu lai tạo gồm 29 dòng vô tính (DVT) từ Malaysia, 20 dòng từ Srilanka và 2
dòng Việt Nam.
Indonesia đã đạt một số kết quả ban đầu khá tốt trong chương trình lai tạo
giống. Một số giống lai đã được khuyến cáo rộng cho sản xuất. Nước này đã đóng
góp lớn cho các đợt trao đổi giống đa phương giữa các nước trồng cao su: năm 1954
là 40 DVT và năm 1974 là 10 DVT. Một số giống ưu tú nổi tiếng trong thời kỳ này:
PR 255, PR 261, AVROS 2037, BpM 24 Đồng thời Indonesia cũng làm giàu
nguồn giống cải tiến nhờ các đợt trao đổi giống này [16].
Năm 1955, Indonesia nhập từ Malaysia các giống kháng bệnh cháy lá Nam
Mỹ (SALB) gồm 9 DVT Ford, 2 FB và 14 FX. Năm 1956 - 1957, nhập 7 DVT
Malaysia, 6 FX và IAN. Sau năm 1981, Indonesia cũng tiếp nhận nguồn gen do
IRRDB tổ chức thu thập là 7.783 kiểu di truyền [16].
Từ năm 1985, Indonesia chú trọng sử dụng nguồn di truyền Nam Mỹ cải tiến
(WA). Kết quả của vụ lai 1985 - 1992 trên cây 2 năm tuổi đạt tiến bộ cao về sản
lượng và sinh trưởng. Một số dòng vô tính có triển vọng nhất do Viện nghiên cứu
cao su Indonesia lai tạo đều có nguồn gen Nam Mỹ (IAN, FX): IRR 100, IRR 118,
IRR 112, IRR 117.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
giống cao su có năng suất gỗ - mủ, RRIM đã thu thập thêm 70.000 hạt từ cao su
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên