LUẬN VĂN:
Nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán
bộ chủ chốt hệ thống chính trị cơ sở vùng
đồng bào Chăm Ninh Thuận
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã thu được những thành
tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới đòi hỏi phải
có một đội ngũ cán bộ mới thích ứng với nó, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt,
trong đó cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính trị cơ sở có tầm quan trọng đặc
biệt.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã nhận thức rõ tầm quan trọng của
công tác cán bộ đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản. Lênin khẳng định:
“Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không
tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong
có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [11, tr.473].
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của công tác cán bộ. Theo
người "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "công việc thành công hay thất bại là do
cán bộ tốt hay kém" [10, tr.478-492].
Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trải qua các thời kỳ
cách mạng, Đảng ta đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ lãnh đạo, nhất là cán bộ chủ
chốt của hệ thống chính trị các cấp trung thành với Tổ quốc, với lý tưởng, có phẩm chất,
năng lực thực tiễn và bản lĩnh chính trị vững vàng, gắn bó máu thịt với nhân dân, đáp
ứng được nhiệm vụ lịch sử đặt ra góp phần to lớn vào những thắng lợi của sự nghiệp
cách mạng nước ta.
Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta chủ trương tiếp tục xây dựng, củng cố đội ngũ
cán bộ lãnh đạo chủ chốt, trong đó có đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở để hoàn thành
nhiệm vụ nặng nề và quan trọng mà sự nghiệp cách mạng đang đặt ra. Nghị quyết Hội
gian gần đây đã có những xung đột cục bộ, gây hằn thù dân tộc, gây mất ổn định ở địa
phương...
Đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở vùng đồng bào Chăm hiện nay bên cạnh những
thành tích đã đạt được vẫn còn nhiều lúng túng, chưa tổ chức nhân dân phát huy khai
thác những tiềm năng thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội, chưa tuyên truyền vận
động nhân dân phát huy được những giá trị tiên tiến của văn hoá dân tộc và đấu tranh
chống những tư tưởng lạc hậu, lệch lạc phản động, xây dựng đời sống văn hoá mới...
Công tác cán bộ còn nhiều hạn chế chưa tập hợp được đại đa số những cá nhân ưu tú
của cộng đồng dân tộc Chăm tham gia, thiếu quy hoạch mang tính chiến lược. Hệ thống
chính trị ở cơ sở vùng đồng bào Chăm hoạt động còn lúng túng, kém hiệu quả...
Thực tiễn cho thấy, do đặc thù về văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục, tập
quán cùng với những tác động về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị và xã hội, đòi hỏi
công tác tổ chức quản lý, lãnh đạo chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào
Chăm cũng mang tính đặc thù. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống
chính trị cơ sở vùng đồng bào Chăm Ninh Thuận đáp ứng được nhiệm vụ trong giai
đoạn mới nổi lên như một đòi hỏi khách quan mang tính cấp thiết, trong giai đoạn hiện
nay.
Với những lý do đó, tác giả lựa chọn vấn đề "Nâng cao năng lực lãnh đạo của
đội ngũ cán bộ chủ chốt hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào Chăm Ninh Thuận"
làm đề tài luận văn thạc sĩ Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Công tác cán bộ nói chung và năng lực cán bộ lãnh đạo nói riêng đã được nhiều
học giả quan tâm. Đã có nhiều công trình trong và ngoài nước về vấn đề này được công
bố:
Chẳng hạn: "Mác - Ăngghen - Lênin - Stalin về vấn đề cán bộ" (Sự thật, Hà Nội,
1974); "Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ" (PGS.TS Bùi Đình
Phong, Nxb Lao động, Hà Nội, 2002); “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (Nxb
Luận văn có mục đích làm sáng rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực
cho cán bộ chủ chết của hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào Chăm Ninh Thuận. Từ
đó đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống
chính trị cơ sở vùng đồng bào Chăm có đủ năng lực đáp ứng được nhiệm vụ trong giai
đoạn cách mạng mới.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ cơ sở khoa học về lý luận và thực tiễn về công tác cán bộ và việc nâng
cao năng lực cho đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào
Chăm trong thời kỳ mới.
- Khảo sát điều tra đầy đủ, có hệ thống về thực trạng năng lực, hiệu quả lãnh đạo
quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào Chăm
Ninh Thuận.
Xác định phương hướng và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng
lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào
Chăm Ninh Thuận.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Về mặt lý luận:
Luận văn nghiên cứu vấn đề năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ
thống chính trị cấp cơ sở vùng đồng bào Chăm Ninh Thuận dưới góc độ Chính trị học.
Trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và
công tác cán bộ luận văn đi sâu làm rõ vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở,
khái niệm, yếu tố cấu thành năng lực cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính trị cơ
sở để trên cơ sở đó xây dựng phương hướng, giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán
bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào Chăm Ninh Thuận.
- Về mặt thực tiễn:
Do điều kiện về quy mô, thời gian của luận văn và khả năng có hạn nên đề tài chỉ
tập trung nghiên cứu năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ
thống chính trị cơ sở vùng, đồng bào Chăm Ninh Thuận gồm Bí thư, Phó Bí thư Đảng
1.1.1 Khái niệm về cán bộ và cán bộ chủ chốt ở cơ sở
- Cán bộ: Xung quanh khái niệm cán bộ cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác
nhau. “ Ở nước ta, theo cách hiểu thông thường cán bộ được coi là tất cả những người
thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, Đảng, đoàn thể, quân đội. Trong quan
niệm hành chính cán bộ được coi như những người có mức lương từ cán sự (cũ) trở lên,
để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn cán sự một” [18, tr.16]. Chủ tịch Hồ
Chí Minh cũng đã nói và khái niệm cán bộ. Trong tác phẩm sửa đổi lối làm việc, Người
viết: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân
chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cho Đảng, cho
chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng” [10, tr.269].
Như vậy theo quan niệm chung nhất, “cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức
vụ, vai trò và cương vị trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ
chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự
phát triển của tổ chức” [18, tr.18].
- Cán bộ lãnh đạo: Theo nghĩa rộng “bao gồm những ai giữ chức vụ và trách
nhiệm cao trong một tổ chức, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức, của bộ máy,
có vai trò tham gia định hướng, điều khiển hoạt động của cả bộ máy” [18, tr.33].
Theo Lênin, cán bộ lãnh đạo là “người đại diện tiên tiến có khả năng tổ chức và
lãnh đạo phong trào” [11, tr.473].
Ở nước ta khái niệm cán bộ lãnh đạo còn gắn liền với khái niệm cán bộ quản lý,
đó là những người có chức vụ và trách nhiệm điều hành, đứng đầu trong các cơ quan, tổ
chức, sự nghiệp….giám đốc, hiệu trưởng, viện trưởng... Nội hàm khái niệm cán bộ lãnh
đạo, cán bộ quản lý có những điểm giống nhau vì đều là những chủ thể ra quyết định
điều khiển hoạt động của một tổ chức do vậy vừa thực hiện chức năng lãnh đạo vừa
thực hiện chức năng quản lý. Tuy nhiên, khái nhiệm lãnh đạo và quản lý không hoàn
toàn đồng nhất với nhau. Hoạt động lãnh đạo chủ yếu là định hướng khách thể thông
qua hệ thống cơ chế, đường lối, chủ trương, chính sách …Còn hoạt động quản lý mang
tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết chế có tính pháp lệnh được qui định từ
phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, cần kiệm liêm chính, chí
công vô tư, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, có ý thức tổ
chức kỷ luật, trung thực không cơ hội gắn bó mật thiết với nhân dân và được nhân dân
tín nhiệm.
+ Thứ năm: Người cán bộ chủ chốt phải có kinh nghiệm và nghệ thuật trong hoạt
động chính trị, linh hoạt nhạy bén, giải quyết kịp thời đúng đắn những tình huống phức
tạp xảy ra.
Như vậy, với vai trò vô cùng quan trọng và trách nhiệm nặng nề người cán bộ
lãnh đạo chủ chốt có những tiêu chuẩn cần phải có. Để luôn xứng đáng là người tiêu
biểu, đại diện và lãnh đạo nhân dân, được nhân dân tín nhiệm, tin cậy và uỷ thác. Người
cán bộ lãnh đạo phải không ngừng rèn luyện tu dưỡng mọi mặt, thống nhất giữa đức và
tài thực hiện được mục tiêu to lớn là đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi cuối cùng.
Trên cơ sở những quan điểm chung, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thể hiện những
đặc trưng cơ bản sau:
+ Là người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, điều
hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên về nhiệm
vụ được phân công.
+ Là người có trách nhiệm tiếp nhận các chủ trương chính sách và sự lãnh đạo từ
cấp trên.
+ Là người giữ vị trí quan trọng trong việc cụ thể hoá đường lối, chính sách của
Đảng, chính quyền cấp trên vào điều kiện ở cơ sở, chủ trì việc hoạch định chiến lược
mục tiêu, phương hướng, đề ra chủ trương, chính sách động viên, tổ chức nhân dân thực
hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ổn định đời sống nhân dân trên địa bàn
xã.
+ Có thẩm quyền giải quyết các mối quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh
quốc phòng trong phạm vi toàn xã, có khả năng tổ chức công việc và là trung tâm đoàn
kết của tổ chức.
Như vậy, cán bộ lãnh đạo chủ chốt cơ sở là những người đứng đầu quan trọng
nhau, không tách rời nhau, cái này hỗ trợ cái kia phát triển. Không có năng lực tư duy lý
luận thì không có khả năng khái quát, sáng tạo và vận dụng đúng đắn linh hoạt các qui
luật khách quan. Ngược lại không có năng lực thực tiễn thì sa vào bệnh giáo điều, chủ
quan duy ý chí, quan liêu, mệnh lệnh xa rời thực tiễn, thoát ly cuộc sống đầy sôi động
đang cuộn chảy.
Cấp cơ sở là cấp trực tiếp, cấp cuối cùng triển khai, tổ chức, vận động nhân dân
thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đòi hỏi đội
ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính trị phải có năng lực toàn diện, nhất định
trên nhiều lĩnh vực mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao. Ngoài ra cán bộ lãnh
đạo chủ chốt cơ sở còn phải có năng lực sáng tạo, tính quyết đoán và khả năng làm việc với
con người.
Từ những phân tích như trên có thể hiểu, năng lực cán bộ lãnh đạo chủ chốt cơ
sở là tổng hợp khả năng lãnh đạo, quản lý điều hành hoạt động của hệ thống chính trị cơ
sở với chất lượng và hiệu quả cao.
1.2.2. Những yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ
chốt hệ thống chính trị cơ sở
1.2.2.1. Năng lực tư duy lý luận
Là tổng thể tri thức trí tuệ, phương pháp luận của chủ thể đáp ứng yêu cầu phát
triển, nhận thức nhanh nhạy, đúng đắn về những vấn đề thực tiễn ở cấp độ lý luận, giúp
cho cán bộ chủ chốt cơ sở có những phản ứng sắc bén, khả năng vận dụng sáng tạo linh
hoạt lý luận vào thực tiễn nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản lý cơ sở.
Nó được biểu hiện cụ thể:
Thứ nhất, đó là khả năng tiếp thu lý luận, đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước một cách đúng đắn, khả năng phát hiện những mâu thuẫn,
những vấn đề mới, khả năng tổng kết thực tiễn và khả năng vận dụng sáng tạo lý luận,
đường lối, chủ trương, chính sách để xây dựng chương trình, kế hoach công tác, kế hạch
phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với thực tiễn ở cơ sở.
Thứ hai, năng lực tư duy lý luận mang tính khái quát, là khả năng liên kết tri thức
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở gắn liền với cơ sở, họ vừa phải tổ chức thực hiện
các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, vừa phải bám sát cơ sở, nắm chắc tình hình cơ sở để
triển khai thực hiện nhiệm vụ kế hoạch đúng đắn phù hợp với thực tiễn cơ sở. Vì vậy,
thu thập xử lý thông tin đầy đủ trước hết phải nắm vững chủ truơng, chính sách của
Đảng, Nhà nước, chỉ thị Nghị quyết của cấp trên. Đồng thời phải xây dựng phương
pháp làm việc khách quan, khoa học hình thành mạng lưới cung cấp thông tin xác thực
từ cơ sở kết hợp với việc đi sâu, đi sát cơ sở nắm vững những diễn biến hoạt động kinh
tế - xã hội, an ninh-quốc phòng…từ cơ sở, từ nhân dân. Sau khi có đầy đủ thông tin
người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cơ sở lại phải có khả năng tổng hợp, khái quát, phân
tích để rút được những đặc điểm nguyên nhân đề ra được những giải pháp, quyết định
đúng đắn giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ đặt ra.
Hai là, khả năng tổ chức bộ máy, phối hợp các lực lượng các bộ phận cá nhân
thực hiện nhiệm vụ đặt ra ở cơ sở.
Cán bộ chủ chốt ở cơ sở phải có tư duy tổ chức phối hợp các bộ phận trên cơ sở
phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu của đội ngũ cán bộ dưới quyền để bố trí phù
hợp với năng lực, sở trường. Phải là trung tâm đoàn kết, thu hút cán bộ cấp dưới và
nhân dân tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện những nhiệm vụ đang đặt ra.
Ba là, làm tốt công tác kiểm tra, giám sát để duy trì, điều chỉnh việc thực hiện
các quyết định quản lý. Phát hiện kịp thời những vấn đề mới nảy sinh để giải quyết tìm
ra những lệch lạc sai sót để sửa chữa, điều chỉnh các vấn đề thực tế đặt ra để các quyết
định có hiệu lực, hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng. Lênin chỉ rõ: “Khi mục tiêu và
nhiệm vụ đã được xác định, quyết định được thông qua, bộ máy con người đã được sắp
xếp thì trọng tâm của sự lãnh đạo, quản lý phải chuyển sang lĩnh vực kiểm tra và gắn
với kiểm tra là đôn đốc, uốn nắn, tổ chức thực hiện đến cùng quyết định” [11, tr.248].
Công tác kiểm tra giám sát làm tăng hiệu quả các quyết định quản lý, đảm bảo
cho việc hoàn thành nhiệm vụ một cách triệt để, tránh được các căn bệnh vốn có như
qua loa, đại khái, hạn chế các tiêu cực có thể nảy sinh trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ.
sở là nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội, nơi tổ chức và thực thi đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước, nơi hàng ngày, hàng giờ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cơ
sở gắn bó, gần gủi mật thiết với nhân dân. Vì vậy, những vấn đề xảy ra cũng hết sức
phong phú, phức tạp, nhạy cảm đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo chủ chốtt cơ sở phải giải
quyết kịp thời, đúng đắn những vấn đề thực tiễn đặt ra. Nếu không giải quyết kịp thời sẽ
không đạt được hiệu quả công tác lãnh đạo quản lý; mất thời cơ, lúng túng, bị đọng,
công việc dồn ép, làm chậm, phát triển kinh tế - xã hội, kìm hãm, cản trở…Nếu quyết
định sai, võ đoán, chậm trễ sẽ gây mất lòng tin, có thể là ngòi nỗ bùng phát xung đột
hoặc tăng thêm bùng phát xung đột gây mất ổn định trật tự xã hội. Nếu không quyết
đoán, trông chờ ỷ lại cấp trên, dựa dẫm vào tập thể thì hiệu quả công tác kém. Vì thế
người cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải không ngừng học tập, rèn luyện để có tri thức nhận
biết được sự vận động của thực tiễn, hiểu và nắm vững công việc mình phụ trách có
phương pháp luận khoa học rèn luyện tính quyết đoán để có khả năng ra quyết định một
cách dứt khoát và dám chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
1.2.2.4. Năng lực làm việc với con người
Môi trường hoạt động của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cơ sở luôn gắn liền với con
người. Công tác lãnh đạo quản lý của họ là sự tác động đến con người bằng nhiều
phương thức khác nhau. Vì thế khả năng giao tiếp vừa thể hiện năng lực lãnh đạo vừa là
một nghệ thuật để nâng cao năng lực lãnh đạo. Phần lớn thời gian làm việc của cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cơ sở là giao tiếp với cấp trên (để nhận chỉ đạo) với cấp dưới để triển
khai công việc và đặc biệt là với nhân dân. Chất lượng công tác phụ thuộc rất nhiều vào
khả năng giao tiếp, làm việc với con người.
Năng lực làm việc với con người là khả năng nắm bắt được tâm lý tư tưởng của
đối tượng thông qua giao tiếp để chuyển được chủ trương chính sách của Đảng và Nhà
nước vào cuộc sống thông qua con người. Người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cơ sở phải
xây dựng được các mối quan hệ, phải thu hút mọi người tham gia vào công việc chung
xuất phát từ lợi ích chung. Có thái độ điềm tĩnh, cư xử nhã nhặn, lịch sự, tế nhị, khiêm
tốn với nhân dân, tôn trọng hiểu rõ tâm tư tình cảm lợi ích của nhân dân, thông cảm
đoàn thể có nhiều chuyển biến tích cực, thu hút được thành viên, hội viên, đoàn viên
tham gia vào các phong trào cách mạng, góp phần quan trọng trong việc thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương đồng thời tích cực tham gia xây dựng
Đảng.
Tuy nhiên, thực tiễn ở các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta đang đặt ra những vấn
đề bức xúc đòi hỏi phải nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC cơ sở.
Trước hết, vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam thường có vị trí địa lý, có điều kiện
tự nhiên khó khăn, khắc nghiệt. Do đó, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, văn hoá, xã hội giáo
dục, y tế kém phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Thực hiện phát triển
kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phát triển mạnh văn
hoá giáo dục y tế, nâng cao dân trí... là một yêu cầu, một nhiệm vụ mang tính cấp bách.
Do những khó khăn chủ quan, khách quan, đội ngũ CBCCCS vùng dân tộc thiểu
số thường chắp vá không ổn định, trình độ văn hoá học vấn thấp, chưa được đào tạo cơ
bản... Do vậy, năng lực lãnh đạo hạn chế, không tổ chức, lãnh đạo tốt hệ thống chính trị,
quần chúng nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, vận dụng chủ trương chính sách của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn địa phương còn yếu. Số nhiều
có tư tưởng trông chờ, ỷ lại, tự ty thiếu chủ động, sáng tạo trong lãnh đạo quản lý.
Bên cạnh đó, vùng đồng bào thiểu số thường là những vùng có vị trí địa chính trị,
địa kinh tế chiến lược có ảnh hưởng lớn đến an ninh quốc gia. Cùng với tính đặc thù về
dân tộc, tôn giáo nên các vùng dân tộc thiểu số trở thành những mục tiêu trọng điểm của
các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam.
Với những nhân tố khách quan như vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo cho đội ngũ
CBCCCS vùng dân tộc thiểu số nói chung vùng đồng bào dân tộc Chăm ở Ninh Thuận
là một tất yếu mang tính cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Yêu cầu và nhiệm vụ cơ bản
trong nâng cao năng lực lãnh đạo của CBCCCS vùng đồng bào Chăm ở Ninh Thuận
hiện nay là nâng cao năng lực nhận thức đường lối, quan điểm của Đảng, chủ trương,
chính sách, pháp luật của Nhà nước, năng lực tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương
đó và năng lực làm việc với con người, đặc biệt là khả năng vận động các chức sắc tôn
sông chảy qua Ninh Thuận là sông Dinh. Song sông chỉ có nước vào mùa mưa và do độ
dốc cao nên nước sông nhanh chóng đổ ra biển vào mùa mưa và khô cạn vào mùa khô.
Thảm thực vật ở đây chủ yếu là đất trống cây bụi và rừng thưa thứ sinh. Các khu rừng bị
khai thác bừa bãi nên hầu như đã cạn kiệt cùng với nạn cháy rừng hàng năm nên thảm
thực vật nơi đây đã nghèo lại càng nghèo hơn.
Tuy nhiên, vùng đồng bào Chăm sinh sống ở Ninh Thuận vẫn có ảnh hưởng của
khí hậu biển, giúp điều hòa khí hậu, giảm sự chênh lệch về nhiệt độ và luân chuyển
những khối không khí trong các tiểu khu vực. Vì thế, khí hậu vùng này vẫn không bị
"lục địa" hóa.
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên vùng đồng bào Chăm sinh sống ở Ninh Thuận là
khá khắc nghiệt cho đời sống con người. Đó là vùng đất cằn cỗi, khô hạn, nóng bức,
thiếu nước, thảm thực vật và động vật nghèo về chủng loại, ít về số lượng và đã làm hạn
chế rất nhiều đến việc canh tác và các hoạt động kinh tế của đồng bào Chăm.
Đặc điểm của điều kiện tự nhiên đó đã tác động rất lớn đến đời sống vật chất, tinh
thần của đồng bào Chăm. Về vật chất đồng bào Chăm đã sớm biết và rất giỏi về kỹ
thuật thủy lợi với nhiều công trình thủy lợi lớn, tương truyền được xây dựng từ thế kỷ
13 do vua Poklong - Girai xây dựng như đập Nha Trinh, đập Lâm Cấm, mương dẫn
nước Ông Dàu, mương Cái (mương Chăm) cho tới nay vẫn còn sử dụng. Về tinh thần,
đồng bào Chăm rất tôn thờ thần nước, thần mưa, thần đập... với các lễ hội như lễ tạ
thủy, cúng nguồn nước, mương nước.
2.1.2. Điều kiện kinh tế của người Chăm ở Ninh Thuận
Kinh tế truyền thống của đông bào Chăm bao gồm cả nghề nông, nghề biển và
khai thác rừng. Hình thái kinh tế đó đã giúp cho đời sống của đồng bào Chăm phát triển
khá phồn thịnh.
Đồng bào Chăm đã có nền nông nghiệp phát triển khá sớm với kỹ thuật đắp đập
lấy nước để trồng lúa nước như các đập Nha Trinh, Lâm Cấm và hệ thống kênh mương
dẫn nước như đã trình bày ở trên. Không những thế, đồng bào Chăm còn có kỹ thuật
canh tác ruộng nước khá cao, sử dụng nhiều giống lúa ngắn ngày mà cho năng suất cao
lịch sử, dân tộc Chăm đã đoàn kết với dân tộc Việt chống giặc ngoại xâm, lật đổ tập
đoàn phong kiến. Vào cuối thế kỷ 18, trở thành một bộ phận trong đại gia đình các dân
tộc Việt Nam. Dân tộc Chăm đã đoàn kết cùng các dân tộc anh em đóng góp nhiều sức
người, sức của trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ góp
phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước. Nhiều cơ sở cách mạng đã
hình thành và phát triển trong các thôn xóm của đồng bào Chăm ở Ninh Thuận như thôn
Hậu Sanh (xã Phước Hữu), thôn Như Bình (xã Phước Thái), thôn Vĩnh Thuận (thị trấn
Phước Dân). Nhiều gương sáng tiêu biểu như anh hùng liệt sĩ Đổng Dậu, liệt sĩ Phú
Như Lập, Tài Đại Thông, Từ Hận...
Hiện nay, cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận với truyền thống đoàn kết, đức
tính cần cù, sáng tạo đang sát cánh cùng với các dân tộc anh em hưởng ứng tích cực
công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo mà trọng tâm
trước mắt là thực hiện thành công công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) nông
nghiệp, nông thôn; xây dựng nông thôn mới; giữ gìn và phát huy truyền thống bản sắc
văn hóa dân tộc tốt đẹp, dần xóa bỏ các tập tục lạc hậu, xây dựng các làng Chăm ngày
càng có đời sống dân chủ, văn minh và hạnh phúc. Trong quá trình đó đã xuất hiện
nhiều gương lao động giỏi, nhiều cán bộ, đảng viên là người Chăm đã trưởng thành và
đang giữ nhiều cương vị trong tổ chức Đảng và bộ máy nhà nước từ cấp Trung ương tới
cấp cơ sở.
+ Về điều kiện văn hoá: Dân tộc Chăm là một dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mã
lai - Đa đảo, có hệ thống chữ viết từ rất sớm theo bộ vần Sanscrit nên đã lưu giữ được
kho tàng văn hóa khá đậm nét của mình.
Nền văn hóa của người Chăm ở Ninh Thuận đã trải qua những thời kỳ phát triển
rực rỡ với nhiều loại hình nghệ thuật độc đáo. Đó là những truyền thuyết, truyện cổ tích,
các bài gia huấn ca, những truyện thơ trong đó chứa đựng giá trị văn hóa mang đậm tính
nhân văn với khát vọng vươn lên của dân tộc mà lồng trong đó là cả hệ thống những
điều cấm kỵ, những lời răn dạy điều hay lẽ phải và dễ đi vào lòng người. Sức lan tỏa
văn học nghệ thuật dân gian của đồng bào Chăm thực lớn và đã có nhiều ảnh hưởng tới
ví dụ. Đồng bào Chăm theo đạo Bà la môn ở Ninh Thuận có khoảng. 36.899 người
chiếm khoảng 58,9%. Sống ở 15 làng (Paley), tôn thờ 3 đền, tháp là đền Ponưgar, tháp
Poklong-Girai và tháp Po Rome. Về phong tục: trong ăn uống, họ kiêng thịt bò, khi chết
thì hỏa táng. Ăn tết Katê hàng năm vào tháng 7 Chăm lịch (khoảng tháng 9 âm lịch).
Phật giáo cũng đã từng du nhập vào cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận từ thế
kỷ II - III sau Công nguyên. Song Phật giáo với triết lý khổ hạnh cao siêu đã không đáp
ứng được nhu cầu đời sống tâm linh cũng như đời sống vật chất của cộng đồng người
Chăm nói chung và đồng bào Chăm Ninh Thuận nói riêng nên nó dần suy yếu, nhường
chỗ cho Bà la môn giáo đã có từ trước và Hồi giáo ở những giai đoạn sau này.
Hồi giáo được truyền bá vào xã hội người Chăm khoảng từ thế kỷ XIII-XV. Giống
như Bà la môn giáo, khi du nhập vào xã hội người Chăm, Hồi giáo cũng bị biến đổi và
phân hoá thành hai nhóm: nhóm đồng bào Chăm theo Hồi giáo giữ được những yếu tố
của Hồi giáo chính thống gọi là Hồi giáo Islam (còn gọi là Hồi giáo mới). Người Chăm
theo Hồi giáo Islam có khoảng 2.513 người chiếm 4,01%.
Nhóm người Chăm theo Hồi giáo đã tiếp thu tín ngưỡng của Chăm Bà la môn giáo
tạo ra một nét riêng khác hẳn Hồi giáo chính thống gọi là Hồi giáo cũ (còn gọi là Chăm
Bà ni để phân biệt với Chăm Bà la môn). Người Chăm Bà ni ở Ninh Thuận hiện nay có
khoảng 23.354 người chiếm khoảng 37,09%. Hồi giáo ở Ninh Thuận thờ thánh Allah,
bên cạnh đó họ còn thờ các vị thần của đồng bào Chăm Bà la môn, trở thành một nét
đặc sắc riêng của người Chăm Hồi giáo. Về phong tục, trong ăn uống người Chăm theo
Hồi giáo kiêng thịt lợn, khi chết thì địa táng, ăn tết vào tháng Ramadam.
Trong xã hội đồng bào Chăm ở Ninh Thuận, tôn giáo đã đóng vai trò quan trọng và
đã chi phối hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong cộng đồng. Tôn
giáo đã trở thành tiêu chuẩn phân biệt các nhóm đồng bào Chăm, quy định các sinh hoạt
tinh thần của họ và cũng chính tôn giáo là nguồn gốc phân hóa xã hội người Chăm
thành các đẳng cấp theo chế độ đẳng cấp Bà la môn. Chế độ đẳng cấp đó đã ảnh hưởng
đến Hồi giáo người Chăm làm xuất hiện tầng lớp tu sĩ Hồi giáo Chăm và đây là hiện
tượng độc đáo của Hồi giáo Chăm mà chúng ta không thể thấy ở đâu trên thế giới.