Quan điểm của Nho giáo về nhân cách và sự hình thành nhân cách - Pdf 33

Nguyễn Thị Biên – K21 Cao học GDMN
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới của nước ta, Đảng và Nhà nước rất quan
tâm tới vấn đề con người, đặc biệt là nhân cách con người. Muốn công
nghiệp hóa và hiện đại hóa thành công thì phải có con người đạo đức và con
người trí tuệ. Đó chính là nhân cách.
Nhân cách có nhiều khoa học nghiên cứu: Triết học, Xã hội học, Văn
học, Nghệ thuật, Kinh tế học, Tâm lý học, Y học… Trong đó, với lĩnh vực
Triết học, từ gần 2000 năm trước Nho giáo đã nói nhiều tới con người, đạo
đức…
Nho giáo là một học thuyết Triết học và chính trị - xã hội lớn nhất
trong lịch sử triết học Trung hoa cổ đại. Mặc dù ra đời rất sớm nhưng học
thuyết Nho giáo đã sớm phát hiện ra vấn đề con người, bàn nhiều về con
người, đặc biệt đề cập khá sâu đến quan niệm con người và đào tạo con
người hay nói cách khác là đạo đức, nhân cách con người và quá trình hình
thành. Đây là một trong những nội dung chủ yếu của học thuyết Nho giáo.
Nho giáo đã du nhập và tồn tại ở Việt Nam gần 2000 năm, đã có tác
dụng to lớn đối với xã hội và con người nước ta trong lịch sử, đồng thời
cũng để lại những ảnh hưởng khá sâu đậm đến xã hội và con người Việt
Nam hiện nay. Vì vậy nghiên cứu quan niệm về con người và đào tạo con
người của Nho giáo có ý nghĩa cấp thiết trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo
con người trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy trong phạm vi bài tiểu luận nhỏ

Page 1


Nguyễn Thị Biên – K21 Cao học GDMN
này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu sâu hơn về “Quan điểm của Nho giáo về nhân
cách và sự hình thành nhân cách”.

nghiệm hiện tại.

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhân cách, sự hình thành nhân cách.
- Phạm vi nghiên cứu: Triết học Nho giáo.

5. Phương pháp nghiên cứu
- Đọc, nghiên cứu, tổng hợp tài liệu

6. Cấu trúc tiểu luận
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương 1. Các cơ sở lí luận
1. Nguồn gốc của Nho giáo
2. Khái niệm Nhân cách

Page 3


Nguyễn Thị Biên – K21 Cao học GDMN
Chương 2. Quan điểm của Nho giáo về nhân cách và sự hình thành nhân
cách
1. Bản chất nhân cách
2. Thành phần nhân cách
3. Động lực hình thành và phát triển nhân cách
KẾT LUẬN

Page 4



mỗi con người ở đấy ít nhiều đều chịu sự ảnh hưởng của học thuyết Khổng
Tử.

- Hơn hai nghìn năm qua, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng đối với Trung Quốc
không chỉ về chính trị, văn hoá...mà còn thể hiện trong hành vi và phương
thức tư duy của mỗi con người Trung Quốc. Có học giả nước ngoài thậm chí
coi tư tưởng Nho giáo là tư tưởng Tôn Giáo của Trung Quốc. Trong thực tế,
trường phái Nho giáo chỉ là một trong rất nhiều trường phái thời cổ Trung
Quốc, nó là một tư tưởng triết học chứ không phải là Tôn giáo, chẳng qua là
do được coi là tư tưởng chính thống trong xã hội phong kiến hơn hai nghìn
năm ở Trung Quốc và vì người Hoa và Hoa kiều có mặt hầu như trên toàn
thế giới, có thể nói sự ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Tử đã không còn giới
hạn ở Trung Quốc và châu Á nữa.

- Khổng Tử sống trong thời Xuân Thu (từ 722 – 481 TCN), thời kỳ này thể
chế quốc gia thống nhất bị phá vỡ, sản sinh ra nhiều nước Chư hầu lớn nhỏ.
Khổng Tử sinh sống trong nước Lỗ là nước có nền văn hóa tương đối phát
triển lúc đó. Tại sao học thuyết của Khổng Tử lại chiếm vị thế thống trị
trong thời đại phong kiến Trung Quốc ? Đây là vấn đề không dể giải thích
trong một vài câu. Nói một cách đơn giản là tư tưởng đẳng cấp nghiêm ngặt
và tư tưởng cải lương chính trị của ông phù hợp với lợi ích của giai cấp
thống trị, có lợi cho ổn định xã hội lúc bấy giờ và xúc tiến xã hội phát triển.
Page 6


Nguyễn Thị Biên – K21 Cao học GDMN
Khổng Tử nhấn mạnh qui phạm và trật tự luân lý nghiêm ngặt, cho rằng nếu
làm trái với cấp trên hoặc trái với Cha mẹ đều là tội nghiêm trọng. Theo lý
luận này, Vương Quân phải quản lý tốt đất nước, thường dân phải trung
thành với Vương quân. Mỗi người đều có nhiều thân phận, có thể là con, có

1. Nhân cách được hiểu là con người có đức và tài hay là tính cách và
năng lực hoặc là con người có các phẩm chất: Đức, trí, thể, mỹ, lao (lao
động).
2. Nhân cách được hiểu như các phẩm chất và năng lực của con người
3. Nhân cách được hiểu như phẩm chất của con người mới: Làm chủ,
yêu

nước,

tinh

thần

quốc

tế



sản,

tinh

thần

lao

động.

4. Nhân cách được hiểu như mặt đạo đức, giá trị làm người của con

lắng (K.Hoocnây). Những quan điểm này đều đề cao tính chất tự nhiên sinh
vật của con người, phủ nhận bản chất xã hội của nhân cách. Do đó cũng
cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm.
3. Nhân cách được hiểu là toàn bộ mối quan hệ xã hội của cá nhân
(Lucien Seve, Zeigarnit, Ogordnikov). Họ lấy các mối quan hệ xã hội của cá
nhân như trong quan hệ gia đình, nhà trường, cơ quan công tác, nghề nghiệp,
bạn bè… làm chuẩn để đánh giá nhân cách. Về thực chất, quan điểm này đã
xã hội hoá nhân cách một cách giản đơn.
4. Nhân cách được hiểu đồng nghĩa với hai khái niệm con người.
Platônôp cho rằng nhân cách là con người có ý thức, có lý trí và ngôn ngữ, là
con người lao động. Loại quan điểm này nói về cái chung, cái đặc trưng nhất
của con người mà không chú ý đến cái đặc thù, cái riêng của nhân cách.
5. Nhân cách được hiểu như cá nhân của con người với tư cách là chủ
thể của mối quan hệ và hoạt động có ý thức (A.G.Kôvaliốp, I.X.Kon). Hiện
Page 9


Nguyễn Thị Biên – K21 Cao học GDMN
nay quan điểm này được đa số các nhà tâm lý học xã hội chấp nhận, coi
nhân cách là cá nhân là cá thể so với tập thể và xã hội.
6. Nhân cách được hiểu như là các thuộc tính nào đó tạo nên bản chất
nhân cách như là các thuộc tính ổn định, các thuộc tính sinh vật hoặc thuộc
tính xã hội. P.Buêva cho rằng nhân cách là con người với toàn bộ những
phẩm chất xã hội của nó. Nhân cách là toàn bộ những đặc tính và những quy
luật cá nhân (H.Hipsô, M.Phorvec), là tổng số những những đặc điểm cá
nhân con người mà không người nào giống người nào (E.P.Hôlenđơ). Nhân
cách là tâm thế (Uzơnatze) là thái độ (V.N.Miaxisev), là phương thức tồn tại
của con người tong xã hội, trong điều kiện lịch sử cụ thể (L.I.Anxưphêrôva).
Những quan điểm này chỉ chú ý đến cái đơn nhất trong nhân cách, chưa thể
hiện tính toàn diện trong định nghĩa về nhân cách.

đạo đức. Đúng như thiên “Học Nhi” – sách Luận ngữ đã viết: “Làm người
có nết hiếu, đễ thì ít ai dám xúc phạm bề trên. Không thích xúc phạm bề
trên mà thích làm loạn thì chưa từng có. Người quân tử chăm chú vào
việc gốc, gốc mà vững thì đạo đức sinh ra. Hiếu, đễ là cái gốc của đức
nhân…”.
Trước thời Khổng Tử đã xuất hiện khái niệm quân tử. “Nhưng
thời đó nó trỏ cái địa vị trong xã hội, chứ không trỏ cái phẩm tính con
người. Người có phận cao (tối đại đa số ở trong giai cấp quý tộc) cai trị
dân, có đức hay không đều gọi là quân tử”. Đến thời mình, Khổng Tử
đã đề ra những tiêu chuẩn về tài đức, về tư cách phẩm chất để thành
người quân tử đáng được nắm quyền trị dân, nhờ đó tiếng quân tử
Page 11


Nguyễn Thị Biên – K21 Cao học GDMN
không còn thuần tuý chỉ người cầm quyền như trước nữa, mà chủ yếu
là có nghĩa chỉ người có đức dù họ cầm quyền hay không.
Như trên ta thấy, với Khổng Tử, hiếu, đễ là gốc của đạo đức. Làm
người trước hết phải có hiếu nghĩa, phải đền ơn sinh thành. Chính vì
vậy ông từng mắng Tể Dư là bất nhân, bất hiếu không nhớ công cha mẹ
bồng bế ba năm, mà muốn rút thời gian để tang từ ba năm xuống một
năm: “Dư là đứa bất nhân? Đứa trẻ sinh ra, sau ba năm cha mẹ mới thôi
bồng bế. Dư nó có được cha mẹ bồng bế trong ba năm hay không?”.
Khổng Tử đề cao đức hiếu bởi vì làm người phải có lòng kính yêu cha
mẹ và người thân trong nhà, thì mới biết yêu thương người ngoài, yêu
thương đồng loại. Và làm người theo Khổng Tử trước hết phải có
“đức”, tu dưỡng “đức” rồi mới học văn. Đạo hiếu quan trọng như vậy,
nhưng như thế nào là hiếu? Hãy xem Khổng Tử trả lời Tử Du hỏi về
đạo hiếu: “Ngày nay người ta cho hiếu là có thể nuôi cha mẹ, nhưng đến
chó ngựa kia người ta cũng nuôi, nếu không kính cha mẹ thì có khác

Tử quan niệm về “đức” không phải như một cái gì biệt lập mà là trong
sự thống nhất chặt chẽ không tách rời với tri thức, tài năng. Quan niệm
này thực sự nhất quán từ Khổng Tử đến các môn đệ của ông. Với
Khổng Tử thì “chất phác thẳng thắn văn nhã thì là người quê mùa; văn
nhã thẳng thắn chất phác thì là người chép sử (giữ việc văn thư); văn và
chất đều nhau mới là người quân tử”. Là người hết sức coi trọng đạo
đức như vậy đương nhiên, trong hoạt động của mình Khổng Tử bao giờ
cũng hành xử theo đúng những chuẩn mực đạo đức mà ông tôn thờ, coi
trọng và ra sức tuyên truyền nó trong xã hội, cho dù đời ông như chúng
Page 13


Nguyễn Thị Biên – K21 Cao học GDMN
ta biết hết sức long đong, lận đận. Khổng Tử cho rằng: “Người có đức
thì không cô độc, tất có người đồng đạo kết bạn với mình như ở đâu thì
có láng giềng ở đó”. Với ông “sáng được nghe đạo lý, tối chết cũng được
(không hận)”. Bởi vậy, lẽ sống của Khổng Tử là “để tâm chí vào đạo,
giữ gìn đức hạnh, nương theo điều nhân, vui với lục nghệ“. Chính vì thế
mà khi gặp nguy ở nước Tống bị quan tư mã là Hoàn Khôi tìm cách
hãm hại, Khổng Tử thản nhiên nói: “Trời cho ta có phẩm đức, Hoàn
Khôi làm gì được ta”, hoặc khi ông đau nặng, Tử Lộ xin phép cầu đảo,
Khổng Tử nói: “Khâu này cầu đảo từ lâu rồi” (ý nói ăn ở phải đạo thì
chẳng cần phải cầu đảo). Thế mới biết ông tin và coi trọng đạo đức đến
mức nào.
Điều dễ nhận thấy là tuy Khổng Tử nói nhiều về “đức”, tin vào
“đức” và đề cao về “đức” như vậy, nhưng ông cũng nhận thấy rằng, xã
hội thời ông đang thiếu “đức” một cách nghiêm trọng. Chính là thực tế
xã hội và cuộc sống đã khiến ông phải buông ra những lời than thở: “Ta
chưa thấy ai hiếu đức bằng hiếu sắc“, “Học ba năm mà không có ý cầu
bổng lộc, dễ được mấy người?” và “Trung dung là đức cực đẹp vậy. Từ


2.Các kiểu nhân cách (Thành phần nhân cách)
Nhân cách được thể hiện ra bên ngoài qua các kiểu nhân cách
2.1.Người quân tử - Kẻ tiểu nhân:
Phân loại con người theo tiêu chuẩn đạo đức thành quân tử và tiểu
nhân là cách phân loại đặc trưng nhất, được đề cập đến nhiều nhất trong Luận
ngữ. Người ta thường nói, đạo Nho là đạo của người quân tử. Bởi vì, Nho
Page 15


Nguyễn Thị Biên – K21 Cao học GDMN
giáo bàn rất nhiều về người quân tử, coi đó là mẫu người lý tưởng, toàn thiện,
toàn mỹ nhất. Mọi sự cố gắng học tập, tu dưỡng đạo đức đều nhằm đạt đến
danh hiệu cao quý ấy. Đó cũng chính là mục đích mà nền giáo dục Nho giáo
hướng tới.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đạo của người quân tử, như Cái
quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng của Phạm Quỳnh; Kinh
Dịch - Đạo của người quân tử của Nguyễn Hiến Lê; Trần Trọng Kim bàn về
người quân tử trong cuốn Nho giáo, v.v.. Nhìn chung, các tác phẩm đó đã đề
cập tương đối toàn diện về người quân tử và xem xét trên nhiều khía cạnh,
nhiều phương diện khác nhau. Nhưng, mặt đối lập với nó là kẻ tiểu nhân thì
lại chưa có được một sự quan tâm, tìm hiểu thích đáng, mặc dù việc nghiên
cứu về kẻ tiểu nhân sẽ làm nổi bật hơn vai trò và tính cách của người quân
tử.
Lúc đầu, quân tử được hiểu là người có địa vị tôn quý, còn tiểu nhân
là người dân thường, không có địa vị xã hội. Về sau, nghĩa của từ được dùng
rộng ra và theo những tiêu chuẩn đạo đức là chính, khi đó quân tử được coi
là người có đức hạnh cao quý, còn tiểu nhân là người có chí khí hèn hạ, thấp
kém. Theo nghĩa đó, người quân tử dẫu bần cùng, khổ sở thì vẫn là người có
chí khí quân tử. Kẻ tiểu nhân tuy có quyền cao, chức trọng, cũng vẫn là kẻ

hiểu sâu, tôn trọng đạo "Trung dung". Còn kẻ tiểu nhân luôn đam mê theo
vật dục, trông chờ, nhờ cậy vào người khác và luôn làm trái với đạo "Trung
dung".
Theo Khổng Tử, "Người quân tử trông cậy ở mình, tiểu nhân trông
cậy ở người" (Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân). Theo ông, con
người trước hết phải lo tự mình tạo lập cho bản thân mình trên cơ sở của sự
Page 17


Nguyễn Thị Biên – K21 Cao học GDMN
rèn luyện, tu dưỡng bản thân, chịu khó học tập, trau dồi về đạo lý và đức
hạnh. Bản thân ông là một tấm gương sáng về sự kiên trì, nỗ lực học tập suốt
đời. Ông coi đó là những điều kiện tiên quyết của sự thành đạt, nhưng cũng
không bỏ qua sự tác động của những yếu tố khách quan, như "thiên thời, địa
lợi, nhân hoà". Trên cơ sở những phẩm chất tốt đẹp và có chí khí, người quân tử
tin tưởng ở bản thân mình, tự mình làm nên sự nghiệp, "dương danh hiển thân".
Còn kẻ tiểu nhân, do ý chí nhu nhược nên luôn tìm cách dựa dẫm vào người
khác để thoả mãn tham vọng của mình.
Người quân tử do kiên trì, nỗ lực học tập đạo lý nên đức ngày càng
cao, hiểu biết đạo lý ngày càng uyên thâm, hành động ngày càng thuần thục,
hợp đạo lý. Nhờ đó, người quân tử lập được công danh, sự nghiệp, đạt được
địa vị cao trong xã hội, đảm đương những công việc chính trị có hiệu quả.
Còn kẻ tiểu nhân, vì lười biếng học tập, tu thân nên không thể tiến bộ được.
Kẻ tiểu nhân làm việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân trước hết nên
không được tín nhiệm, nếu có địa vị thì làm việc không có hiệu quả. Khổng
Tử đã nhận xét rằng: "Quân tử thông đạt về nhân nghĩa, tiểu nhân thông đạt
về tài lợi" (Quân tử thượng đạt, tiểu nhân hạ đạt).
Theo Khổng Tử, "Người quân tử thì trung dung, kẻ tiểu nhân thì phản
trung dung" (Quân tử trung dung, tiểu nhân phản trung dung). Người quân
tử ham học đạo lý để tiến đức, sửa nghiệp, thông hiểu được cái lý lẽ cao xa,

từng hoàn cảnh, đối tượng, mà việc giảng giải về "nghĩa" khác nhau. Tựu
trung lại, có thể nói, phạm trù "nghĩa" bao gồm những cái cao thượng, chính
trực, tốt đẹp và phù hợp với nhân và lễ. Làm điều "nghĩa" là để thi hành đạo
nhân và giữ gìn lễ tiết. Bởi vậy, "nghĩa" được coi là cái gốc của mọi sự việc,

Page 19


Nguyễn Thị Biên – K21 Cao học GDMN
còn người quân tử thì bao giờ cũng phải lấy "nghĩa" làm cái cốt yếu, cơ sở
cho mọi suy nghĩ và hành động.
Đối lập với "nghĩa" là "lợi". "Lợi" (được hiểu là lợi ích, quyền lợi)
thường gắn liền với tư dục, tham vọng... của con người. Nho giáo cho rằng,
chỉ có kẻ tiểu nhân mới tham lợi, vì lợi mà quên cả nhân nghĩa. Khổng Tử so
sánh: "Quân tử nghĩ đến đức, tiểu nhân nghĩ đến chỗ ở; quân tử quan tâm
đến phép tắc, tiểu nhân quan tâm đến ân huệ" (Quân tử hoài đức, tiểu nhân
hoài thổ. Quân tử hoài hình, tiểu nhân hoài huệ). Thực chất, cả hai cách xử
thế "trọng nghĩa khinh lợi" hay "trọng lợi, coi thường nghĩa" đều bộc lộ
những điểm mâu thuẫn, bất hợp lý. Để có thể tồn tại được, người ta không
thể không quan tâm đến quyền lợi của mình. Nhưng, nếu người ta quá đề
cao nó, tuyệt đối hoá nó, coi lợi ích cá nhân là mục đích, là lẽ sống, là trên
hết, thì lại là không đúng, là sa vào chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, chỉ biết mình
(như quan niệm của Dương Chu). Chủ nghĩa cá nhân sẽ sản sinh ra lối sống
thực dụng như ở các nước tư bản hiện nay. Ngược lại, việc đề cao lợi ích xã
hội, không quan tâm đến lợi ích cá nhân cũng sẽ dẫn đến những hậu quả tai
hại. Nó sẽ làm mất đi một động lực quan trọng của sự phát triển xã hội, đó là
sự đáp ứng những nhu cầu, lợi ích chính đáng của cá nhân. Vì vậy, một quan
điểm đúng đắn là phải biết kết hợp hài hoà giữa nghĩa và lợi, không thái quá,
cũng không bất cập. Khổng Tử đã cảnh cáo rằng, những người chỉ làm theo
lợi thì ắt có nhiều người oán thù. Ông cũng khuyên những người quân tử

quân tử có lúc phạm vào điều bất nhân cũng là dễ hiểu, vì "nhân vô thập
toàn". Còn kẻ tiểu nhân thì không thể làm được điều nhân đức, vì họ luôn bị
cái tư dục chi phối, luôn ghen ghét và đố kỵ, không muốn ai bằng mình.

Page 21


Nguyễn Thị Biên – K21 Cao học GDMN
Do có đức sáng và có lòng nhân, người quân tử muốn làm toả đức sáng
trong thiên hạ. Họ sẵn sàng làm việc tốt và ngăn ngừa việc xấu, giúp mọi
người sống đúng theo đạo "luân thường". Khổng Tử đã nhận xét rằng:
"Người quân tử giúp người ta làm việc tốt, không giúp người ta làm việc
xấu. Còn kẻ tiểu nhân thì trái lại" (Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành
nhân chi ác. Tiểu nhân phản thị).
Quân tử là người có tài năng, có thể làm được những công việc lớn.
Cái sáng suốt của nhà cầm quyền là biết dùng người đúng khả năng, đúng
công việc. Đối với người có tài đức - ví như người quân tử - thì nhà cầm
quyền không nên giao cho họ những công việc nhỏ nhặt, vụn vặt, mà nên
giao cho họ những công việc quan trọng. Còn với kẻ tiểu nhân, do tâm lý vụ
lợi nên không đảm trách được những công việc lớn, song có thể làm tốt công
việc nhỏ.
Dùng đúng người, đúng việc là một yếu tố quan trọng quyết định sự
thành bại, phát huy "sở trường", hạn chế "sở đoản" của mỗi người. Vì vậy,
Nho giáo rất coi trọng thuật "dùng người". Theo Khổng Tử, kẻ làm quan tùy
tài đức của mình mà thi thố giúp dân, giúp nước, chứ không chờ hội đủ các
tài đức. Ông nói với Quý Khương Tử rằng, Trọng Do là người quả quyết, Tử
Cống là người thông đạt lý sự, Nhiễm Hữu là người có nhiều tài nghệ… đều
có thể ra làm quan được. Khổng Tử sợ nhất là những kẻ “ăn không ngồi rồi”,
chẳng dụng tâm làm việc gì. Theo ông, đó là những con người mà xã hội cần
phê phán và lên án. Khổng Tử còn nói rằng, người quân tử không bao giờ xa

B. Ngũ Thường: Ngũ là năm; Thường là hằng có; Ngũ Thường là năm điều
phải hằng có khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
·

Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật.

·

Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải.

·

Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.

·

Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt rõ thiện ác, đúng sai.

·

Tín: Giữ đúng lời hứa, đáng tin cậy.

C. Tam Tòng: Tam là ba, Tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ
phải theo, bao gồm: "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"
·

Tại gia tòng phụ : tức người phụ nữ khi còn ở nhà thì phải theo cha.

·


Page 24


Nguyễn Thị Biên – K21 Cao học GDMN
Trong suốt cuộc đời làm thầy của mình, bên cạnh việc dạy chữ, bao giờ
Khổng Tử cũng chú trọng vào việc dạy người. Tư tưởng nội dung của học
thuyết mà Khổng Tử áp dụng vào giáo dục mang tính nhập thế và tích cực.
Khổng Tử đã nhận định tính chất của giáo dục là cải tạo nhân tính cho nên
ông cho rằng giáo dục có ý nghĩa rất quan trọng. Đối với Khổng Tử nhân
tính hòa lẫn giữa thiện và ác. Theo ông, thiện ác của nhân loại đều do phần
giáo dục quyết định, ông khẳng định rằng: "con người bằng nỗ lực chủ quan
của mình cũng có thể làm thay đổi cái Thiên tính ban đầu" [6, tr 31]. Ông
Muốn đạt được "Nhân" còn phải thông qua tu dưỡng theo "Lễ"; một
người nhân ái phải căn cứ vào yêu cầu của lễ để hài hòa với thế giới bên
ngoài. Khi Nhan Hồi hỏi: "Người không nói, không phải lễ không làm, nhân
ái cụ thể cần phải làm gì?". Khổng Tử đáp: "Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính,
phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động" (không phải lễ không nhìn, không phải lễ
không nghe, không phải lễ không nói, không phải lễ không làm). Lễ là lễ
nghi thể hiện các quy phạm đạo đức. Lễ mà Khổng Tử nói đến là lễ nghi và
những quy tắc đạo đức thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con
người. Tuy "Lễ" mà Khổng Tử xây dựng có từ thời nhà Chu.
Khổng Tử cũng nhấn mạnh việc học kiến thức, ông cho rằng con
người ai cũng có thể qua học tập mà trở thành người tốt và "Yêu thức kiến
thức là một cách để có được sự khôn ngoan”. Ông luôn đề cao việc học và
chính ông cũng là tấm gương học tập không mệt mỏi. Khổng Tử khẳng định
học tập là hậu thiên, là tiền đề quan trọng của việc giáo dục bởi vì suy cho
cùng thì đạo đức, tri thức là do học mà có, muốn trở thành người có ích thì
phải

học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status