Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ỉưu động tại bưu điện tỉnh tuyên quang - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
dịch vụ bưu chính viễn thông trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Trong những năm
qua, ngoài việc cung cấp các dịch vụ truyền thống như: Điện thoại cố định,
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với
nhận chuyển bưu phẩm bưu kiện, kinh doanh tem thư... Bưu Điện tỉnh Tuyên
kinh tế khu vục và toàn cầu, biếu hiện của việc hội nhập là Việt Nam đã gia
Quang đã chú trọng việc phát triển các loại hình dịch vụ mới như: Dịch vụ điện
nhập ASEAN, APEC, đã phê chuấn hiệp định thương mại song phương với
thoại di động mạng Vinaphone, Mobiphone, dịch vụ điện thoại cố định không
nhiều quốc gia vùng lãnh thổ, và gần đây nhất là việc Việt nam gia nhập WTO
dây, chuyển tiền nhanh, tiết kiệm Bưu Điện, dịch vụ chuyển phát nhanh.
và trở thành thành viễn thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất hiện nay. Một
nền kinh tế thị trường mở cửa cho phép các doanh nghiệp tự' chủ trong hoạt
Đối với các doanh nghiệp thì vấn đề hết sức quan trọng trong việc kinh
động sản xuất kinh doanh, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tự khắng định mình
doanh có hiệu quả là công tác tạo vốn, quản lý sử dụng hiệu quả nguồn vốn là
trên thị trường một cách bình đắng. Mồi doanh nghiệp đều tìm cho mình một
việc hết sức quan trọng. Đối vói một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bưu
hướng đi thích hợp với điều kiện thực tiễn của doanh nghiệp đế phát huy khả
chính viễn thông như Bưu điện tỉnh Tuyên Quang, một doanh nghiệp kinh
năng của mình nhằm đạt cao nhất những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Hội
doanh ở một địa bàn miền núi, địa hình phức tạp, địa bàn rộng thì việc nâng cao
nhập đã tạo ra nhiều cơ hội lớn cho các ngành, lĩnh vục trong nền kinh tế, nhất
hiệu quả sử dụng nguồn vốn là một việc rất quan trọng.Bản thân tôi là một sinh
là các ngành kinh tế mũi nhọn, các ngành áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến
viên chuyên ngành Tài chính Ngân hàng của Trường Đại học kinh tế Quốc dân
, trong đó có ngành Bưu chính - Viễn thông, hội nhập sẽ tạo điều kiện thuận lợi
về thực tập tại Bưu điện tỉnh Tuyên Quang, tôi đã có co hội để kết hợp những
cho ngành Bưu chính - Viễn thông trao đối, hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực
kiến thức đã học trong trường và thực tiễn tại cơ sở đế tống họp báo cáo với
về Bưu chính - Viễn thông, phát triển các dịch vụ mới của ngành. Mặt khác,

Thực
trạngtrong
hiệu quả
dụng
tài sản
động
Bưuphát triển
thêm
về bưu
chính viễn thông trong nước và mở rộng thị trường ra
Điệndịch
tỉnhvụ
Tuyên
Quang
nước ngoài.
Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam trong thời gian qua đã có những
thay đổi rất lớn về quy mô, về sự đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, phát triển
nhiều loại hình dịch vụ mới trong lĩnh vực bưu chính - viễn thông, áp dụng
công nghệ tiên tiến hiện đại, đáp ứng việc kinh doanh và phục vụ về bưu chính
viễn thông.
Bưu điện tỉnh Tuyên Quang là đơn vị hạch toán phụ thuộc Tập đoàn


CHƯƠNG I
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU
ĐỘNG
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1: Tổng quan về doanh nghiệp
1.1.1 ỉ Khải niệm và phân loại doanh nghiệp


động kinh doanh của các thành viên phải chịu thuế thu nhập cá nhân.
- Công ty: Là loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp ba loại

lợi ích: Các cố đông( chủ sở hữu), của hội đồng quản trị và của các nhà
quản lý. Theo truyền thống, cổ đông kiểm soát toàn bộ phương hướng,
chính sách và hoạt động của công ty. cố đông bầu lên hội đồng quản trị,
sau đó hội đồng quản trị lựa chọn ban quản lý. Các nhà quản lý quản lý
hoạt động của công ty theo cách thức mang lại lợi ích tốt nhất cho cố
đông. Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lý mang lại cho công
ty các ưu thế so với kinh doanh cá thể và góp vốn như: có thế dễ dàng
chyến quyền sở hữu cho cổ đông mới, sự tồn tại của công ty không phụ
thuộc vào sự thay đối số lượng cố đông, trách nhiệm của cố đông chỉ giới
hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vào công ty.
1.1.2: Tài sản lưu động của doanh nghiệp
1.1.2.1: Khái niêm , đăc điểm tài sản luu đỏng của doanh
nghiẽp
* Khái niệm tài sản lưu động
Để tiến hành hoạt động SXKD thì doanh nghiệp ngoài tư liệu lao
động còn phải có đối tượng lao động.


phẩm. Hai bộ phận này phục vụ cho quá trình dự trữ và quá trình sản xuất
sản phấm nên thường được gọi là tài sản lưu động sản xuất.
Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động chỉ tham gia vào một
chu kỳ sản xuất, đến chu kỳ sản xuất sau lại phải sử dụng đối tượng lao
động khác. Phần lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến
đế hợp thành thực thế của sản phẩm như bông thành sợi, cát thành thuỷ
tinh... Một số khác bị mất đi như các loại nhiên liệu. Bất kỳ hoạt động
SXKD nào cũng cần phải có các đổi tượng lao động.
Một doanh nghiệp, muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh,

dang.
- Tài sản lưu động lưu thông gồm: thành phẩm, hàng hoá chưa tiêu

thụ, vốn bằng tiền và các khoản phải thu, công cụ dụng cụ.
* Đặc điếm của tài sản lưu động
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các loại tài sản luu động sản
xuất và tài sản lưu động luu thông luôn vận động, thay thế và chuyến hoá
lẫn nhau đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên
tục.
Phù họp với đặc điếm đó của tài sản lưu động, vốn lưu động của doanh
nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh
doanh. Trình tự vận động của vốn lưu động được hình dung như sau:
+ Công ty mua nguyên vật liệu đế sản xuất, phần lớn những khoản
này chưa trả ngay tạo nên những khoản phải trả
+ Lao động được sử dụng đế chuyến nguyên vật liệu thành sản
phẩm cuối cùng và thông thường tiền lương không được trả ngay vào lúc
công việc được thực hiện tạo nên các khoản lương phải trả.
+ Hàng hoá thành phẩm được bán nhưng phần lớn không thu được
tiền ngay tạo nên khoản phải thu.


Giai đoạn từ H đến H': là giai đoạn sản xuất, vốn lưu động từ hình
thái
vật tư dự trữ chuyến sang hình thái vốn sản phấm dở dang và vốn sản
phẩm( H..........sản xuất...........H\
Giai đoạn từ H' đến T: là giai đoạn tiêu thụ, vón lưu động tù' hình thái
vốn thành phâm chuyến về hình thái tiền tệ ban đầu, giai đoạn này tạo
nên khoản phải thu của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động vận động qua hai
giai


theo

nguồn

hình

thành

Tài sản lưu động của doanh nghiệp được hình thành tù' nhiều nguồn
khác nhau, tuy nhiên chủ yếu tài sản lưu động đựoc hình thành từ 2 nguồn
chủ yếu
- Nguồn vốn chủ sở hữu
Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của
doanh
nghiệp bao gồm các bộ phận chủ yếu
+ Vốn góp ban đầu: Khi doanh nghiệp được thành lập bao giò'
chủ doanh nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do cổ đông
- chủ sở hữu góp. Hình thức sở hữu của doanh nghiệp quyết định tính
chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp. Đối với doanh
nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước,
chủ sở hữu của loại hình doanh nghiệp này là Nhà nước. Đối với các
doanh nghiệp tư nhân, theo luật doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải có
một số vốn ban đầu cần thiết đế xin đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Đối với công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết
định hình thành công ty, mỗi cổ đông là một chủ sở hũu của công ty và
chỉ chịu trách nhiệmhữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ, các công
ty cố phần có cách thức huy động vốn cố phần khác nhau do các công ty
doanh.



Các cố đông nắm giữ cổ phiếu thường chính là những người sở hữu
công ty, do đó họ có quyền đối với tài sản và sự phân chia tài sản hoặc
thu nhập của công ty.
- Cổ phiếu ưu tiên: Thông thường chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ
trong
tống số cổ phiếu được phát hành, cố phiếu ưu tiên có đặc điếm là nó
thường có cổ tức cố định, người chủ của cổ phiếu này có quyền được
thanh toán lãi trước các cố đông thường. Phần lớn các công ty cổ phần
quy định rõ: Công ty có nghĩa vụ trả hết sổ lợi tức chưa thanh toán của
các kỳ trước cho các cổ đông ưu tiên, sau đó mới thanh toán cho các cố
đông thường.
- Các khoản nợ phải trả
Là vốn thuộc quyền sở hữu của các chủ thế kinh tế khác, doanh
nghiệp có quyền sử dụng trong một thời gian nhất định. Đe bố sung vốn
cho quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể sử dụng nợ từ
các
nguồn: Tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, vay thông qua phát
hành trái phiếu.
+ Nguồn vốn tín dụng ngân hàng
Là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, trong quá trình hoạt
động, các doanh nghiệp thường vay ngân hàng đế đảm bảo cho nguồn
tài
chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ
vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp.
Vốn vay ngân hàng có thế phân loại theo thời hạn vay, tính chất và
mục đích sử dụng.


vốn tín dụng thương mại dưới dạng các khoản phải trả có thể chiếm tới

dần từ chiến lược trọng cung sang chiến lược trọng cầu hiện đại. Những
đòi hỏi về chất lượng, mẫu mã, giá cả, chất lượng dịch vụ ngày càng cao
hơn buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đối chính sách sản
phẩm, đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả và chất lượng cao.
Doanh nghiệp thường phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về
mức vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn. Sự tăng, giảm vốn chủ sở hữu có
tác động đáng kế tới hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong các điều
kiện kinh tế khác nhau.
Muốn phát triến bền vững, doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoán
trước được sự thay đối của môi trường đế sẵn sàng thích nghi với nó.
*

Phân

loại

căn

cứ

vào

hình

thải

biêu

hiện


- Tài sản lưu động trong khâu sản xuất

+ Giá trị dở dang dùng trong quá trình sản xuất, xây dựng hoặc
đang nằm tại các địa điếm làm việc chờ chế biến tiếp.
+ Bán thành phẩm: Là giá trị các sản phẩm dở dang đã
hoàn
thành 1 hay nhiều công đoạn chế biến nhất định.


+ vốn trong thanh toán: Gồm những khoản phải thu của khách
hàng, các khoản ứng trước cho khách hàng phát sinh trong quá trình
sản
xuất kinh doanh.
1.2.

HÌỆU quả sử dụng tài sản luư động của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh

nghiệp
Hiệu quả theo ý nghĩa chung nhất là các lợi ích kinh tế, xã hội
đạt
được tù' quá trình sản xuất kinh doanh mang lại. Hiệu quả SXKD bao
gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Một trong những yêu cầu đặt ra cho doanh nghiệp sử dụng tài sản
lưu động là phải tăng tốc độ luân chuyển tài sản lưu động. Tốc độ luân
chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm nói lên hiệu suất sử dụng tài sản
luư động cao hay thấp, tình hình tố chức các mặt công tác như mua sắm
vật tư, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp có hợp lý
không.
Mục tiêu lâu dài của mỗi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, việc

định
giá bán cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường, đẩy
mạnh
việc tiêu thụ hàng hoá tăng lợi nhuận.
Tóm lại, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác và quản lý tài sản lun động
của doanh nghiệp, đảm bảo lợi nhuận tối đa với số lượng tài sản lưu động


một cách chặt chẽ các loại tài sản lưu động và các khoản nợ ngắn hạn hầu
như là một nguyên nhân đãn đến thất bại cuối cùng của họ.
Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là chỉ tiêu chất lượng phản ánh
tống hợp những cố gắng, những biện pháp hữu hiệu về kỹ thuật, tố chức
sản xuất, thúc đấy sản xuất phát triến.Trong nền kinh tế thị trường , vấn
đề sống còn đổi với việc tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là tính
hiệu quả. Chỉ khi hoạt động kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp mới

thế tự trang trải chi phí, thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước , và
quan trọng hơn là duy trì, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là chỉ tiêu chất lượng phản ánh
tống hợp những cố gắng, những biện pháp hữu hiệu về kỹ thuật, về tố
chức sản xuất, thúc đấy sản xuất phát triến. Với số vốn hiện có, bằng các
biện pháp quản lý doanh nghiệp sẽ khai thác được triệt để khả năng vốn
có đế mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp nhiều nhất.
Tính hiệu quả của việc sử dụng tài sản lưu động được thể hiện trên
hai
khía cạnh:
Doanh nghiệp có thế sản xuất thêm một lượng sản phấm với chất
lượng tốt, giá thành hạ để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp với số vốn

Doanh thu thuần


Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu
đồng VLĐ. Khi tỷ suất lợi nhuận của VLĐ tăng lên thì chỉ tiêu này sẽ nhở
đi.
* Mức tiết kiêm VLĐ
Mức

Doanh thu thuần Thời gian 1 vòng Thời gian

tiết = kỳ phân tích X luân chuyến kỳ - vòng luân chuyến
kiệm

360

phân tích

kỳ gốc VLĐ

Doanh nghiệp càng tăng được vòng quay VLĐ thì càng có khả năng
tiết kiệm được VLĐ, hiệu quả sử dụng VLĐ càng được nâng cao
360
Thời gian 1 vòng luân chuyến VLĐ =
Số vòng quay VLĐ
Chỉ tiêu này cho biết trong khoảng thời gian bao nhiêu ngày
thì
VLĐ luân chuyển được 1 vòng, chỉ tiêu này càng nhỏ thì tốc độ lưu
chuyển VLĐ càng nhanh.
*

nghiệp càng có hiệu quả.
Doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu =

-------------------------các khoản phải thu bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đối các khoản phải thu thành
tiền
mặt, chỉ số này càng lớn thì tố độ thu hồi các khoản nợ của doanh
nghiệp
càng tốt, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn.


Để doanh nghiệp thực sự sử dụng hiệu quả TSLĐ, doanh nghiệp
cần
có kế hoạch xác định nhu cầu về tài sản lun động .Đối với mỗi doanh
nghiệp, xác định nhu cầu vốn lưu động hợp lý sẽ giúp cho doanh
nghiệp
đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Việc xác định nhu
cầu về vốn lưu động của doanh nghiệp dựa theo 2 phương pháp:
- Phương pháp trực tiếp

Căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lượng vốn của
doanh
nghiệp phải ứng ra đế dự trữ vật tư, sử dụng và tiêu thụ sản phấm đế
xác
định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp, phương pháp này được xác định
theo công thức:
Nhu cầu VLĐ


mua chịu bình quân 1 ngày


tiền mặt, các khoản phải thu....Thực tế trong quá trình sản xuất,
TSLĐ
thường chịu ảnh hưởng của các nhân tố làm thất thoát, đó là:
- Hàng hoá ứ đọng, kém phẩm chất, sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ

không được do không phù họp với nhu cầu thị trường.
- Doanh thu không bù đắp đủ chi phí kéo dài dẫn đến kinh doanh

bị
thua lồ.
- Quản lý các khoản phải thu không tốt dẫn đến vốn bị chiếm dụng.

Các nhân tố trên sẽ làm giảm sút TSLĐ, nếu doanh nghiệp không
quản lý tốt TSLĐ sẽ làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, quy mô
sản
xuất bị thu hẹp, vốn chậm luân chuyến, hiệu quả sử dụng TSLĐ thấp và
tất yếu doanh nghiệp sẽ hoạt động kém hiệu quả. Đe sử dụng hiệu quả
TSLĐ, doanh nghiệp cần phải có các biện pháp quản lý TSLĐ hợp lý,
thích hợp đế nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ, đó là
- Quản lý dự trữ
Dự trữ là cần thiết đế đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh
của
doanh nghiệp được tiến hành bình thường, tuy nhiên dự trữ không trực
tiếp tạo ra lợi nhuận và vì thế quản lý dự trữ tốt sẽ giúp cho sản xuất
của
doanh nghiệp không bị gián đoạn, không bị thiếu sản phấm hàng hoá
đồng thời chi phí dự trữ là thấp nhất. Đe tối thiểu hoá chi phí tồn kho

hưởng đến các khoản phải thu, muốn vậy doanh nghiệp cần phân loại



Doanh nghiệp có các nhà quản lý có trình độ, được đào tạo,

khả năng phân tích đánh giá dự báo đế sử lý kịp thời các vấn đề nảy sinh
.
Việc doanh nghiệp bổ trí lao động phù hợp với chức năng nhiệm vụ sẽ
giúp họ phát huy năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong công tác quản
lý sử dụng tài sản lun động, con người đóng vai trò nhân tố ảnh hưởng
quan trọng, con người là chủ thể của mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh,
họ là người ra các quyết định quản lý, vận hành máy móc tạo ra sản
phấm, do đó vấn đề con người luôn là then chốt quyết định các vấn đề
khác.
- Do trình độ quản lý: Thế hiện ở trình độ quản lý sản xuất và quản

lý tài chính
+ Quản lý sản xuất: Việc bố trí lực lượng lao động phù hợp với
chức năng nhiệm vụ sẽ giúp người lao động phát huy năng lực của bản
thân họ và hoàn thành tốt nhiệm vụ.
+ Quản lý tài chính: xác định đúng nhu cầu VLĐ, bố trí co cấu
vốn
hợp lý không đế vốn ứ đọng dư thừa, phân tích đánh giá, dự báo chính
xác các chính sách về tiền mặt, dự trữ, chính sách về tín dụng thương
mại
.. đế huy động vốn đủ cho sản xuất kinh doanh.
- Việc lựa chọn phương án đầu tư: Là nhân tố cơ bản ảnh hưởng


Quang
Bưu Điện Tỉnh Tuyên Quang là một thành viên trực thuộc Tập đoàn Bưu
Chính - Viễn thông Việt Nam, thực hiện hạch toán phụ thuộc với Tập đoàn
Bưu chính - Viễn thông Việt Nam.
Trụ sở: Phường Phan Thiết - TX Tuyên Quang
Điện thoại: 027.922889
Fax: 027.922567
Sổ đăng ký kinh doanh: 1516000015
Ngày 22 tháng 08 năm 1945, Sở dây thép của chế độ cũ đã được giao
cho đại diện Việt minh, đây là cơ sở đầu tiên của Bưu Điện Tỉnh Tuyên
Quang sau này, nhiệm vụ chủ yếu lúc đó là tố chức mạng lưới điện, đường
thư phục vụ hoạt động của Chính quyền cách mạng, với tên gọi là Ty Bưu
Điện Tuyên Quang, trực thuộc Nha Giám đốc Bắc phần.
Kỳ họp Quốc hội thứ 2 khoá V, tháng 4 năm 1976 quyết định sát nhập
tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang thành tỉnh Hà Tuyên, lấy thị xã Hà
Giang làm tỉnh ly, Bưu Điện tỉnh Tuyên Quang và Bưu Điện tỉnh Hà Giang
sát nhập, lấy tên là Bưu Điện tỉnh Hà Tuyên.
Ngày 2 tháng 10 năm 1987, Tổng cục Bưu Điện ra quyết định số


Khối sản xuất gồm có 15 Bưu Điện huyện thị, Bưu Điện hệ 1 và 3
Công ty:
Công ty Điện báo - Điện thoại
Công ty Bưu chính - Phát hành báo chí
Công ty xây lắp dịch vụ kỹ thuật Bưu điện
Nghị định số 115/HĐBT ngày 7 tháng 4 năm 1990 của Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng chuyến Tống cục Bưu Điện thành Tống Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, xoá bỏ bao
cấp, chuyến sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, Bưu
Điện tỉnh Tuyên Quang đối mới tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất, phân
cấp quản lý tài chính cho cơ sở, thực hiện giao kế hoạch cho các đơn vị sản

chính


Phòng hành chính quản trị

bộ
-

-

Lao

Thống
-

Viễn
-

Xây

động


-

thông
dựng

-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status