Hoàn thiện công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện yên châu, tỉnh sơn la - Pdf 33

Đề tài:"Hoàn thiện công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội
huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La."

MỤC LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KH
KHH
KTXH
Bộ KH&ĐT
Sở KH&ĐT
HĐND
UBND
TD&ĐG
CHXHCN
CHLB
AN-QP
TCKH
BQL
VDP
PRA
ĐBKK
SWOT
WTO
XĐGN
GTZ

Kế hoạch
Kế hoạch hóa
Kinh tế-xã hội

1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước, công
tác kế hoạch cũng từng bước được hoàn thiện, góp phần tích cực vào việc hoàn
thành thắng lợi các mục tiêu trong các Chiến lược và Kế hoạch phát triển KTXH đề
ra. Ngày nay, trước xu thế hội nhập hội nhập và sự biến động của cơ chế thị trường
thì vai trò Nhà nước càng thể hiện quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô và định
hướng phát triển cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để tăng
cường hơn nữa vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện nay, thì việc
đổi mới, hoàn thiện các cơ chế, chính sách là một điều tất yếu. Trong đó, kế hoạch
là một trong những công cụ quản lý, điều hành của Nhà nước nên việc đổi mới,
hoàn thiện công tác lập KH là một việc hết sức cần thiết và cấp bách.
Đối với các địa phương hoàn thiện công tác lập KH phát triển KTXH đang là
một trong những trọng tâm của công tác cải cách hành chính. Bởi lẽ, chỉ khi công
tác này được đổi mới, hoàn thiện sẽ giúp địa phương có công cụ điều hành, quản lý
đời sống KTXH trên địa bàn một cách hiệu quả. Bên cạch đó,việc hoàn thiện công
tác xây dựng KH phát triển KTXH là tiền đề để huy động một cách có hiệu quả
nguồn lực của toàn xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. Vai trò của
công tác KH đã và đang được tiếp tục khẳng định.
Yên Châu là một trong những địa phương được triển khai nhiều hoạt động
hoàn thiện công tác lập KH phát triển KTXH. Hoạt động tham vấn KH phát triển
KTXH 5 năm, hàng năm của huyện sớm được triển khai trên toàn địa bàn của
huyện, trong khuân khổ dự án “ Dự án phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà”,Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hợp tác kỹ thuật CHXHCN Việt Nam-Liên
bang Đức tài trợ, đồng thời dự án cũng mở lớp tập huấn hỗ trợ các cán bộ phòng
Tài chính-Kế hoạch huyện về công tác lập KH từ thôn bản, đánh giá nông thôn có
người dân tham gia. Đây là những tiền đề quan trọng để huyện có thể tiếp tục triển

KTXH cấp huyện.
• Phạm vi không gian: Nghiên cứu công tác lập kế hoạch huyện Yên Châu,
tỉnh Sơn La.
• Phạm vi thời gian: Tiến hành nghiên cứu công tác lập KH phát triển KTXH 5
năm (2006-2010) và công tác lập KH phát triển KTXH hàng năm 2007,2008, 2009
3. Mục đích của việc nghiên cứu
Chuyên đề tập trung làm rõ cơ sở lý luận về KH phát triển KTXH trong nền
kinh tế thị trường và sự cần thiết đổi mới công tác lập KH phát triển KTXH cấp
huyện hiện nay. Trên cơ sở đó, chuyên đề đi sâu tìm hiểu thực trạng công tác lập
KH phát triển KTXH tại huyện Yên Châu hiện nay. Từ đó, đề xuất các giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác lập KH phát triển KTXH cấp huyện ở Yên Châu.


3
Kết cấu của chuyên đề:
Chương I: Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác lập kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội ở huyện Yên Châu-Sơn La
Chương II: Đánh giá về công tác lập kế hoạch phát triển ở huyện Yên ChâuSơn La
Chương III: Hoàn thiện công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện
Yên Châu Sơn La (giai đoạn 2011-2015)

CHƯƠNG I
SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở
HUYỆN YÊN CHÂU – SƠN LA
1.1. Kế hoạch trong nền kinh tế thị trường
1.1 .1 Khái niệm và vai trò của kế hoạch trong nền kinh tế thị trường

1.1.1.1 Khái niệm về kế hoạch
Nhà nước có một vai trò chính đáng và thường xuyên trong các nền kinh tế

lý của nhà nước. Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường tồn tại như tất
yếu khách quan, xuất phát từ những đòi hỏi thực tế của xã hội muốn có một cơ chế
điều tiết bổ trợ cho cơ chế thị trường, nhằm vừa tạo điều kiện cho cơ chế thị trường
phát huy những mặt mạnh của mình, vừa hạn chế hậu quả khắc nghiệt mà cơ chế đó
tạo ra trong nền kinh tế thị trường, kế hoạch có vai trò:
● Kế hoạch tồn tại với tư cách là công cụ quản lý của nhà nước trong mọi
nền kinh tế.
* Kế hoạch là công cụ chủ yếu trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung
Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế mệnh lệnh là các cơ sơ kinh tế được xây
dựng và hoàn thiện trên chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nhà
nước chuyên chính vô sản không những đóng vai trò điều hành chính trị mà còn có
khả năng điều tiết và quản lý toàn diện, trực tiếp các vấn đề về kinh tế. Kế hoạch
hóa tập trung thực chất là sự khống chế trực tiếp những hoạt động kinh tế bằng cách
tập trung phân bổ nguồn lực thông qua các quyết định mang tính mệnh lệnh phát ra
từ trung ương. Các mục tiêu cụ thể được hoạch định trước bởi các nhà kế hoạch ở
trung ương đã tạo nên cơ sở cho một kế hoạch kinh tế quốc dân toàn diện và đầy đủ,
và được chuyển xuống cho cấp dưới theo tuyến dọc. Quá trình triển khai thực hiện
kế hoạch được tiến hành trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh cấp trên giao cho
cấp dưới, phương thức cấp phát-giao nộp vốn, vật tư, lao động, sản phẩm hàng hóa
và các chỉ thị mệnh lệnh mang tính hành chính. Như vậy, kế hoạch là công cụ chủ
yếu trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
* Kế hoạch là công cụ định hướng phát triển trong nền kinh tế thị trường


5
Đặc trưng cơ bản của các nước có nền kinh tế thị trường là tính chất đa thành
phần kinh tế, sở hữu tư nhân dưới nhiều hình thức khác nhau thống trị nền kinh tế.
Kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường là kế hoạch hóa định hướng phát triển,
trong đó các mục tiêu và chỉ tiêu được xác định mang tính định hướng, dự báo, nó
chỉ thể hiện trong một số lĩnh vực chủ yếu, được ưu tiên trong từng giai đoạn phát

6
nước đối với những hoạt động kinh tế-xã hội thông qua quá trình đưa ra những
quyết định pháp lệnh phát ra từ Trung ương. Các chỉ tiêu KH được xác định bởi các
nhà KH Trung ương, tạo nên một KH kinh tế quốc dân toàn diện và đầy đủ. Nguồn
nhân lực, vật tư chủ yếu và tài chính không phải được phân phối theo giá thị trường
và cung cầu mà phân phối theo các nhu cầu của KH tổng thể, theo những quyết định
hành chính của các cấp, lãnh đạo. Như vậy, đặc trưng của KH trong cơ chế KHH
tập trung là mang tính chất cưỡng chế trực tiếp.
Trong nền kinh tế thị trường, KH là thể hiện sự nỗ lực có ý thức của Chính
phủ trong quá trình thực hiện sự can thiệp ở tầm vĩ mô của nền kinh tế quốc dân,
trên cơ sở chủ động thiết lập mối quan hệ giữa khả năng và mục đích nhằm đạt
được mục tiêu sử dụng có hiệu quả nhất những tiềm năng hiện có. KH trong nền
kinh tế thị trường được thể hiện ở các phương án lựa chọn, sắp xếp, khai thác, huy
động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực cho phép để đạt được kết quả cao nhất. Các
chỉ tiêu đặt ra trong KH là những định hướng phát triển một số lĩnh vực chủ yếu và
cách thức tác động của Chính phủ mang tính gián tiếp thông qua các chính sách và
công cụ của chính sách điều tiết vĩ mô. Như vậy, bản chất của KHH phát triển trong
nền kinh tế thị trường là tính thuyết phục gián tiếp.
Từ sự phân tích trên ta có thể tóm tắt sự khác nhau về bản chất của kế hoạch
trong cơ chế KHH tập trung và trong nền kinh tế thị trường. (Phụ lục 1- So sánh
bản chất của KH trong cơ chế KHH tập trung và trong nền kinh tế thị trường)
1.1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu
Hệ thống chỉ tiêu trong KHPT là thước đo nhiệm vụ và nội dung phát triển
KTXH của đất nước trong thời kỳ KH và được sử dụng để thực hiện hành vi điều
tiết vĩ mô của nhà nước. Do có sự khác nhau về bản chất của kế hoạch trong cơ chế
KHH tập trung và trong nền kinh tế thị trường nên hệ thống chỉ tiêu kế hoạch trong
hai cơ chế cũng có sự khác nhau cả về hình thức và bản chất.
● Hệ thống chỉ tiêu KH trong cơ chế KHH tập trung có đặc điểm:
- Hệ thống chỉ tiêu mang tính pháp lệnh. Trong cơ chế KHH tập trung, vấn đề
quan trọng nhất là hình thành hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh.

những chính sách huy động, khai thác các nguồn lực đầu vào. Đây là phương pháp
đi từ mục tiêu để cân đối đầu vào nên khi lập kế hoạch sẽ không bị phụ thuộc hoàn
toàn vào những nguồn lực sẵn có mà tìm cách huy động, khai thác thêm các nguồn
lực khác.
- Với cách lập kế hoạch theo kiểu mới này sẽ tạo ra tính tích cực. giúp địa
phương không những có thể thực hiện được nhũng mục tiêu mong muốn mà còn có
thể tận dụng một cách tối đa mọi khả năng để phát triển.
● Phương pháp lập kế hoạch dựa vào kết quả (mục tiêu mong muốn)
Kế hoạch hóa dựa trên kết quả là phương pháp kế hoạch tiên tiến, hiện đại, có
những ưu điểm chủ yếu:
- Khi sử dụng phương pháp kế hoạch dựa vào kết quả thì buộc các nhà lập kế
hoạch phải nghĩ tới các giải pháp nhằm đạt được kết quả đã định và bản kế hoạch sẽ


8
mạng tính hành động chứ không chỉ đơn thuần là vạch ra kế hoạch hoạt động hay kế
hoạch công tác.
- Nâng cao trách nhiệm của các đối tượng tham gia thực hiện kế hoạch hoạt
động trong việc tổ chức các hoạt động bằng cách so sánh kết quả đạt được với kết
quả dự kiến thông qua giám sát, đánh giá, báo cáo, và điều chỉnh thường xuyên hoạt
động nhằm đạt được các mục tiêu và chỉ tiêu kế hoạch.
- Tạo ra sự thống nhất trong hệ thống kế hoạch thông qua kết quả thực hiện
mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch, đồng thời định hướng các hoạt động từ khâu xây dựng
kế hoạch đến tổ chức thực hiện và theo dõi đánh giá.
- Bảo đảm tính hiệu quả của kế hoạch thông qua việc kiểm tra, giám sát, đánh
giá kết quả đạt được so với kết quả dự kiến.
- Bảo đảm chính xác, trung thực và chặt chẽ giữa lập kế hoạch và thực hiện kế
hoạch thông qua các kết quả với chỉ số kiểm định đúng đắn. Phương pháp kế hoạch
hóa dựa trên kết quả cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát và
đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch.

thể từng sản phẩm, từng mặt hằng đến từng đơn vị.
Quá trình xây dựng như vậy thường bị chi phối bởi cả những mong muốn chủ
quan của các cấp lãnh đạo và những người xây dựng KH. Trong nhiều trường hợp,
KH thiếu tính khách quan và mang tính áp đặt, không dựa theo nhu cầu cụ thể từng
ngành, từng địa phương.
Trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay: được đổi mới dựa trên nền tảng KH
phải xây dựng phải phù hợp với điều kiện của từng địa phương hoặc từng ngành.
KH được xây dựng dựa trên cơ sở tình hình thực tế và khả năng thực hiện, mang
tính định hướng, không áp đặt. KH phải huy động được nhiều nguồn lực của nhiều
thành phần để thực hiện các mục tiêu đặt ra, điều tiết, khắc phục các khiếm khuyết
của thị trường. Do vậy, quy trình KH phải được xây dựng ngày càng mở, có sự
tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp và các thành phần kinh tế. (Phụ lục 4, Bảng so
sánh sự khác biệt về quy trình lập kế hoạch trong cơ chế KHH tập trung và cơ chế
kinh tế thị trường)
1.1.3 Các cấp độ lập kế hoạch ở Việt Nam
Bộ máy quản lý kế hoạch của Việt Nam được phân chia thành 3 nhóm: cơ quan
kế hoạch trung ương, các bộ phận lập kế hoạch của các bộ ngành và cơ quan chức
năng, các đơn vị lập kế hoạch của địa phương.
● Cơ quan kế hoạch hóa quốc gia (Bộ KHĐT)
Bộ KH ĐT là cơ quan tham mưu cho Thủ tướng chính phủ và đảm nhận các
chức năng sau đây:
- Là cơ quan tổng hợp về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch 5 năm, kế hoạch
hàng năm phát triển kinh tế xã hội chung của cả nước.
- Tham mưu tổng hợp về cơ chế, chính sách và luật pháp có liên quan đến


10
quản lý kinh tế chung và một số lĩnh vực cụ thể như: đầu tư trong và ngoài nước,
đấu thầu, tổ chức đăng ký kinh doanh, quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc
phạm vi quản lý của Bộ.

dẫn). Theo quy trình này, cấp KH trên sẽ gửi hướng dẫn lập xuống cho cấp dưới,


11
trên cơ sở đó, cấp dưới xây dựng KH của mình và gửi lên trên. Sau khi tổng hợp và
phê duyệt, cấp trên sẽ giao chỉ tiêu kế hoạch xuống cấp dưới thực hiện. Đây là quy
trình lập KH mang tính chất của thời kỳ bao cấp, nặng về việc áp đặt mục tiêu
nhiệm vụ từ trên xuống. Mặc dù trong thời gian gần đây, số chỉ tiêu pháp lệnh do
cấp trên giao được chuyển gần hết sang chỉ tiêu hướng dẫn, nhưng quy trình này
vẫn mang nặng hình thức thiếu đi tính thực tiễn.


12

Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy KHH ở Việt Nam
Quốc hội
Kế
hoạch
cấp
Trung
Ương

Chính Phủ

Nguồn: PGS.TS Ngô Thắng Lợi - Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển
Bộ KH&ĐT
(Trang 75) – Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân
1.2. Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế
Kếxã hội ở huyện
Châu

chính sách hợp lý dựa trên cơ sở sử dụng tổng hợp những nguồn lực địa phương
nhằm phát hiệu quả tổng thể KT-XH, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở hạ
tầng kinh tế kỹ thuật, xã hội và bảo vệ môi trường.
KH phát triển KTXH có vai trò điều chỉnh, điều tiết sự phát triển giữa các
vùng, các tầng lớp dân cư, các thành phần kinh tế nhằm phát huy lợi thế của các
vùng, các thành phần kinh tế, đồng thời điều chỉnh để giảm bớt sự chênh lệch giữa
các vùng, các tầng lớp dân cư tạo điều kiện phát triển kinh tế-xã hội lành mạnh của
địa phương.
- Định hướng PTKT-XH của huyện. KH cấp huyện đưa ra một hệ thống
mục tiêu phát triển vĩ mô về kinh tế-xã hội trên địa bàn huyện, xây dựng các dự án,


13
các chương trình, tìm các giải pháp và các phương án thực hiện, dự báo khả năng,
phương hướng phát triển, xác định các cân đối lớn… nhằm thực hiện chức năng dẫn
dắt, định hướng phát triển, xử lý kịp thời các mất cân đối xuất hiện trong nền kinh
tế thị trường, đồng thời tạo đòn bẩy cần thiết, khuyến khích và hỗ trợ các thành
phần kinh tế cùng thực hiện vì mục tiêu chung của địa phương.
- Kiểm tra, giám sát hoạt động KT-XH của huyện. KH cấp huyện thường
xuyên theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện tiến độ kế hoạch và tuân thủ các cơ chế,
thể chế, chính sách hiện hành áp dụng trong thời kỳ kế hoạch.Đánh giá kết quả của
việc thực hiện các chính sách, mục tiêu đặt ra. Phân tích hiệu quả tài chính. hiệu quả
kinh tế-xã hội bảo đảm các luận cứ quan trọng cho việc xây dựng các kế hoạch của
thời kỳ tiếp theo.
Tóm lại, xuất phát từ chức năng là một trong những công cụ quản lý quan
trọng của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương và vai trò của kế
hoạch đã được khẳng định như trên nên kế hoạch trở thành điều kiện tiền đề để
tăng cường hiệu quả quản lý của nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của
địa phương.
1.2.2 Các bộ phận cấu thành hệ thống kế hoạch cấp huyện

cơ chế mới. Kế hoạch phát triển KTXH là một trong những công cụ quản lý Nhà
nước đã có những hoàn thiện mạnh mẽ trong thời kỳ quá độ này. Tuy nhiên, trong
nội dung của KH phát triển quốc gia nói chung và KH phát triển KTXH cấp huyện
nói riêng vẫn còn mang nặng nhiều tính chất kế hoạch trong cơ chế kế hoạch hóa
tập trung trước đây. Điều đó cho thấy công tác lập KH phát triển KTXH ở cấp
huyện vẫn còn những hạn chế:
Thứ nhất, nhận thức về việc lập kế hoạch cũng như vai trò, vị trí của kế
hoạch cấp huyện còn chưa đúng đắn. Trên thực tế hiện nay, thì nhận thức về công
tác lập kế hoạch phát triển KTXH ở cấp huyện chỉ thay đổi về mặt hình thức so với
công tác kế hoạch trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, còn về nội dung thì vẫn duy
trì ở phương thức lập kế hoạch trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây.Xét
một cách toàn diện thì vai trò và vị trí của kế hoạch cấp huyện chưa được đặt đúng
chỗ, nhận thức về kế hoạch chưa đúng hay đúng mà chưa đủ nên chính quyền cấp
huyện vẫn chưa thực sự sử dụng công cụ kế hoạch, chưa thực sự coi đây là một
công cụ quan trọng giúp cho viêc điều hành quản lý của chính quyền cấp huyện trở
nên hiệu quả.
Thứ hai, việc lập kế hoạch chưa thực sự làm cho kế hoạch gắn với thị trường.
Các căn cứ cho việc lập kế hoạch chưa xuất phát từ cơ sở đánh giá đúng thực trạng
phát triển KTXH của địa phương, các định hướng phát triển chưa dựa trên sự nắm
bắt quy luật, nắm bắt nhu cầu một cách khách quan. Các căn cứ chủ yếu cho việc
lập kế hoạch ở huyện hiện nay chủ yếu xuất phát từ yêu cầu kế hoạch của cấp trên.
Thứ ba, công tác lập kế hoạch cấp huyện hiện nay vẫn còn mang tính chất mệnh
lệnh. Đây là một trong những tồn tại lớn nhất mà nền kinh tế tập trung bao cấp để lại.
Trong đó, các mục tiêu, chỉ tiêu chính mang tính áp đặt và chịu sự chi phối của nhóm


15
cán bộ lập kế hoạch và sự chỉ đạo của cá nhân những người lãnh đạo mà thiếu đi sự
tham vấn của cộng đồng. Bệnh sính thành tích cũng là nguyên nhân làm cho những
mục tiêu mang tính chủ quan, thiếu tính khả thi. Cũng như cơ sở chính cho việc lập kế

phổ biến trong cả nước nói chung và của huyện Yên Châu nói riêng. Bởi vì do sự


16
thay đổi trong công tác lập kế hoạch chưa thực sự diễn ra đồng bộ, toàn diện,
thống nhất về phương pháp, nội dung, quy trình. Chính vì những hạn chế này đã
làm cho kế hoạch của huyện đã không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế hiện
nay, làm cho vai trò của kế hoạch bị mờ nhạt. Để tiếp tục giữ vững và tăng cường
hơn nữa vai trò của kế hoạch trong điều kiện hiên nay chúng ta cần phải hoàn thiện
công tác lập KH phát triển KTXH của huyện Yên Châu – Sơn La.
1.2.4 Các yêu cầu của lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp huyện
Lập KH là một trong những công cụ quản lý quan trọng của các cấp chính
quyền từ trung ương tới địa phương. Lập KH tốt là điều kiện tiền đề để tăng cường
hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. Vai trò của
công tác lập kế hoạch đã và đang tiếp tục được khẳng định. Tuy nhiên, khi nền kinh
tế chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường thì công tác lập kế
hoạch của huyện cũng cần có những yêu cầu mới đặt ra nhằm hoàn thiện hơn nữa
vai trò mình.
Thứ nhất, cần thay đổi tư duy của chính quyền cấp huyện, cũng như những
bên hữu quan và cộng đồng dân cư về công tác lập KH của địa phương. Kế hoạch
hóa là một công cụ chủ yếu của công tác quản lý. Trong điều kiện chuyển đổi nền
kinh tế sang cơ chế thị trường hiện nay hiện nay ở nước ta thì công tác kế hoạch hóa
dường như bị xem nhẹ. Mặc dù, trong thời gian gần đây đã có sự chú ý đến, song
công tác lập kế hoạch phát triển KTXH vẫn chưa đáp ứng nhu cầu và mang nặng
tính chất trong cơ chế cũ. Như vậy. một vấn đề đặt ra là cần phải đổi mới tư duy và
nhận thức trong lập kế hoạch. Đổi mới tư duy kế hoạch thực chất là thay đổi nhận
thức về vai trò, chức năng, nhiệm vụ, cách thức tiến hành lập kế hoạch cho phù hợp
với tình hình thực tiễn phát triển KTXH của địa phương. Thay đổi tư duy kế hoạch
là tiền đề cho đổi mới nội dung, phương pháp, quy trình cũng như cách thức tổ
chức, điều hành kế hoạch. Từ đó, mới có thể nâng cao vai trò quan trọng của kế

trường. KH phát triển KTXH của huyện được xây dựng hài hòa giữa các mục tiêu
kinh tế, xã hội và môi trường. Phát triển kinh tế nhưng vẫn phải quan tâm đến các
vấn đề về xã hội như xóa đói giảm nghèo, giả quyết các vấn đề về giới và dân tộc…
và đảm bảo việc khai thác, sử dụng tài nguyên không chỉ phục vụ cho thế hệ hôm
nay, mà phải đảm bảo sự phát triển bền vững cho các thế hệ mai sau.
Thứ năm, công tác lập KH ở huyện hiện nay cần phải có sự tham gia của các
bên hữu quan và cộng đồng dân cư vào các bước của quá trình lập KH. Xây dựng
kế hoạch có sự tham gia của các bên hữu quan là phương pháp đưa các đối tượng,
các bên liên quan trong công tác kế hoạch hóa, tham gia vào một hoặc nhiều công
đoạn trong cả quy trình xây dựng, thực hiện và giám sát kế hoạch. Việc tham gia
các bên hữu quan trong công tác kế hoạch hóa tạo ra sự đồng thuận cao trong xã
hội, giữa các ngành, các cấp, tạo thuận lợi cho quá trình triển khai thực hiện và khi
đó bản kế hoạch được xây dựng lên mới có tính khả thi cao nhất.
Thứ sáu, trong quá trình xây dựng KH ở huyện cần phải gắn liền với việc đề
xuất các giải pháp, chính sách thực hiện, phải đảm bảo tính chủ động, sáng tạo, linh


18
hoạt. KH phát triển KTXH của huyện được xây dựng để thực hiện các mục tiêu phát
triển của huyện và trong nền kinh tế thị thị trường hiện nay, mọi yếu tố luôn luôn biến
động không ngừng. Do vậy, KH được xây dựng vận phải vận dụng sáng tạo những
điểm mạnh phù hợp với điều kiện của địa phương và sự biến động khôn lường, không
rập khuân máy móc, phải luôn đảm bảo tính linh hoạt với mọi điều kiện để sát thực tế
hơn, bản kế hoạch cũng trở nên khả thi hơn và đạt kết quả cao nhất.
Tóm lại, hoàn thiện công tác lập kế hoạch ở huyện là một công việc gắn liền
với tiến trình phát triển kinh tế-xã hội. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện
nay, những yêu cầu hoàn thiện công tác lập kế hoạch ở cấp huyện là cấp thiết. Chỉ
khi nào đáp ứng được các yêu cầu đó thì KH phát triển KTXH cấp huyện mới trở
nên là một công cụ quản lý hữu hiệu đối với hoạt động quản lý Nhà nước của chính
quyền địa phương.

một yêu cầu tất yếu góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao
đời sống xã hội của người dân.
Qua những phân tích về vị trí, vai trò của hệ thống KH phát triển KTXH cấp
huyện, những hạn chế trong lập KH phát triển KTXH cấp huyện nói chung, qua đó
ta thấy được những hạn chế trong lập kế hoạch phát triển KTXH huyện Yên Châu –
Sơn La, cụ thể:
- Chất lượng của các bản kế hoạch vẫn còn thấp. Nội dung của được thực hiện
theo những khuâm mẫu nhất định.
- Các bản kế hoạch thiếu tính khả thi trong thực hiện, thiếu những thông tin dự
báo, định hướng.
- Quá trình xây dựng thiếu đi tính sát thực.
- Quá trình tham vấn cho bản kế hoạch còn được đảm bảo được yêu cầu.
- Hoạt động tổ chức và giám sát thực hiện yếu không đáp ứng được yêu cầu
trong xây dựng và thực hiện kế hoạch.
Từ những hạn chế của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Yên Châu, ta thấy
được việc hoàn thiện công tác lập kế hoạch ở huyện Yên Châu là một yêu cầu tất yếu.

CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁ VỀ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HUYỆN YÊN CHÂU – SƠN LA
2.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Yên Châu –Sơn La(giai
đoạn 2000-2009)
2.1.1 Điều kiện tự nhiên , tài nguyên thiên nhiên
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Yên châu là một huyện miền núi, biên giới của tỉnh Sơn la, nằm trên trục Quốc
lộ 6, cách Hà nội 256 km theo hướng tây bắc, cách thị xã Sơn la 64 km về phía
đông, là khu vực đệm giữa 2 cao nguyên Nà sản và Mộc châu, phía đông giáp


20

Lào) khô và nóng, gió thường thổi từ tháng 3 đến tháng 5.
● Đất đai


21
Gồm nhiều loại đất Ferlit phát triển trên các loại đá nên phụ thuộc nhiều vào
tính chất của đá mẹ, do nguồn gốc hình thành chia ra làm 3 loại chính:
+ Đất núi
+ Đất nhiệt đới ẩm
+ Đất ruộng.
Tài nguyên đất là kết quả cuả quá trình phù sa suối dốc tụ, loại đất có độ dốc
dưới 25

0

chiếm khoảng 20%, đất có tầng dầy 30 cm chiếm 45% trong tổng diện

tích. Thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt trung bình.
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 84.367 ha.
Bảng1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Yên Châu-Sơn La
1
2
3
4
5
6

Đất đang sản xuất Nông nghiệp:
Đất đang sản xuất Lâm nghiệp:
Đất dân cư nông thôn:

hết tiềm năng của nguồn nước, chủ yếu là phục vụ cho sinh hoạt và nuôi cá lồng.
Hệ thống suối Vạt bắt nguồn từ dãy núi Khâu Cạn thuộc xã Chiềng Đông và các
nhóm suối khác như: Huổi hịt, Huổi Lưu, Huổi Tủm. . . nhập vào trữ lượng nước
không nhiều nhưng đây là nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
và sinh hoạt của vùng dân cư.
* Vùng cao biên giới: Xã Chiềng On, Yên Sơn, Phiêng Khoài có hệ thống suối
Nậm Pàn chảy theo hướng tây bắc đổ ra sông Đà (huyện Mai Sơn), suối này chỉ
phục vụ một phần ít cho xã Chiềng On, Yên Sơn, Phiêng Khoài và tập trung chủ
yếu cho công trình thuỷ lợi Chờ Lồng.
Nguồn nước ngầm không nhiều, chưa tận dụng và khai thác hết tiềm năng để
phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất.


22
● Tài nguyên rừng
Tổng diện tích khoanh nuôi bảo vệ năm 1996 là 12.949 ha đến năm 2005 tăng
lên 22.689 ha. Năm 1996 trồng mới được 373 ha, năm 2005 trồng được 344 ha bằng
nguồn vốn của dự án 661 và dự án GTZ. Trữ lượng lâm sản ít, chủ yếu là rừng
nghèo, độ che phủ của rừng năm 2005 đạt 43%.
● Tài nguyên khoáng sản
Tiềm năng khoáng sản của huyện có, nhưng việc đầu tư thăm dò và khai thác
chưa được đầu tư thoả đáng. Hiện nay có 2 mỏ than: Than bùn Mường Lựm, than
Tô Pang và mỏ Ăngtimon ở xã Chiêng Tương.
Than bùn Mường Lựm có trữ lượng khoảng 1.000 vạn tấn, có thể khai thác phục
vụ cho ngành công nghiệp và sản xuất phân vi sinh; mỏ than Tô Pang có trữ lượng
khoảng 100.000 tấn, hiện nay đang được khai thác, song sản lượng khai thác đạt thấp;
Mỏ Ăngtimon có trữ lượng khoảng 20 ngàn tấn, chưa được đầu tư khai thác.
2.1.1.4 Nguồn nhân lực
Ngoài yếu tố tự nhiên thuận lợi cho sự nghiệp phát triển KT-XH của huyện,
Yên Châu còn có nguồn lao động dồi dào:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status