Một số yếu tố thuộc môi trường sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố thái nguyên, thực trạng và giải pháp phát triển - Pdf 33

LuËn v¨n tèt nghiÖp

NguyÔn ThÞ Thu H»ng

PHẦN MỞ ĐẦU
Kinh doanh trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi một mặt các doanh nghiệp
phải thông qua các quan hệ cung cầu, cạnh tranh, giá cả thị trường để có
căn cứ khách quan khi quyết định tối ưu ba vấn đề kinh tế cơ bản: Sản
xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? mặt khác các doanh
nghiệp muốn quyết định được tối ưu ba vấn đề kinh tế cơ bản đó còn
phải căn cứ vào các giới hạn cho phép của môi trường bên ngoài doanh
nghiệp đã xác định như môi trường chính trị, kinh tế, kỹ thuật, văn hoá,
xã hội giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, chính sách chế độ và môi
trường kinh doanh nội bộ DN. Nói cách khác là DN phải căn cứ vào môi
trường vĩ mô của Nhà nước và môi trường vi mô của DN.
Trong báo cáo tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương
khoá VII, Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đã nhấn mạnh “Phát triển các
loại hình doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ với công nghệ tiên tiến, vốn
đầu tư ít, suất sinh lời cao thời gian thu hồi vốn nhanh với phương châm
lấy ngắn nuôi dài” (Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khoá VII,
trang 8). Với đường lối đổi mới kinh tế và chủ trương phát triển nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa
mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho mục tiêu CNH - HĐH, trong
giai đoạn 1990 - 2000 DN vừa và nhỏ đã có bước phát triển đáng kể.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát
triển kinh tế và giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội. Tuy nhiên từ năm
1996 cho đến nay, do nhiều nguyên nhân các DN vừa và nhỏ Việt Nam
đã gặp nhiều khó khăn, sản xuất chững lại, sức mua và thị trường giảm




LuËn v¨n tèt nghiÖp

NguyÔn ThÞ Thu H»ng

Tác giải xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo TS Trần
Việt Lâm người đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ tác giả hoàn thành Luận văn
này. Đồng thời tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo
Trung tâm đào tạo QTKDTH, những người đã truyền đạt cho tác giả
những kiến thức quý báu trong thời gian học tập tại trung tâm.
Do còn hạn chế về thời gian, kiến thức, số liệu thực tế nên Luận
văn không thể tránh khỏi những hạn chế, sai sót. Tác giả kính mong
nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo.
Hà Nội ngày 26 tháng 04 năm 2001
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Hằng


LuËn v¨n tèt nghiÖp

NguyÔn ThÞ Thu H»ng

CHƯƠNG I

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1. Khái niệm chung về doanh nghiệp
Doanh nghiệp là đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân
nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, trao đổi hàng hoá và

bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, nó
thường chỉ sử dụng làm cơ sở để tham khảo, kiểm chứng mà thường ít
được sử dụng để phân loại trong thực tế.
Nhóm tiêu chí định lượng có thể sử dụng các tiêu chí như số lao
động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. Trong đó:
- Số lao động có thể là lao động trung bình trong danh sách, lao
động thường xuyên, lao động thực tế.
- Tài sản hoặc vốn có thể dùng tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản
(hay vốn cố định), giá trị tài sản còn lại.
- Doanh thu có thể là tổng doanh thu trong năm, tổng giá trị gia
tăng trong năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này).
Trong tiêu chí định lượng có 3 quan điểm thường được sử dụng là:
2.1. Quan điểm 1
Phân loại doanh nghiệp dựa vào số lượng lao động sử dụng. Quan
điểm này gắn việc phân loại doanh nghiệp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật
của từng ngành theo yếu tố lao động: Tiêu chuẩn này được sử dụng để
phân loai các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nhiều quốc gia. Theo tổ chức


LuËn v¨n tèt nghiÖp

NguyÔn ThÞ Thu H»ng

APEC, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp sử dụng dưới 50 lao động,
doanh nghiệp vừa có số lao động từ 49 đến 200 người. Các quốc gia có
xu hướng quy mô dân số cao thì sử dụng tiêu chuẩn số lượng lao động
lớn hơn để phân loại, xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ví dụ:
- Cộng hoà Liên bang Đức, các doanh nghiệp có dưới 9 lao động
được gọi là doanh nghiệp nhỏ, có từ 10 đến 449 lao động gọi là doanh
nghiệp vừa và trên 500 lao động là doanh nghiệp lớn.

vốn, gắn với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng ngành. Các nước theo
quan điểm này gồm Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan...
Bảng 1.1: Tiêu thức xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ:

Nhật Bản

Lao động

Vốn

Dưới 300 lao động

Dưới 100 triệu yên (1 triệu USD) cho các
doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp
chế biến và khai thác

Malaysia

Dưới 50 lao động

Vốn cố định dưới 500.000 Ringgit
(khoảng 145.000 USD)

2.3. Quan điểm 3:
Phân loại doanh nghiệp dựa vào số lượng lao động, vốn và doanh
thu, theo đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng ngành.


LuËn v¨n tèt nghiÖp


sản xuất và xây dựng
< 100.000 USD

< 300 lao động trong
lĩnh vực xây dựng, sản
xuất và CN nặng.

Ở Việt Nam đưa ra các tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ
mới chỉ có tính ước lệ, bản thân các tiêu chí đó chưa đủ để xác định thế
nào là khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bởi vì có nhiều quan điểm rất
khác nhau về các đối tượng các chủ thể kinh doanh nào được coi là
thuộc về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, đã có một số tiêu chí xác
định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Một số tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ được áp dụng ở Việt Nam
Cơ quan tổ chức đưa ra tiêu chí

Vốn

Ngân hàng Công Thương Việt
Nam

Vốn cố định dưới 10 tỷ
đồng

Doanh thu

Lao động

Dưới
20
đồng/tháng

tỷ

Dưới 500 người

Dưới

người

Quỹ hỗ trợ DN vừa và nhỏ Vốn điều lệ từ 50.000(chương trình Việt Nam - EU)
300.000 USD

Từ 10 đến 500
người


LuËn v¨n tèt nghiÖp

NguyÔn ThÞ Thu H»ng

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ theo từng lĩnh vực:
Lĩnh vực
Sản xuất, xây dựng
DN nhỏ
DN vừa
Thương mại, dịch vụ
DN nhỏ
DN vừa

Vốn

Lao động

Dưới 1 tỷ đồng
Từ 1 đến 10 tỷ đồng



NguyÔn ThÞ Thu H»ng

Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các thành phần kinh tế
hiện thu hút khoảng 25 - 26% lực lượng lao động phi nông nghiệp của cả
nước. Riêng trong công nghiệp, các cơ sở kinh tế này đã thu hút 50%
tổng số lao động. Chi phí trung bình để tạo ra một chỗ làm trong DN vừa
và nhỏ chỉ bằng 3% so với các DN lớn. Điều này cho thấy vai trò đặc
biệt quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tạo ra việc
làm và thu hút nhiều lao động với chi phí thấp và chủ yếu bằng vốn và
tài sản của dân.
3.3. Thu hút vốn
Vốn là một nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất, có vai trò rất
quan trọng trong phát triển kinh tế của cả nước cũng như đối với từng
doanh nghiệp. Nhờ có vốn mới có thể kết hợp được với các yếu tố như
lao động, đất đai, công nghệ, quản lý. Vốn có vai trò lớn trong việc đầu
tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ, đào tạo nghề... Vốn có vai trò trong
việc mở rộng quy mô sản xuất... Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là người
trực tiếp tiếp xúc với người cho vay, như anh em, họ hàng, người thân,
bạn bè nên họ có khả năng rất lớn trong việc huy động vốn nhàn rỗi
trong dân.
3.4. Làm cho nền kinh tế năng động hiệu quả hơn
Do số lượng các doanh nghiệp tăng nhanh, làm tăng tính cạnh
tranh, giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế, đồng thời làm tăng số
lượng và chủng loại hàng hoá dịch vụ trong nền kinh tế. Ngoài ra, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng thay đổi mặt hàng, công nghệ và
chuyển hướng kinh doanh nhanh làm cho nền kinh tế năng động hơn. Sự
có mặt của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế có tác dụng
hỗ trợ cho doanh nghiệp lớn kinh doanh có hiệu quả hơn và có khả năng




LuËn v¨n tèt nghiÖp

NguyÔn ThÞ Thu H»ng

điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp mới thành lập
thì người chủ doanh nghiệp đều cho thấy thu hồi được vốn là điều không
dễ dàng. Còn khi thành lập và đứng vững rồi thì khả năng về tài chính sẽ
dễ dàng hơn.
4.3. Số lượng lao động không nhiều
Các doanh nghiệp loại này số lượng công nhân và người chủ có thể
từ vài người đến vài chục người là nhiều. Công nhân có thể là thành viên
trong gia đình và thuê thêm ở ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu công việc.
Giám đốc hay người chủ của doanh nghiệp vừa và nhỏ thường kiêm toàn
bộ công việc của giám đốc sản xuất, nhân sự, marketing và nhân viên
bán hàng cho khách. Ông ta phải hiểu tất cả các kỹ năng giao dịch
thương mại. Chỉ có như vậy thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới tồn tại
và phát triển trong thời đại cạnh tranh khốc liệt này.
4.4. Sổ sách kế toán tài chính không đầy đủ
Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ không tiến hành ghi chép sổ sách kế
toán một cách chính xác. Ngoại trừ một số doanh nghiệp có quy mô vừa
và số lượng lao động và việc làm tương đối nhiều thì họ có ghi chép và
hạch toán cẩn thận hơn. Do đặc trưng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
là làm việc cùng với người thân, quen và có thể tiến hành sản xuất kinh
doanh ngay tại nhà nên việc hạch toán lãi, thu nhập là khó vì hàng ngày
có những khoản chi vụn vặt không tiện ghi vào sổ sách.
5. Các đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có 5 đặc trưng cơ bản sau:


LuËn v¨n tèt nghiÖp

NguyÔn ThÞ Thu H»ng

đời sản phẩm ngắn lại. Do đó mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ không
tránh được tình trạng năng suất thấp, giá thành cao, rất khó cạnh tranh
trên thị trường trong nước và quốc tế.
Sản phẩm của doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu hết tiêu thụ ở thị
trường nội địa, chất lượng sản phẩm kém, mẫu mã, bao bì còn đơn giản,
sức cạnh tranh yếu. Tuy nhiên, có một số ít doanh nghiệp vừa và nhỏ
hoạt động trong lĩnh vực chế biến nông sản có sản phẩm xuất khẩu với
giá trị kinh tế cao.
5.5. Trình độ lao động và quản lý
Nhìn chung, trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ lao động ít được
đào tạo trong các trường lớp chính thống mà chủ yếu theo phương pháp
truyền nghề, trình độ văn hoá còn thấp. Lao động ít được đào tạo tay
nghề và nâng cao tay nghề nên ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, năng
suất lao động thấp.
Trình độ tổ chức quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rất
non kém và lạc hậu. Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động độc
lập, việc liên doanh liên kết còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn.
6. Những lợi thế và bất lợi của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Những đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ từ khi thành lập đến
sự tuyển dụng lao động, huy động vốn, tìm địa điểm, cách tổ chức quản
lý mà chúng ta thấy được doanh nghiệp vừa và nhỏ có những lợi thế và
bất lợi sau:
6.1. Lợi thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng khởi sự và hoạt động nhậy bén
theo cơ chế thị trường do vốn ít, lao động không đòi hỏi chuyên môn




LuËn v¨n tèt nghiÖp

NguyÔn ThÞ Thu H»ng

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường bị động và khả năng tiếp thị
còn hạn chế, khó khăn trong việc thiết lập quan hệ với bên ngoài.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thiếu vốn cho nên họ không
có khả năng đầu tư theo chiều sâu, mua thiết bị mới hay mở rộng sản
xuất.
Mặt khác, khi xã hội càng phát triển, việc đô thị hoá là điều đương
nhiên xảy ra. Mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì khó có thể di chuyển
địa điểm được. Nếu di chuyển đi thì họ không có được những lợi thế sẵn
có về địa điểm, nhân lực, khách hàng...
II. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH

1. Khái niệm
Môi trường kinh doanh là yếu tố rất quan trọng đối với hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau
nên có một số khái niệm về môi trường kinh doanh như sau:
- Môi trường kinh doanh là tổng hợp các yếu tố các điều kiện ảnh
hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp Các yếu tố, các điều kiện cấu thành môi trường kinh doanh có
quan hệ tương tác với nhau và đồng thời tác động đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp với mức độ và chiều hướng tác động khác nhau.
- Môi trường kinh doanh là để chỉ các định chế hay lực lượng ở bên
ngoài nhưng lại có ảnh hưởng đến thành quả hoạt động của tổ chức
(doanh nghiệp). [Khái niệm môi trường trang 62 sách QTKD].
- Môi trường kinh doanh là một khung cảnh bao chùm lên hoạt

HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP

Yếu tố môi trường
xã hội

Yếu tố môi trường
công nghệ

Yếu tố môi trường
vật chất

2.1. Môi trường vật chất
Khi đề cập đến môi trường vật chất, chúng ta muốn nói tới những
đặc điểm tự nhiên như diện tích, vị trí, khí hậu, địa thế và tất cả mọi tài
sản của cải do con người và thiên nhiên để lại.


LuËn v¨n tèt nghiÖp

NguyÔn ThÞ Thu H»ng

Các tổ chức kinh doanh hoạt động trong những điều kiện này và
phụ thuộc vào hệ thống cơ sở hạ tầng được xây dựng từ những của cải và
tài sản đó. Như chúng ta thấy, nước, đất, khí hậu, thuỷ văn có những lúc
gây cho chúng ta tai hoạ như lũ lụt, bão, động đất nhưng cũng từ đó mà
có cuộc sống. Nói một cách khác thiên nhiên hay môi trường vật chất là
cái nôi của cuộc sống. Đối với nhiều ngành công nghiệp thì tài nguyên
thiên nhiên như các loại khoáng sản , nước ngầm, lâm sản... là “thức ăn

đã gia tăng rất mạnh mẽ trong thập niên vừa qua. Nhà nước đã thực hiện
những dự án to lớn đầu tư vào thuỷ điện và xây dựng mạng lưới phân
phối nhằm giải quyết vấn đề năng lượng cho chương trình công nghiệp
hoá - hiện đại hoá nền kinh tế đất nước trong những năm sắp tới.
Nước ta nằm ở vùng nhiệt đới nên tiềm năng về nước ngọt của ta
khá dồi dào, lượng mưa hàng năm cao, kênh rạch sông ngòi nhiều và
tiềm năng nước ngầm cũng có trữ lượng khá lớn. Nhưng việc khai thác
và sử dụng quản lý vẫn còn nhiều bất hợp lý gây lãng phí rất lớn. Chính
phủ đang từng bước cải tiến lại việc quản lý và sử dụng nước có hiệu
quả hơn.
2.1.2. Nguồn năng lượng
Một tiềm năng rất quan trọng nữa của nước ta là nguồn năng lượng
từ dầu mỏ và khí đốt. Trong 10 năm qua ngành dầu khí Việt Nam đã lớn
mạnh nhanh chóng, hiện nay là ngành xuất khẩu đem lại nguồn ngoại tệ
lớn nhất cho ngân sách.
Vì vậy, các doanh nghiệp là những đơn vị tiêu thu điện, nước và
các nguồn năng lượng khác là chủ yếu. Cho nên các doanh nghiệp cần đi
đầu trong việc bảo vệ các nguồn năng lượng này và hạn chế sự lãng phí.
2.1.3. Hệ thống vận tải


LuËn v¨n tèt nghiÖp

NguyÔn ThÞ Thu H»ng

Hệ thống vận tải là một phần của môi trường vật chất mà trong đó
doanh nghiệp hoạt động, là một yếu tố rất quan trọng trong quá trình ra
quyết định. Nó tạo ra một mạng lưới mà con người có thể hàng ngày đi
từ nơi ở tới nơi làm việc và hàng hoá, nguyên liệu được phân phối đến
khắp mọi nơi. Mặt khác, hệ thống vận tải còn làm chức năng chuyên chở

trong vòng một vài giây.
Mạng lưới truyền thông ở nước ta đang ngày càng được mở rộng
trên thế giới. Các chương trình truyền hình đang ngày càng cung cấp
thêm các thông tin về hàng hoá cho người tiêu dùng và cung cấp cho các
nhà kinh doanh các số liệu thống kê của quốc gia, máy điện toán tại các
ngân hàng tạo ra sự thuận tiện trong thanh toán và nâng cao dịch vụ ngân
hàng.
2.2. Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là những đặc điểm của hệ thống kinh tế mà
trong đó các doanh nghiệp hoạt động. Trong môi trường kinh tế chúng ta
chủ yếu tập trung xem xét mô hình của nó bao gồm các yếu tố: Sự tăng
trưởng kinh tế, các chính sách kinh tế, những hạn chế và những khuyến
khích được đề ra để thúc đẩy kinh tế phát triển.
Việc cố gắng tìm kiếm các nhân tố của môi trường kinh tế có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp. Trong những năm gần đây, chúng ta đều nhận thấy nước ta đã
chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, với
sự đa dạng hoá các thành phần kinh tế có sự điều tiết vĩ mô của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhìn nhận môi trường kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử chúng ta
sẽ thấy rõ được sự khác nhau trong cơ chế, đường lối, chính sách.


LuËn v¨n tèt nghiÖp

NguyÔn ThÞ Thu H»ng

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, đặc trưng nổi bật trong cơ chế
này là nền kinh tế theo lối chỉ huy, mệnh lệnh. Cơ cấu kinh tế chủ yếu là
kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Kinh tế tư nhân manh mún, nhỏ

thế. Đến cuối năm 1989 và đầy năm 1990, chính phủ đã làm và chặn
đứng được “cơn sốt” lạm phát, chỉ số giá cả đang từ 3 con số/năm giảm
xuống ở mức một con số. Và chúng ta đã tiến tới thiết lập một thị trường
hàng hoá, nguyên liệu, vật tư thống nhất trong cả nước.
Chính sách đa dạng hoá nền kinh tế đã phát huy tác dụng, khu vực
kinh tế tư nhân phát triển khá nhanh và ngày càng đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế ngày càng được tinh giảm và
nâng cao.
Năm 1991 là năm có ý nghĩa đối với nền kinh tế nước ta. Lần đầu
tiên nước ta xuất khẩu được 1 triệu tấn gạo đứng thứ ba trên thế giới và
là năm đầu tiên nước ta có kim ngạch xuất khẩu cao hơn nhập khẩu.
Chính sách kinh tế “Đổi mới” ngày càng tỏ đúng đắn, Nhà nước
từng bước xoá dần chính sách bù lỗ cho các doanh nghiệp Nhà nước.
Đặc biệt trong những năm gần đây, vai trò của Nhà nước đã phát
huy được cả về chính trị, kinh tế và ngoại giao. Việt Nam muốn làm bạn
với tất cả các nước đó là phương châm của Đảng, Nhà nước và nhân dân
ta.
Công cuộc CNH - HĐH đất nước đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân một
lòng để đưa đất nước tiến lên và hội nhập về kinh tế với các nước trong
khu vực và trên thế giới.
2.3. Môi trường công nghệ - khoa học


LuËn v¨n tèt nghiÖp

NguyÔn ThÞ Thu H»ng

Môi trường khoa học - công nghệ là tổng hợp các nhân tố và điều
kiện vận động, tác động qua lại lẫn nhau và ảnh hưởng tới hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status