Phân tích quyền của cá nhân đối với hình ảnh - Pdf 33

Lời Nói Đầu
Ngày này, các thiết bị quay phim, chụp ảnh ngày càng trở nên phổ biến và hiện đại,
cùng với sự trợ giúp của internet, hình ảnh được phát tán rộng với tốc độ lớn, không chỉ
giới hạn ở Việt Nam mà còn trên phạm vi thế giới. Việc ngăn chặn và truy tim thủ phạm
trở nên khó khăn hơn. Có thể nói chưa bao giờ nguy cơ xâm phạm hình ảnh lại cao như
vậy. Bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân bị xâm phạm hình ảnh. Bộ luật Dân sự
năm 2005 đã có những quy định về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh,
nhưng việc hiểu và áp dụng trên thực tế còn nhiều khó khăn và bất cập. Những khó khăn
đó được thể hiện trong việc xác định như thế nào là quyền nhân thân của cá nhân đối
với hình ảnh, những hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình
ảnh, mức độ bồi thường khi cá nhân bị xâm hại.Vì vậy em xin lựa chọn đề bài “ Phân
tích quyền của cá nhân đối với hình ảnh” để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Nội Dung
I. Một số vấn đề lý luận về quyền của cá nhân đối với hình ảnh.
1. Khái niệm quyền cúa cá nhân đối với hình ảnh.
Trên thực tế hiện nay chưa có một định nghĩa nào định nghĩa thật ngắn gọn dễ hiểu
đối với khái niệm này. Việc hiểu “hình ảnh” là gì phụ thuộc chủ yếu vào từng lĩnh vực
nghiên cứu khác nhau, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có một cách thức định nghĩa riêng phù
hợp với chuyên môn của ngành đó. Theo từ điển Tiếng Việt của viện ngôn ngữ học 2000,
giải thích hình ảnh “là hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học hoặc
để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động trong
cách diễn đạt”. Trong triết học, hình ảnh được coi là “ là kết quả của sự phản ánh khách
thể, đối tượng vào ý thức của con người. Ở trình độ cảm tính, hình ảnh là những cảm
giác, tri giác và biểu tượng; ở trình độ tư duy đó là khái niệm, phán đoán và suy luận.
Đối với các nhà nhiếp ảnh thì “hình ảnh” được coi là sản phẩm thỏa mãn nhu cầu nhận
thức sự vật bằng mắt và chỉ gồm hai yếu tố cơ bản là hình dáng của vật thể và sắc độ của
hình ảnh, thì mỹ thuật lại xem “ hình ảnh” như là sự diễn tả hay tái hiện một vật, một
người trong nghệ thuật tạo hình.
Qua những định nghĩa trên, tựu trung lại ta có thể tạm hiểu “hình ảnh chính là sự
sao chép lại những hình ảnh, biểu tượng, có thể được nhận thức bằng chính tư duy của

nhân đó”.
2. Đặc điểm quyền của cá nhân đối với hình ảnh
Quyền đối với hình ảnh thuộc một trong những quyền nhân thân của cá nhân. Ngoài
việc mang những đặc điểm của quyền nhân thân nói chung, quyền nhân thân của cá nhân
đối với hình ảnh có một số điểm riêng biệt sau:
2


Thứ nhất quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền không gắn với tài sản:
Quyền của cá nhân đối với hình ảnh gắn với chính bản thân của người đó và mỗi chủ thể
có một hình ảnh riêng biệt. Mỗi chủ thể được công nhận một cách vô điều kiện đối với
hình ảnh của mình. Hình ảnh bên ngoài của cá nhân chính là yếu tố nhận dạng cá nhân
đó, không phải là một tài sản mang ra để giao dịch. Điều này hoàn toàn khác với quyền
tài sản đối với hình ảnh, vì quyền tài sản đối với hình ảnh nghĩa là hình ảnh được phép
mang ra kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cho bản thân cá nhân. Do vậy khi sử dụng hình
ảnh của cá nhân vào mục đích quảng cáo thì cần phải có sự đồng ý của cá nhân đó.
Quyền của cá nhân đối với hình ảnh được công nhận một cách bình đẳng và suốt đời,
không phụ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh kinh tế, địa vị hay mức độ tài sản của người đó.
Thứ hai quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền cá biệt hóa chủ thể: Cùng với
quyền của cá nhân đối với họ tên, dân tộc, quyền của cá nhân đối với hình ảnh thuộc
quyền cá biệt hóa cá nhân. Đây là quyền nhân thân tuyệt đối, gắn liền với mỗi cá nhân
đó. Đây là quyền ghi nhận đặc điểm của mỗi cá nhân, là cơ sở để xác định dấu hiệu cơ
bản của quyền cá biệt hóa cá nhân trong quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói
riêng.
Thứ ba là quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền được bảo hộ vô thời hạn:
Hình ảnh được hiểu là sự tái hiện lại vẻ bên ngoài của một người bằng cách thức nào đó
có thê ghi lại và gây ấn tượng thị giác cho người khác. Khi mọi người nhìn vào ảnh đó có
thể nhận diện được đó là ai. Quyền nhân thân đối với hình ảnh được bảo hộ vô thời hạn
được pháp luật bảo hộ vĩnh viễn. Ngay cả sau khi người chết thì người thân thích được
quyền yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm tới hình ảnh của người đã khuất.

hiểu đó là có sự thỏa thuận giữa người sử dụng hình ảnh của cá nhân đối với cá nhân có
hình ảnh đó hay chỉ cần việc sử dụng hình ảnh đó không có sự phản đối của người có
hình ảnh thì được hiểu là người đó đương nhiên đồng ý, tuy nhiên theo điều luật thì ta có
thể hiểu “sự đồng ý” phải được hiểu là việc sử dụng hình ảnh của cá nhân vào bất kỳ
mục đích gì mà không xin phép đều bị coi là xâm phạm quyền nhân thân về hình ảnh của
cá nhân dù việc sử dụng đó đem lại hậu quả tốt hay xấu cho người có hình ảnh.Tóm lại
quyền đối với hình ảnh của cá nhân là quyền tuyệt đối, được phép sử dụng và cho người
khác sử dụng hình ảnh của mình, mọi hành vi sử dụng hình ảnh nói chung đều phải đươc
sự đồng ý của cá nhân đó.
Thứ ba, quyền được bảo vệ đối với hình ảnh của cá nhân trước hành vi sử dụng trái
phép. Quyền nhân thân nói chung trong đó có quyền đối với hình ảnh là nhóm quyền
tuyệt đối, thể hiện sự ghi nhận của nhà nước đối với giá trị tinh thần của cá nhân, bất kỳ
hành vi xâm phạm quyền nhân thân nào cũng sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý. Hiện nay
pháp luật dân sự quy định các biện pháp bảo vệ và khôi phục các quyền nhân thân của
4


công dân. Theo đó người xâm phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh của người khác thì
dù cố ý hay vô ý đều có nghĩa vụ phải chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công
khai, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại.
2. Giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh.
II.1
Giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong mối quan hệ với quyền
được thông tin.
Quyền được thông tin có phạm vi rộng, liên quan mật thiết với quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí. Trong hoạt động báo chí, báo chí cung cấp rất nhiều thông tin, hình
ảnh về mọi mặt của đời sống. Các bản tin truyền hình tập trung chủ yếu vào hình ảnh.
Quyền tự do báo chí vì vậy rất dễ xung đột với quyền của cá nhân đối với hình ảnh, có
thể thấy quyền của cá nhân đối với hình ảnh đã bị giới hạn bởi quyên tự do báo chí. Tại
điều 5 khoản 3 Nghị định 51/2002/NĐ- CP ngày 26/4/2002 của chính phủ quy định

hình tội phạm bị truy nã, việc gián ảnh cá nhân ở những nơi công cộng nhằm cảnh báo
cho mọi người biết để đề phòng trộm cắp...
Thứ hai giới hạn quyền của cá nhân trong trường hợp xung đột với quyền lợi của
bên thứ ba hoặc cá nhân từ bỏ quyền đối với hình ảnh của mình. Quyền đối với hình ảnh
của cá nhân chấm dứt khi đương sự bán hình ảnh của mình cho bên thứ ba: Điển hình là
trường hợp các diễn viên, người nổi tiếng kí hợp đồng quảng cáo, hợp đồng quay phim
về đời sống hằng ngày của mình. Ngoài ra quyền của cá nhân đối với hình ảnh còn bị
giới hạn bới quyền của bên thứ ba như báo chí như trình bày ở trên.
3. Các biện pháp bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh.
Theo quy định tại Điều 25 BLDS năm 2005 thì cá nhân có quyền nhân thân đối với
hình ảnh nói riêng và quyền nhân thân nói chung bị xâm phạm có thể bảo vệ quyền nhân
thân của mình theo các phương thức khác nhau như tự mình bảo vệ, yêu cầu cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền bảo vệ hoặc buộc người khác bảo vệ hoặc buộc người vi phạm bồi
thường thiệt hại.
3.1Tự mình bảo vệ.
Về biện pháp tự bảo vệ, đây là biện pháp tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ thể
trong chừng mực nhất định, biện pháp này cũng nhanh chóng ngăn chặn, chấm dứt hành
vi vi phạm. các biện pháp cụ thể mà chủ thể bị xâm phạm quyền nhân thân có thể lựa
chọn áp dụng gồm : Yêu cầu cá nhân, tổ chức có hành vi xâm phạm phải xin lỗi, cải
chính công khai, yêu cầu người có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại ..Cá nhân
bị xâm phạm quyền nhân thân với hình ảnh của mình có thể sử dụng các biện pháp này
bằng cách gọi trực tiếp gặp chủ thể có hành vi xâm phạm hoặc sử dụng các phương thức
khác nhau như: gọi điện thoại, gửi thư qua bưu điện, fax… Người bị xâm phạm quyền
nhân thân đối với hình ảnh có thể lựa chọn áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khác nhau
để tự bảo về quyền của mình. Ngoài ra người bị xâm phạm có thể sử dụng biện pháp tự

6


mình cải chính bằng cách trực tiếp trình bày trước đám đông hoặc cải chính thông qua

7


III.

Một số nhận xét quy định của pháp luật về quyền đối với hình ảnh của

cá nhân và kiến nghị
Có thể nói hiện nay khi xã hội càng phát triển thì các quyền nhân thân của cá nhân
lại được pháp luật bảo vệ chặt chẽ hơn. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh là một trong
những quyền được pháp luật quan tâm và đã có những quy định bảo vệ cho các chủ thể,
hạn chế các trường hợp xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh. Tuy nhiên chúng
ta có thể thấy hiện nay quyền của cá nhân đối với hình ảnh vẫn còn bị xâm phậm. Chúng
ta có thể xem xét một số vụ việc sau, từ đó có thể đưa ra một số ý kiến nhận xét về quy
định của pháp luật như sau:
• Một số vụ việc về xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh.
+ Vấn đề sử dụng hình ảnh với mục đích thương mại không được sự đồng ý của chủ
thể có hình ảnh: Ví dụ: Tháng 1/2008, người mẫu Nguyễn Kim Tiên tiến hành khởi kiện
công ty Organo về việc sử dụng hình ảnh của cô mà chưa được phép để quảng cáo thuốc
ngừa thai Mercilon.Cô yêu cầu công ty này phải ngưng việc quảng cáo trên, xin lỗi và
bồi thường thiệt hại cho cô. Như vậy hành vi xâm phạm chủ yếu trong lĩnh vực này là
những ngươi nổi tiếng: Người mẫu, diễn viên... Căn cứ theo điều 31 BLDS về quyền của
cá nhân đối với hình ảnh khi sử dụng khai thác vào mục đích kinh doanh thì đều phải xin
phép “người chủ” hình ảnh đó.
+ Phát tán hình ảnh của cá nhân xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín. Ví dụ:
Ngày 24/3/2008, BTV Đan Lê là người đã bị báo Nông nghiệp online đăng tin cô đóng
phim sex, trong khi đó người trong clip sex đó không phải là Đan Lê (sau một thời gian
đấu tranh Đan Lê đã tìm được sự thật). Tuy nhiên, mọi thứ trong cuộc đời cô gái trẻ đẹp
này đã dường như biến mất do vụ việc này.
+ Vấn đề liên quan đến nhiếp ảnh gia: Ví dụ : Năm 2004 công ty Điện toán và truyền

buộc phải xin phép cá nhân và hình ảnh được phép chụp hình. Vì vậy pháp luật cần có
những quy định cụ thể hơn về vấn đề này để có thể áp dụng vào giải quyết tình huống.
Hai là : Nhìn từ góc độ nhất định, pháp luật của ta bảo vệ quá chặt quyền của cá
nhân đối với hình ảnh, chưa thực sự phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước ta. Điều
31 BLDS quy định việc “sử dụng hình ảnh nói chung đều cần sự đồng ý của người có
hình ảnh”. Điều này dẫn đến việc sử dụng hình ảnh của người khác, dù chỉ cho nhu cầu
bản thân, không phát tán cho người khác cũng phải xin phép người có hình ảnh. Về bẩn
chất hành vi này không ảnh hưởng tới quan hệ của người có hình ảnh với xã hội, không
cản trở việc người đó có hình thành và phát triển nhân cách của mình. Trên thực tế cũng
khó phát hiện các trường hợp này, vì hình ảnh không được phát tán, người có hình ảnh
cũng không biết được hình ảnh của mình đang bị xử dụng trái pháp luật. Trái ngược với
9


sự chặt chẽ nói trên BLDS không cấm việc quay phim, chụp hình trong không gian riêng
tư của cá nhân. Điều 31 BLDS không đề cập đến hành vi “ghi hình” mà chỉ đề cập đến
hành vi “ sử dụng” . Đây thực sự là khoảng trống đáng lo ngại trong pháp luật Việt Nam,
vì cá nhân bị xâm phạm vào những chi tiết riêng tư nhất.Ba
Ba là: Theo khoản 2 Điều 31 BLDS, trường hợp người có ảnh chết thì việc sử dụng
hình ảnh phải được thân nhân của người đó đồng ý. Trên thực tế chỉ bó hẹp thân nhân
bao gồm “cha, mẹ, vợ, chồng, con” nên yêu cầu xin phép sẽ chấm dứt khi những người
này qua đời. Quy định này dẫn tới hai tình huống cực đoan là hoặc phải xin phép trong
thời gian rất dài hoặc được tự do sử dụng hình ảnh ngay sau khi người có hình chết trong
trường hợp thân nhân của người của họ còng sống nhưng không thuộc diện cha, mẹ, vợ,
chồng, con.
Từ những nhân xét trên ta thấy rằng pháp luật cần có những quy định, hướng dẫn để
bảo đảm quyền và lợi ích cho các chủ thể khi quyền đối với hình ảnh bị xâm phạm. Hơn
nữa để nâng cao hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tránh tình trạng, quyền
của cá nhân đối với hình ảnh của mình bị xâm phạm nhưng do sự kém hiểu biết nên
không có những biện pháp bảo vệ khi cần thiết hay trường hợp không biết nghĩa vụ của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status