PHẦN 1. GIỚI THIỆU
1.1
ĐẶT VẤN ĐÊ
Sự phát triển của công nghệ trên thế giới đã làm cho con người ngày càng xa
rời với tự nhiên. Trong cuộc sống con người luôn muốn gần gũi với tự nhiên và
khám phá điều kỳ diệu của nó. Du lịch sinh thái giúp con người hòa quyện với tự
nhiên, là nơi làm cho con người cảm nhận cuộc sống thiên nhiên, làm cho con người
gần gũi với thế giới động thực vật hơn. Du lịch sinh thái cũng làm cho con người có
ý thức bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ tài nguyên sinh thái. Vì vậy du lịch sinh thái là
một hình thức du lịch tự nhiên, có trách nhiệm, hỗ trợ cho các các mục tiêu bảo tồn
tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa, phát triển công đồng đem lại những nguồn lợi
kinh tế to lớn, góp phần tích cực vào phát triển du lịch và bảo vệ môi trường bền
vững.
Việt Nam là một đất nước có tiền năng rất lớn về du lịch sinh thái, bên cạnh
đó Nhà nước ta luôn có chính sách, thúc đẩy phát triển du lịch thái và bảo tồn thiên
nhiên. Theo hiệp hội Vườn Quốc Gia và Khu bảo tồn thiên nhiên Viêt Nam
(VNPPA), công bố trên webside Đến nay Việt Nam đã
có 30 Vườn Quốc Gia, hơn 70 Khu bảo tồn thiên nhiên, hàng trăm điểm du lịch
sinh thái và nhiều bãi biển đẹp được nhiều du khách trong nước cũng như nước
ngoài biết đến. Tuy nhiên du lịch sinh thái Việt Nam chưa phát huy hết tiềm năng
vốn có của nó. Một trong những nguyên nhân đó là chưa có vốn đầu tư phát triển,
quy hoạch chưa thật tốt hay là chưa có sự đầu tư, quảng bá xứng tầm và sự nghiên
cứu thích đáng.
Hà Tĩnh một tỉnh thuộc miền Trung của đất nước với tiềm năng du lịch sinh
thái mạnh mẽ. Là tỉnh có nhiều điểm du lịch sinh thái nổi tiếng, đã đi vào thơ ca
cũng như gắn liền với nhiều danh nhân thế giới cũng như các thi hào dân tộc, gắn
liền với nhiều chiến công lịch sử. Phó Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh, Trần Minh Kỳ phát
biểu với phóng viên báo Nhân Dân là: tài nguyên thiên Hà Tĩnh là một thế mạnh
của du lịch sinh thái, với đa dạng sinh học cao, trong đó có nhiều loài động thực
kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo – Hà Tĩnh”
1.2
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Phân tích cảnh quan để đề xuất phương án quản lý tài nguyên sinh thái bền
vững phục vụ cho phát triển du lịch sinh thái sinh thái trên địa bàn của khu kinh tế
cửa khẩu quốc tế Cầu Treo – Hà Tĩnh.
1.3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu kinh tế cửa khẩu
quốc tế Cầu Treo.
- Phân tích tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của khu kinh tế cửa khẩu
quốc tế Cầu Treo
- Thiết lập bản đồ các điểm du lịch sinh thái trên địa bàn khu kinh tế và các
điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
- Kiến nghị, đề xuất phương án tổ chức phát triển du lịch sinh thái và bảo vệ
tài nguyên sinh thái trên địa bàn khu kinh tế cửu khẩu quốc tế Cầu Treo – Hà Tĩnh.
2
2.1
PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
ra những khó khăn trong việc định nghĩa du lịch tự nhiên họ đã phải xây dựng nên
phạm vi rộng và hẹp đối với định nghĩa của nó. Về mặt nghĩa hẹp, họ nói rằng nó
liên quan tới những người điều hành những chuyến đi thiên nhiên về thiên nhiên;
tuy nhiên về nghĩa rộng thì nó áp dụng việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên
của du lịch, bao gồm những bãi biển và những phong cảnh làng quê.
Đến cuối những năm thập kỷ 90 thì du lịch sinh thái được sự ủng hộ và quan
tâm của nhiều tổ chức, chính phủ và nhân dân. Các tổ chức như Ceballos-lascurian,
IUCN, UNDP…và nhiều tác giả Huber Ziffer (1989) , (1993), Wight (1993), Wood
(1998), …quan tâm đặc biệt và xuất bản nhiều tài liệu.
Gần đây bản tuyên ngôn Quebec (UNEP/WTO 2002) vào cuộc họp chót của
năm du lịch quốc tế về du lịch sinh thái, đề nghị rằng 5 tiêu chí tiêu biểu được sử
dụng để định nghĩa du lịch sinh thái như là sản phẩm dựa vào tự nhiên, quản lý ảnh
hưởng tối thiểu, giáo dục môi trường, đóng góp bảo tồn và đóng góp vào cộng
đồng.
Bên cạnh đó nhiều dự án phát triển du lịch và kinh doanh, đầu tư vào du lịch
sinh thái ngày càng mở rộng. Như khu bảo tồn Annapuma ở Nepal năm 1985, với
đầu tư hơn 500 ngìn USD, khu nhà ở sinh thái Chalalan tại Bolivia, khu dự trữ
rừng mây Monteverde ở Costa Rica, Dự án bảo tồn Selous ở Tanzania, công viên
quốc gia Pilanesberg ở Nam Phi và nhiều dự án phát triển du lịch khác, với sự đầu
tư rất lớn đã thu hút hàng triệu lượt khách du lịch mỗi năm.
Tình hình du lịch trên thế giới, theo số liệu của tổ chức du lịch thế giới, năm
2002 khách du lịch quốc tế trên toàn thế giới đạt 715 triệu lượt khách. Thu nhập
khoảng 500 tỷ USD, tương đương với 6,7 - 6.8% tổng sản phẩm quốc dân trên thế
giới. Du lịch là ngành tạo nhiều việc làm và thu hút khoảng 227 triệu lao động.trực
tiếp và 9 triệu lao động gián tiếp. Theo tổ chức kinh tế thế giới WTO dự báo, năm
2010 lượng khách du lịch quốc tế trên thế giới ước tính khoảng 1.006 lượt khách.
Thu nhập từ từ du lịch lên đến 900 tỷ USD và ngành du lịch sẽ tạo thêm khoảng
150 triệu chỗ làm việc.
Hanseidel (Cộng hòa Liên bang Đức) tài trợ, được tổ chức tại Huế, đã đề cập đến
du lịch sinh thái, du lịch với môi trường. Đặc biệt có các nhà nghiên cứu trong lĩnh
vực du lịch sinh thái, du lịch bền vững, bảo vệ môi trường của Cao Văn Sung,
Phạm Trung Lương, Đặng Huy Huỳnh…
Với sự tài trợ của Tổng cục du lịch Việt Nam, IUCN, SiDa vào tháng 9/1999
đã diễn ra hội thảo “Xây dựng chiến lược quốc gia về sự phát triển du lịch sinh
thái tại Việt Nam”. Tại hội nghị đã có nhiều tham luận đóng góp kinh nghiệm và
thực tiễn phát triển du lịch sinh thái nhiều vùng trên lãnh thổ Việt Nam. Đây là lý
luận cho phát triển du lịch sinh thái Việt Nam.
Du lịch sinh thái Việt Nam càng ngày càng khởi sắc. Khi mà các danh lam
thắng cảnh Việt Nam được UNESSCO cộng nhận là các danh lam thắng cảnh thế
giới. Một trong đó là Vịnh Hạ Long (1994), Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng
(2003) và một số di sản văn hóa được UNESSCO công nhận là di sản văn hóa thế
giới. Mới đây nhiều cảnh quan, thắng cảnh được Việt Nam đề cử với UNESSCO
công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Đây là một tiềm năng lợi thế cho du lịch
sinh nói chung và du lịch sinh thái nói riêng của Việt Nam phát triển, sánh vai
cùng du lịch sinh thái thế giới. Bên cạnh đó Nhà nước ta cũng thành lập nhiều
vườn Quốc gia, nhiều khu bảo tồn thiên nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và phát
triển du lịch sinh thái. Hiện nay du lịch sinh thái Việt Nam phát triển trên toàn
lãnh thổ, nhiều nơi hình thành các điểm du lịch nổi tiếng.
Nhìn chung càng về sau thì du lịch sinh thái càng được quan tâm và phát
triển, và có nhiều quan điểm, khái niệm để làm rõ chính xác cụm từ du lịch sinh
thái để phát triển du lịch sinh thái một cách đúng nghĩa của nó. Trên thế giới cũng
như ở Việt Nam thì khách du lịch ngày càng nhiều, đặc biệt là khách đi du lịch
sinh thái. Vì vậy sự đầu tư vào lĩnh vực du lịch sinh thái cũng gia tăng, đây chính
là một điểm tốt cho sự phát triển du lịch sinh thái. Tuy nhiên du lịch sinh thái cần
chú ý đến môi trường sinh và phát triển cộng đồng.
- Du lịch sinh thái là du lịch mà chủ yếu là đi đến những vùng thiên nhiên
tương đối chưa ai đụng tới hay chưa bị ô nhiễm với mục đích cụ thể là nghiên cứu,
ngưỡng mộ, và thưởng thức phong cảnh cùng với các loại thực vật và động vật
hoang dã của nó, cũng như bất cứ biểu hiện về văn hóa nào (cả quá khứ lẫn hiện
tại) được tìm thấy trong các vùng này…Điểm chính yếu là người đi du lịch sinh
thái có cơ hội đắm mình vào thiên nhiên theo một cách thức thường không có sẵn
trong môi trường đô thị.
- Du lịch sinh thái là một cuộc du lịch có trách nhiệm đến những vùng thiên
nhiên mà bảo tồn môi trường và duy trì bền vững phúc lợi của nhân dân địa
phương (Hội du lịch Sinh thái).
- Du lịch sinh thái là một trải nghiệm du lịch thiên nhiên mang lại thông tin
bổ ích mà góp phần vào việc bảo tồn hệ thống sinh thái, trong khi đó tôn trọng tình
trạng nguyên vẹn của các cộng đồng chủ nhà (Hội đồng Tư vấn Môi trường
Canada).
- Du lịch sinh thái là đi du lịch đến những vùng hoang sơ, dễ bị hư hại và
thường được bảo vệ mà cố gắng gây ra tác động rất thấp và có qui mô nhỏ. Nó
giúp giáo dục người đi du lịch; cung cấp nguồn quỹ cho việc bảo tồn; trực tiếp làm
lợi cho việc phát triển kinh tế và việc trao quyền về chính trị của các cộng đồng địa
phương; và thúc đẩy sự tôn trọng đối với các nền văn hóa khác nhau và các quyền
của con người (Martha Honey – giám đốc chương trình An ninh và Hòa bình tại
Viện Nghiên cứu về Chính sách).
Theo luật du lịch Việt Nam thì du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào
thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng
nhằm phát triển bền vững.
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác
có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành
các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.
- Tài nguyên du lịch phải được bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý để phát
chức phi chính phủ (NGO). Thoạt nhìn sự hấp dẫn của phát triển và tính bền vững
có vẻ hiển nhiên. Nhưng sự hấp dẫn “hiển nhiên” này che dấu sự bất đồng ý kiến
về vấn đề du lịch sinh thái là gì và những gì không phải là du lịch sinh thái, và về
lợi ích và chi phí tương đối của các chương trình khác nhau. Vì thế bất kỳ cuộc
thảo luận nào về du lịch sinh tháicũng phải bắt đầu bằng việc mô tả và phân tích.
Trên cơ sở này nhiều công trình, kế hoạch tổ du lịch sinh thía đều phải đưa ra thảo
luận và thông qua pháp luận. Để có được một cơ sở cho du lịch sinh thái cần phải
tìm hiểu dân sinh kinh tế, điều kiện tự nhiên và các vấn đề liên quan tới cảnh quan,
môi trường sinh thái.
Trên cơ sở tổ chức du lịch sinh thái bền vững, bảo vệ được môi trừơng và anh
ninh quốc phòng nước ta đã ban hành nhiều văn bản luật dành riêng cho du lịch và
bảo vệ môi trường. Một số văn bản pháp luật về du lịch và cơ sở lý luận cho sự
phát triển du lịch trong giai đoạn này là:
- Nghị quyết 63/HĐBT năm 1987 về việc đẩy mạnh việc đẩy mạnh hoạt
động du lịch và chấn chỉnh tổ chức quản lý công tác du lịch làm cho Việt Nam có
một cách nhìn mới về du lịch.
- Nghị định số 119/HĐBT năm 1990 về việc thành lập tổng công ty du lịch
Việt Nam, đưa du lịch Việt Nam lên một tầm mới, trong đó du lịch sinh thái là một
lĩnh được quan tâm nhiều.
- Nghị quyết số 45/CP của Chính Phủ năm 1993 về việc đổi mới quản lý và
phát triển du lịch.
- Nghị định số 39/2000/NĐ-CP về cơ sở lưu trú du lịch liên quan tới cá nhân
trong nước và ngoài nước có các hình thức đi du lịch, kinh doanh đầu tư du lịch.
Nghị định này là cơ sở pháp lý lưu trú cho khách du lịch cũng như các nhà đầu tư
vào du lịch tại Việt Nam.
- Luật số 44/2005/QH11 giải ngữ rõ về các thuật ngữ như: du lịch, tài
nguyên du lịch, khách du lịch, dịch vụ du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch…Và
quy định rõ quyền hạn của người tham gia kinh doanh, đầu tư vào du lịch cũng
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có liên quan rất lớn đến tài nguyên sinh
thái và môi trường. Vì vậy các nhà kinh doanh du lịch cũng như khách du lịch cần
phải tôn trọng nhưngc gì mà thiên nhiên ban tặng và biết cách bảo vệ và phát triển
nó.
2.2.2.2 Cơ sở thực tiễn
Trong quá trình phát triển của đất nước thì du lịch là một ngành cần phải chú
trọng. Phát triển du lịch sinh thái có nhiều lợi ích, người dân được hưởng rất nhiều
phúc lợi. Không những du lịch sinh thái không chỉ dựa vào cảnh quan để kinh
doanh mà phát triển du lịch có thể kéo theo nhiều ngành khác phát triển.
Hiện nay Việt Nam có nhiều điểm du lịch nổi tiếng, nó không chỉ biết đến bởi
các du khách trong nước mà ngày càng thu hút du khách đến từ nước ngoài. Khu
kinh tế là một điểm đến rất có nhiều tiềm năng với nhiều chính sách ưu đãi của nhà
nước.
Du lịch sinh thái thường được hình thành và phát triển tại những khu vực có
hệ sinh thái điển hình. Vì thế các tổ chức du lịch sinh thái rất phức tạp bởi tính
nhảy cảm về môi trường sinh thái, về vấn đề bảo tồn và phát triển bền vững của
khu vực đó. Vì vậy phát triển du lịch sinh thái phải nghiên cứu và chuẩn bị về các
mặt: tài nguyên du lịch, ngành du lịch, khách du lịch, điều kiện kinh tế xã hôi, đặc
điểm dân cư, hạ tầng kỹ thuật, cơ chế chính sách, các nguyên tác và yêu cầu cơ
bản của du lịch sinh thái, mối liên hệ vùng, nguyên tắc phân vùng hoạt động du
lịch và sức chứa của điểm du lịch. Đây là những cơ sở thực tiễn mà các điểm du
lịch cần có để phát triển du lịch sinh thái tốt nhất.
2.2.2.3 Một số yếu tố cần chú ý khi phát triển du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái là ngành kinh tế tổng hợp mang lại hiệu quả về nhiều mặt,
phát triển du lịch sinh thái có lợi ích phục vụ văn hóa, kinh tế lẫn bảo vệ tài
nguyên sinh thái. Vì vậy để phát triển du lịch sinh thái bền vững, cần phải nắm
quả và bền vững. Trên cơ sở đó các nhà đầu tư kinh doanh vào du lịch sinh xây
dựng định hướng phát triển du lịch sinh thái phục một cách hợp lý.
Tuy nhiên mỗi vùng có mỗi điều kiện khác nhau, có một hình có các phong
tục tập quán khác nhau cũng như những khó khăn và thuận lợ riêng. Nên du lịch
sinh thái không thể dựa trên những cơ sở những nguyên tắc chung, những lý luận
chung để xây dựng, phát triển du lịch sinh thái. Cũng như Khu kinh tế cửa khẩu
Cầu Treo có một hệ thống du lịch sinh thái không giống với các vùng du lịch sinh
thái khác với mọi vùng, điều kiện sinh thái nhân văn cũng khác. Vì vậy các nhà
quy hoạch đầu tư cần hiểu sau về điều kiện tự nhiên cũng như dân sinh kinh tế để
phát triển du lịch sinh thái một cách bền vững.
3
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1
Nghiên cứu sinh thái cảnh quan để phát triễn du lịch sinh thái trên địa bàn khu
kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, bao gồm địa bàn thị trấn Tây Sơn, xã Sơn Tây,
xã Sơn Kim I và xã Sơn Kim II thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ngoài ra
còn nghiên cứu các vấn đề liên đến phát triển du lịch sinh thái trên khu kinh tế,
trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
3.2
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Tiềm năng du lịch của khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo
- Các chính sách ưu đãi có ảnh hưởng đến kinh doanh phát triển du lịch sinh
thái trên địa bàn.
- Nguồn lợi mà người dân được khi phát triển du lịch sinh thái
- Tình hình bảo vệ tài nguyên sinh thái tại khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cửa
khẩu cầu treo.
- Kiến nghị và đề xuất phương pháp bảo vệ tài nguyên rừng nói riêng và tài
nguyên sinh thái nói chung trên địa bàn khu kinh tế.
3.4
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu
Các tài liệu, số liệu cần điều tra, thu thập trong đề tài là:
- Các tài liệu, số về điều kiện tự nhiên khu kinh tế
- Các tài liệu, số liệu về điều kiện kinh tế xã hội của địa bàn
- Các loại bản đồ về sử dụng đất, các điểm du lịch sinh thái
- Các số liệu, tài liệu về tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Hà
Tĩnh nói chung và của khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo nói riêng.
- Các tài liệu số liệu về nhu cầu phát triển du lịch sinh thái của người dân địa
bàn.
- Các văn bản pháp luật liên quan đến phát triển du lịch sinh thái cũng như
các văn bản về bảo vệ môi trường.
4
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1
ĐIÊU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TÊ – XÃ HỘI
4.1.1
Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo là một lãnh thổ nằm ở phía Tây Bắc
huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Có tọa độ địa lý như sau:
- Từ 18o15' đến 18o32' độ vĩ Bắc
- Từ 105o6' đến 105o23' độ kinh Đông
Lãnh thổ khu kinh tế cửa khẩu Cầu treo bao gồm Xã Sơn Tây, Thị trấn Tây
Sơn, Xã Sơn Kim 1 và xã Sơn Kim 2 thuộc huyện Hưong Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Ranh giới của khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo được xác định bởi:
- Phía Bắc giáp xã Sơn Hồng, xã Sơn Lĩnh, huyên Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
- Phía Nam giáp huyện Vũ Quuang, tỉnh Hà Tĩnh
- Phía Đông giáp xã Sơn Diệm, xã Sơn Hàm, huyện Hương Sơn, Tỉnh Hà
Tĩnh.
- Phía Tây giáp Nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.
Như vậy vị trí địa lý của Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo nằm ở phía
Tây Bắc tỉnh Hà Tĩnh, thuộc vùng núi Bắc Trường Sơn. Là một địa bàn có biên
giới chung với nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Chế độ nhiệt
- Nhiệt độ bình quân trong năm 26oC
- Nhiệt độ thấp nhất từ 6,5 - 8,5oC
- Nhiệt độ cao nhất từ 41,5 - 43,5oC
- Nhiệt độ thấp nhất thường nằm từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau.
- Nhiệt độ cao nhất nằm trong nằm từ tháng 5 đến tháng 9 trong năm.
Lượng mưa:
- Lượng mưa bình quân năm 1650 mm
- Lượng mưa ngày lớn nhất 320 mm
- Số ngày mưa trong năm 152 ngày
- Mưa tập trung vào tháng 6 đến tháng 10 trong năm
Độ ẩm không khí
- Độ ẩm bình quân 85%
- Độ ẩm cao nhất trong năm 93%
- Độ ẩm thấp nhất trong năm 50%
Chế độ bốc hơi:
Trung bình 700mm - 800mm
Do đặc điểm của địa hình địa mạo cho nên đã chi phối điều kiện khí hậu trong
khu vực. Do vậy từ tháng 3 đến tháng 6 thường bị hạn hán, mưa tập trung vào một
số tháng, lượng mưa lại lớn do vậy thường gây ra lũ lụt làm ảnh hưởng đến sản
xuất nông lâm nghiệp và giao thông lại.
Chế độ gió:
Khu vực có 3 loại gió chính đó là:
- Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời tiết lạnh, có mưa
phùn.
- Gió mùa Tây Nam (gió Lào) từ tháng 6 đến tháng 8, đây là loại gió nóng
xuất hiện trong mùa hè làm làm bốc hơi nước nhanh, khí hậu khô, do vậy làm ảnh
mưa, vào mùa hè thường ít nước.
- Suối Khe Tre chiều dài 14 km thường xuyên có nước, tuy nhiên quanh co
nhiêu gấp khúc.
Ngoài ra còn nhiều suối khác như Giao Bún, Khú Mắc, Xì Lồi, suối Nàn
Nằng, suối Đá Liếp, suối Nước Lạnh, suối Bò Rạt, suối Con Khỉ, suối Trưng, hồ
Cây Du… và nhiều suối và khe đá khác.
Tóm lại khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo là một địa bàn có hệ thống
thủy hệ khá dày đặc. Tuy nhiên chỉ có một con sông có lưu lượng nước khá lớn đó
là sông ngàn phố, còn hầu hết là các suối có lưu lượng nước không đều. Với sự
xuất hiện của một phơn Tây Nam, và lượng mưa trong năm không đồng đều nên
tạo nên hệ thống sông suối có có lưu lượng nước không đều. Vào mùa mưa do địa
hình dốc, lượng nước trên các sông suối là rất lớn, lại chảy xiết. Tuy nhiên vào
mùa hè do có gió phơn Tây Nam nên lượng nước bốc hơi rất lớn nhiều suối không
có nước. Vào mùa này một số người dân thiếu nước để sinh hoạt, đặc biệt là khu
vực vùng núi cao, không gần hệ thống sông suối.
Bản đồ 2. Bản đồ hệ thống sông suôi khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo –
Hà Tĩnh
4.1.2
Tình hình kinh tế xã hội
4.1.2.1 Tình hình đất đai
Theo thống kê của phòng tài nguyên và môi trường thuộc Ban quản lý khu
kinh tế quốc tế Cầu Treo thì tổng diện tích tự nhiên của khu kinh tê quốc tế Cầu
Tổng diện tích tự nhiên
Diện tích
(ha)
Cơ cấu
(%)
56641,68
100
I
Đất nông nghiệp
NNP
53114,83
93,77
1.1
Đất sản xuất nông nghiệp
SXN
1974,64
Đất trồng cây hàng năm
khác
1.1.2
Đất trồng cây lâu năm
CLN
1810,09
3.196
1.2
Đất lâm nghiệp
LNP
51140,19
90.283
1.2.1
Rừng sản xuất
RSX
1050,55
1,86
2.
Đất ở
OTC
159,54
0.282
2.2
Đất chuyên dùng
CDG
641,08
1.131
2.3
Đất tôn giáo, tín ngưỡng
TTN
2476,30
4,37
3.1
Đất bằng chưa sử dụng
BCS
927,22
1.636
3.2
Đất đồi núi chưa sử dụng
DCS
1549,08
2.734
(Nguồn: Ban quan lý khu kinh tế cửa khẩu cầu treo)
4.1.2.2 Tình hình dân số và lao động
Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo gồm 3 xã và một thị trấn. Đây là địa
bàn thuộc miền núi, người dân sống không tập trung và một số bộ phận dân cư là
2086
2037
2132
Xã Sơn Tây
2023
8083
4044
4039
3552
3
Xã Sơn Kim I
1113
4703
2391
2312
số hộ
động
(Nguồn: Các ủy ban nhân dân xã thuộc khu kinh tế)
Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo cơ cấu địa giới hành chính phân bố
thành 4 địa bàn gồm 3 xã và một thị trấn. Dân cư chủ yếu tập trung hai bên đường
quốc lộ 8A và một số đường chính trong khu vực. Trên địa bàn có tổng số hộ 5241
gồm 20949 nhân khẩu. Ngoài ra ở khu kinh tế còn một số du khách hoặc công nhân
cư trú tạm thời ở đây đê làm việc và du lịch.
Trên địa bàn khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo có tổng số lao động là
9654 chiếm 46,08% trên tổng dân số. Tập trung chủ yếu trong ngành nông lâm