Trường THPT Võ Văn Kiệt
GV: Lê Trọng Khương
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH
1.Thông tin cá nhân:
-Họ và tên: Lê Trọng Khương
-Ngày, tháng, năm sinh: 30/10/1982
-Quê quán: ấp Hành Chính- Thị trấn Phước Long- PL- BL
-Nơi thường trú: ấp Hành Chính- Thị trấn Phước Long- PL- BL
-Chức vụ: giáo viên
-Điện thoại: 0939 981 983
2.Trình độ đào tạo:
-Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đại học sư phạm Lịch sử
-Năm nhận bằng: 2004
-Chuyên môn đào tạo: Cử nhân khoa học Lịch sử
3.Kinh nghiệm khoa học:
-Lĩnh vực chuyên môn: giảng dạy môn Lịch sử
-Số năm kinh nghiệm: 09
1
Trường THPT Võ Văn Kiệt
GV: Lê Trọng Khương
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong dạy học lịch sử, ngoài việc giúp cho học sinh nắm được kiến thức cơ
bản, giáo dục tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, giáo viên còn phải giúp cho
học sinh phát triển năng lực nhận thức. Hệ thống bài tập nhận thức là điều kiện cần
thế hiên ngang anh dũng nhưng cũng đầy thơ mộng trong bài hát “Bài ca hi vọng”
“Tiến về Sài Gòn”…Chiến tranh không chỉ có chiến thắng mà còn có cả mất mát
đau thương, phải trả bằng máu và nước mắt của hàng triệu con người .Người học
sẽ tự hào về Đảng, về nhân dân ta, về thế hệ thanh niên đầy nhiệt huyết trong
những năm tháng đau thương ấy .
2
Trường THPT Võ Văn Kiệt
GV: Lê Trọng Khương
Chiến tranh đã đi qua nhưng vết thương vẫn còn để lại, biết bao gia đình mẹ
phải xa con, vợ phải xa chồng, con phải xa cha…rõ ràng những sự thật lịch sử đó,
làm thức thức tĩnh hàng triệu triệu con người Việt Nam, qua đó giúp học sinh
nhận thức đúng đắn hơn về lịch sử, có niềm tin vững chắc vào lí tưởng cách mạng
của Đảng.
Nhà trường có nhiệm vụ cùng với xã hội giáo dục thế hệ trẻ, Đảng và chủ tịch
Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến việc “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời
sau”, để làm được điều đó phải nâng cao nhận thức học sinh trong quá trình học
tập và khắc sâu kiến thức bằng các bài tập nhận thức lịch sử.
2.2.1-/Tầm quan trọng của việc phát triển năng lực nhận thức và sử dụng bài
tập nhận thức trong dạy học lịch sử.
Nhận thức lịch sử không chỉ biết mà phải hiểu để rút ra bài học kinh nghiệm
cho thực tiễn.Vì vậy khi học lịch sử học sinh không chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ sự
kiện mà điều quan trọng phải nắm vững kiến thức cơ bản của chương trình, sách
giáo khoa ,hiểu được bản chất sự kiện, quá trình lịch sử, bài học kinh nghiệm của
quá khứ với hiện tại .
Qúa trình nhận thức và hành động của học sinh trong học tập lịch sử diễn ra như
học lịch sử sẽ trở thành phổ biến.
2.2.2. Sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học lịch sử
2.2.2.1 Thế nào là bài tập nhận thức?
Theo I.Ia.Lerner, bài tập nhận thức là một vấn đề mà “có sự mâu thuẫn giữa
điều đã biết và điều chưa biết, và vấn đề này được giải quyết bằng toàn bộ những
thao tác và phán đoán về trí tuệ và thực tiễn có tính chất trung gian giữa câu hỏi và
câu trả lời của bài tập”. “Bài tập nào cũng đòi hỏi học sinh phải tự mình trải qua
bước đường phải giải quyết hoặc tìm ra câu trả lời một cách độc lập và được chứng
minh rõ ràng”.
VD: Khi giảng đề mục “Sự xuất hiện của tôn giáo”, thầy giáo kể cho học
sinh biết tôn giáo là gì, tôn giáo xuất hiện lúc nào và sau đó cho một bài tập: “Các
nhà khảo cổ đã tìm thấy một ngôi mộ trong đó có hài cốt của một người được chôn
từ hồi xưa nào đó. Người này nằm theo tư thế của một người ngủ nằm nghiêng, 2
chân co và mặc quần áo thường mặt hàng ngày. Bên cạnh hài cốt có vũ khí, bát, đĩa
và di tích của thức ăn.
Câu hỏi: Ngôi mộ thuộc về thời kì nào, trước khi có tôn giáo hay lúc tôn
giáo đã xuất hiện rồi? Hãy chứng minh câu trả lời của em.
Để giải quyết bài tập này, học sinh đã xác lập mối tương quan giữa sự kiện
về ngôi mộ với những điều chúng được biết về tôn giáo (câu hỏi đòi hỏi điều đó),
con người đã tin vào các lực lượng siêu tự nhiên, vào một cuộc sống ở bên kia thế
giới sau khi chết. Sau đó, học sinh phán đoán và kết luận: Vì trong mộ có bát đĩa,
thức ăn, quần áo, vậy thì người ta đã cho rằng những thứ đó cần thiết cho người
được chôn cất sau khi chết. Và nếu như thế thì đó là những con người có tôn giáo
và do đó, ngôi mộ đã xuất hiện trong thời kì có tôn giáo.
Chúng ta có thể xem bài tập nhận thức là một “bài toán”, được hiểu theo
nghĩa là một công việc mà người ta chưa biết cách hoàn thành và kết quả, hay chưa
biết một trong hai yếu tố đó, nhưng có thể tìm kiếm được với những điều kiện đã
cho.
Có thể chia bài tập nhận thức thành hai phần:
- Phần giả thiết: là những tư liệu lịch sử, thường là những sự kiện, hiện
cấp mới có thể tìm ra câu trả lời.
Tùy theo chủ ý của giáo viên khi xây dựng bài tập, chuẩn bị bài giảng, đặc
điểm học sinh, có thể sử dụng bài tập nhận thức ở đầu, giữa hay cuối chương, bài
hay đề mục nào đó.
Thời gian đầu, giáo viên chỉ nên ra các bài tập đơn giản và cần hướng dẫn
các em cách giải bài tập, chẳng hạn giải thích các bước tiến hành, cách phân tích
giả thiết, cách xây dựng các bước trong lập luận… Khi học sinh quen dần với việc
giải bài tập, giáo viên có thể cho học sinh giải các bài tập phức tạp hơn, yêu cầu
học sinh độc lập tìm ra lời giải.
Dựa trên những yêu cầu của bài tập nhận thức, có thể định ra các bước xây
dựng bài tập nhận thức như sau:
- Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học và từng đề mục cụ thể. Nghĩa là cần
xác định về mặt nhận thức, học sinh cần nhận thức được những gì; qua bài học, rèn
luyện được mặt nào của năng lực nhận thức; giáo dục được gì về tư tưởng cho học
sinh.
Việc sử dụng bài tập nhận thức là một trong những cách thức, biện pháp
trang bị kiến thức, rèn luyện năng lực tư duy, giáo dục tư tưởng cho học sinh. Do
đó, việc xây dựng, sử dụng bài tập nhận thức ở bài học nào đó phải bám sát yêu
cầu về mục tiêu của bài học, mục tiêu cụ thể của đề mục có liên quan.
- Bước 2: Tìm “vấn đề” để xây dựng bài tập
Cách trình bày của sách giáo khoa hiện tại vẫn còn theo lối giải thích hoặc
chứng minh kiến thức lịch sử, nghĩa là đưa ra nhận định trước, sau đó minh họa
bằng các sự kiện, hiện tượng hoặc trình bày các sự kiện, hiện tượng rồi đưa ra kết
5
Trường THPT Võ Văn Kiệt
GV: Lê Trọng Khương
với dã thú (hổ, báo…) để mua vui, nhân dịp sinh con trai nối dõi, gã chồng cho con
gái hoặc trong nhà có việc tang. Đấu sĩ trang bị nhiều kiểu khác nhau, có khi mũ
bịt đầu của họ chỉ chừa hai kẻ hở nhỏ ở vị trí đôi mắt, làm cho kẻ bất hạnh ấy chỉ
còn đánh nhau trong tình trạng hoàn toàn như bị bịt mắt. Kiếm của họ thường rất
ngắn. tất cả những thứ ấy nhằm mục đích là làm cho các đấu sĩ không thể giết nhau
ngay lập tức. Cuộc đấu càng kéo dài, máu đấu sĩ chảy càng nhiều, càng được xem
là hấp dẫn và được người xem càng tán thưởng, hò reo, thích thú.
Ở phương Tây cổ đại, nô lệ là lực lượng sản xuất chính, nuôi sống xã hội,
nhưng hiện tượng trên lại thường xuyên diễn ra.
Có thể đặt ra câu hỏi:
1. Em có suy nghĩ gì về nghịch lý ở hiện tượng trên?
6
Trường THPT Võ Văn Kiệt
GV: Lê Trọng Khương
2. Hãy cho biết ý kiến của em về hệ quả của những trò vui tàn bạo nêu trên
của chủ nô.
Có thể cho học sinh giải bài tập này ở nhà, sau khi dạy xong mục 2. Thị
quốc Địa Trung Hải .
Để trả lời câu hỏi thứ nhất, học sinh phải sử dụng kiến thức đã biết: nô lệ là
lực lượng sản xuất chính, nuôi sống xã hội. Đối chiếu với thông tin từ tư liệu trên,
học sinh có thể tìm được câu trả lời: Nô lệ là lực lượng sản xuất chính, nuôi sống
xã hội, lẽ ra phải được bảo vệ. Song, tư liệu trên cho thấy, tính mạng của nô lệ bị
xem thường. Đây là điều nghịch lý.
Đối với câu hỏi thứ hai, trên cơ sở nhận thức được hiện tượng nêu trên là
biểu hiện của áp bức, vận dụng hiểu biết về quy luật “có áp bức có đấu tranh”, học
sinh có thể tìm được câu trả lời: Hiện tượng nêu trên là biểu hiện cụ thể của hành
Trường THPT Võ Văn Kiệt
GV: Lê Trọng Khương
Để đánh giá khả năng, hiệu quả, ý nghĩa của việc sử dụng bài tập nhận thức
trong dạy học lịch sử, tôi đã tiến hành thực nghiệm ở một số lớp 12 do nhà trường
phân công giảng dạy . Việc tiến hành thực nghiệm được tiến hành qua hai bước.
Bước 1: Cho học sinh các lớp thực nghiệm giải bài tập nhận thức.
Bước 2: Kiểm tra nhận thức của học sinh các lớp thực nghiệm và các lớp
đối chứng để so sánh và đánh giá khả năng, hiệu quả, ý nghĩa của việc sử dụng bài
tập.
Kết quả giải bài tập của học sinh thông qua kiểm tra như sau:
Lần 1
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
SL
9
24,3
11C2
41
2
4,9
19
46,3
10
24,4
10
24,4
11C3
40
4
SL
%
SL
%
SL
%
Kém
SL
%
11C1
44
14
31,8
24
54,5
36,6
19
46,3
7
17,1
SL
%
Kết quả kiểm tra nhận thức sau khi sử dụng hai bài tập cho thấy, khả năng
nhớ và vận dụng kiến thức lịch sử, cách lập luận, trình bày vấn đề của các em rất
tốt. Những mặt tích cực có được như thế chắc chắn là hệ quả của quá trình giải bài
tập trước đó của các em.
Để giải được bài tập nhận thức đòi hỏi học sinh phải sử dụng năng lực nhận
thức cái cụ thể như quan sát, hình dung, tưởng tượng, lựa chọn các chi tiết cần thiết
để trên cơ sở đó, học sinh sử dụng các hình thức hoạt động tư duy như phân tích,
so sánh, tổng hợp…, vận dụng những kiến thức đã biết, soi vào những điều kiện đã
cho ở bài tập, tìm ra lời giải, phát hiện ra kiến thức mới theo yêu cầu của bài tập.
Nói cách khác, bài tập nhận thức yêu cầu học sinh phải sử dụng năng lực nhận thức
8
Trường THPT Võ Văn Kiệt
phương pháp, khắc phục tâm lý cho rằng học sử chỉ cần học thuộc lòng. Trên đây
là sự tổng hợp những kinh nghiệm của tôi về vấn đề sử dụng bài tập nhận thức của
học sinh trong dạy học lịch sử , có gì thiếu sót mong quý thầy cô đóng góp.
xin chân thành cảm ơn!
9
Trường THPT Võ Văn Kiệt
GV: Lê Trọng Khương
MỤC LỤC
Trang
SƠ YẾU LÝ LỊCH …………………………………………………………………….1
1.ĐẶT VẤN ĐỀ ……………………………………………………………... 2
2. NỘI DUNG
2.1. Thực trạng………………………………………………………………… 2
2.2.Giải pháp……………………………………………………………………2
2.2.1.Tầm quan trọng của việc phát triển năng lực nhận thức. ……………….. 3
2.2.2. Sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học lịch sử
2.2.2.1 Thế nào là bài tập nhận thức…………………………………………….4
2.2.2.2 Sử dụng bài tập nhận thức………………………………………………5
2.2.2.3. Xây dựng bài tập minh họa……………………………………………..6
2.3. Kế quả………………………………………………………………………7
3. KẾT LUẬN …………………………………………………………………..9
10