CẢM HỨNG YÊU NƯỚC, CẢM HỨNG NHÂN ĐẠO TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM - Pdf 33

CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HSG LỚP 9
CẢM HỨNG YÊU NƯỚC, CẢM HỨNG NHÂN ĐẠO TRONG VĂN HỌC
TRUNG ĐẠI VIỆT NAM


Chương I : KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC VIẾT TRUNG ĐẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS.
I.Sự hình thành của dòng văn học viết
Văn học viết xuất hiện vào khoảng thế kỉ X do tầng lớp trí thức biết chữ
Hán có tinh thần dân tộc, yêu nước đóng vai trò chủ chốt.
Văn học viết ra đời cùng với văn học dân gian đã hoàn chỉnh diện mạo
nền văn học dân tộc.
II. Tiến trình phát triển:
Văn học trung đại Việt Nam hình thành và phát triển trong bối cảnh văn
hóa xã hội phong kiến, chịu ảnh hưởng sâu sắc của ý thức hệ phong kiến nên có
những nét riêng biệt về thể loại, thi pháp…. là nơi lưu giữ và toả chiếu những
tinh hoa và bản sắc văn hoá, tâm hồn dân tộc.
Văn học trung đại Việt Nam phát triển qua 4 giai đoạn (cách chia mang
tính tương đối).
1.Giai đoạn 1: từ thế kỉ 10 đến thế kỉ 15
1.1.Hoàn cảnh lịch sử:
Đất nước tiếp tục công cuộc dựng nước và giữ nước.
Giai cấp phong kiến tiếp tục phát huy vai trò tích cực, đoàn kết với nhân dân
và lãnh đạo toàn dân đánh thắng giặc Tống(11), Nguyên (13), Minh (15) và xây
dựng một nền văn hóa giàu tính truyền thống.
1.2.Văn học:
Sự xuất hiện của văn học viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.
Thể loại tiêu biểu: Chiếu , Hịch, Cáo, Thư.
Nội dung: Âm hưởng chủ đạo là tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc
với những biểu hiện cụ thể: Yêu mến tự hào, nhiệt tình ca ngợi vẻ đẹp non sông
đất nước và bản sắc văn hoá lâu đời, truyền thống chống ngoại xâm anh hùng

xã hội thực dân nửa phong kiến.
4.2.Văn học:
Âm hưởng chủ đạo: tư tưởng yêu nước chống xâm lăng; phê phán sự lố
lăng của xã hội buổi giao thời; thể hiện nỗi đau mất nước.
Như vậy nhìn vào tiến trình phát triển nêu trên chúng ta thấy: Dòng văn
học viết trung đại Việt Nam ( còn được gọi là văn học viết phong kiến hay văn
học cổ điển) được đưa vào chương trình Văn học cấp THCS . Cụ thể là từ lớp 6
đến lớp 9; ở lớp 6 là một số truyện trung đại, lớp 7 chủ yếu là các tác phẩm thơ
trữ tình trung đại. Lên lớp 8 học sinh được tiếp xúc với các tác phẩm nghị luận
thuộc thể loại cáo, hịch, chiếu; ở lớp 9 là các tác phẩm thuộc thể loại truyền kì,
truyện thơ nôm, tuỳ bút, chí. Đó thực sự là những tác phẩm tiêu biểu của nền
văn học nước nhà, những tinh hoa của nền văn hóa dân tộc được kết tinh từ lịch
sử hàng nghìn năm của dân tộc.
Có thể thấy nền văn học trung đại Việt Nam gắn liền với lịch sử đấu tranh
dựng nước và giữ nước của dân tộc. Về nội dung văn học thời kỳ này mang hai
đặc điểm lớn đó là: cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo. Cảm hứng yêu
nước và cảm hứng nhân đạo thực ra không hoàn toàn tách biệt nhau. Bởi yêu
nước cũng là phương diện cơ bản của nhân đạo.Tuy vậy cảm hứng yêu nước và
cảm hứng nhân đạo vẫn mang những đặc điểm riêng.
CHƯƠNG II
CẢM HỨNG NHÂN ĐẠO TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
I.Những vấn đề chung:
Văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX. Đây là thời kì
dân tộc ta đã thoát khỏi ách thống trị nặng nề của phong kiến phương Bắc hơn
một ngàn năm. Nền văn học trung đại Việt Nam gắn liền với quá trình đấu tranh
dựng nước và giữ nước của dân tộc. Về nội dung văn học thời kỳ này mang hai
đặc điểm lớn đó là: Cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo.


Cảm hứng nhân đạo bao gồm những nguyên tắc đạo lí làm người, thái độ

từ tư tưởng từ bi bác ái của đạo phật và học thuyết nhân nghĩa của đạo Nho.
Hơn nữa văn học do con người sáng tạo nên và tất yếu nó phục vụ trở lại
cho chính cuộc sống của con người. Vì vậy, tinh thần nhân đạo là một yếu tố cần
có để một tác phẩm tồn tại mãi với thời gian. Ðiều này cũng có nghĩa là, trong
xu hướng phát triển chung của văn học nhân loại, VHTÐVN vẫn hướng
tới việc thể hiện những vấn đề của chủ nghĩa nhân đạo như:
Khát vọng hòa bình tầng lớp thấp hèn trong xã hội phân chia giai cấp.
Ðấu tranh cho hạnh phúc, cho quyền sống của con người, chống lại ách
thống trị của chế độ phong kiến.


Ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động
Tố cáo mạnh mẽ và đấu tranh chống những thế lực bạo tàn.
II. Những biểu hiện cụ thể:
1. Lòng thương người:
Tình yêu thương đối với con người đặc biệt là đối với những con người
nghèo khổ, bị áp bức, những số phận éo le, bất hạnh.
Trong thơ trung đại Việt Nam có thể kể ra rất nhiều những tác phẩm mang
nội dung nhân đạo như: Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của
Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Chinh phụ ngâm của
Đặng Trần Côn, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu,...
Trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đó là tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với
tư tưởng yêu nước và độc lập tự do của Tổ quốc.
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Nhà nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Đó là tấm lòng cảm thông của tác giả dành cho những con người nhỏ bé
bất hạnh trong xã hội đã bị bọn giặc ngoại xâm đàn áp:

Đặng Trân Côn...) khi viết về người phụ nữ, thường để cho nhân vật bộc bạch
trực tiếp những nỗi đau khổ, những niềm riêng tư (sự tự ý thức về mình):
"Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung"
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
hoặc bộc lộ những phản ứng:
"Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung"...
(Hồ Xuân Hương).
Có thể khẳng định rằng cảm giác mất mát hạnh phúc và nỗi khát khao
hạnh phúc là hai tâm trạng, hai nỗi niềm thường gặp nhất ở các nhân vật nữ
trong văn học trung đại Việt Nam .
Tình yêu thương đối với thiên nhiên, cái đẹp: thể hiện tình cảm với thiên
nhiên, tình yêu quê hương đất nước, thái độ nâng niu, trân trọng vẻ đẹp của thiên
nhiên…
2. Lên án, tố cáo các thế lực tàn bạo chà đạp lên con người
Tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc của Nguyền
Gia Thiều đã lên án chế độ phong kiến chà đạp lên quyền sống của người phụ
nữ, lên những số phận tài hoa. Xã hội đó đã tước đoạt đi những quyền sống
thiêng liêng mà lẽ ra con người phải có. Đặc biệt các tác giả nói lên tiếng nói
bênh vực người phụ nữ những người chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội.
Không chỉ lên tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người mà
các tác giả còn cất lên tiếng nói nhân đạo phản đối những cuộc chiến tranh phi
nghĩa đã cướp đi biết bao nhiêu cảnh sống yên vui, chia lìa bao đôi lứa. Qua lời
của người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn muốn
lên án cuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa đó là nỗi nhớ người chồng
nơi chiến trường gian khổ.
Buồn rầu nói chẳng nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
Gà eo éc gáy sương năm trống

tài năng.
Khẳng định đề cao những khát vọng chân chính của con người: khát
vọng về tình yêu, hạnh phúc; khát vọng sống, khát vọng về công lý, tự do.
Truyện Kiều của Nguyễn Du giúp người đọc cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp, tài
năng và đức hạnh của Kiều. Nàng là hình tượng tiêu biểu cho vẻ đẹp của người
phụ nữ trong xã hội phong kiến. Ca ngợi vẻ đẹp của Kiều đó cũng chính là cảm
hứng nhân văn của Nguyễn Du.
Chinh phụ ngâm khúc là tiếng kêu thương của người phụ nữ chờ chồng,
nhớ thương người chồng chinh chiến phương xa. Tình cảnh lẻ loi đó được chiếu
ứng trong sự cảm nhận về thời gian đợi chờ đằng đẵng, không gian trống vắng
vây bủa bốn bề. Trên tất cả là tâm trạng cô đơn, mất đi niềm tin, mất niềm vui
sống và mối liên hệ gắn bó với cuộc đời rộng lớn. Trạng thái tình cảm đó một
mặt có ý nghĩa tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người
trai ra trận và hệ quả tiếp theo là bao nhiêu số phận chinh phụ héo hon tựa cửa
chờ chồng, mặt khác nói lên tiếng nói tình cảm và sự ý thức về quyền sống,
quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế


này. Không có gì khác hơn, đó chính là khả năng mở rộng diện đề tài, khai thác
sâu sắc hơn thế giới tâm hồn con người, xác định nguồn cảm xúc tươi mới và
khẳng định những giá trị nhân văn cao cả mà khúc ngâm đã đem lại, đánh dấu
bước trưởng thành vượt bậc của giai đoạn văn chương thế kỷ XVIII trong tiến
trình phát triển chung của nền văn học dân tộc.
4. Hướng tới những giải pháp đem đến hạnh phúc cho con người, cuộc
sống. Đề cao quan hệ đạo đức, lối sống tốt đẹp giữa người với người
Giải pháp tư tưởng mang tính triết lý, tinh thần nhân đạo - đặt vấn đề
trong nhận thức, tư tưởng.
Giải pháp hành động: giải pháp đấu tranh xã hội.
Trong “Đại cáo bình Ngô”- Nguyễn Trãi, sau khi đánh thắng quân xâm
lược nhà Minh, quân và dân ta đã mở đường hiếu sinh cho kẻ thù chứ không

CHƯƠNG III:
CẢM HỨNG YÊU NƯỚC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
I.Khái quát chung
Cảm hứng yêu nước Việt Nam trong văn học trung đại có một số giá trị
cơ bản là:
Thứ nhất, có tình yêu quê hương, xứ sở và sự gắn bó cộng đồng. Trong
truyền thống dân tộc với nền văn minh trồng lúa nước đã lấy nhà (gia đình) làm
đơn vị kinh tế và làng làm cộng đồng cơ sở. Việc nhà, việc làng, việc nước là
công việc chung của mọi người. Do vậy, con người Việt Nam từ cổ xưa đã sẵn
có truyền thống yêu nước gắn liền với tình yêu làng quê.
Thứ hai, có sự khẳng định lịch sử riêng và bản sắc văn hoá riêng của dân
tộc, khẳng định về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, và sự bình đẳng của dân
tộc.
Thứ ba, khẳng định tính chính nghĩa của những cuộc chiến tranh vệ quốc
và quyết tâm đánh đuổi kẻ thù, bảo vệ độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ. Tính chất
chính nghĩa của những cuộc chiến tranh vệ quốc đã nâng tinh thần yêu nước,
yêu quê hương xứ sở lên thành ý thức bảo vệ Tổ quốc và sự toàn vẹn lãnh thổ
quốc gia với một quyết tâm cao độ của cả dân tộc.
Thứ tư, có tư tưởng coi trọng vai trò của nhân dân và thân dân trong sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đó là quan điểm tiến bộ của hệ tư tưởng phong kiến
Việt Nam đại diện cho quyền lợi dân tộc và được đẩy lên tầm cao ý thức dân tộc
về vai trò và lực lượng to lớn của nhân dân trong bảo vệ nền độc lập, xây dựng
đất nước.
Văn học là dòng chảy không ngừng của thời gian, các nhà văn nhà thơ là
thư kí trung thành của thời đại. Ta bắt gặp được những bản tuyên ngôn độc lập
với giọng đọc hào sảng của Nước Việt Nam qua “Nam quốc sơn hà” hay một
bài hịch vang núi sông ngỡ còn đâu đây trong “Hịch tướng sĩ” của Trần quốc
Tuấn…và đó chính là những biểu hiện đẹp về cảm hứng yêu nước trong văn học
trung đại.
Văn học trung đại Việt Nam nếu hình dung như một thứ màu vàng, một

này đã tạo ra Hào khí Đông Á trong lịch sử chống xâm lược của dân tộc. Hào
khí ấy vang lên hùng tráng mà tha thiết qua khúc ca khải hoàn Tụng giá hoàn
kinh sư của Trần Quang Khải:
Đoạt sóc Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang san.
Bài thơ làm sống dậy một không gian trận mạc chiến trường, đao kiếm
với ngựa thét quân reo ngất trời tráng khí. Một trong hai trận ấy do đích thân
Trần Quang Khải chỉ huy. Chương Dương, Hàm Tử là những chiến thắng mở
màn có ý nghĩa chiến lược cho cuộc phản công thắng lợi, mạnh và nhanh, cường
độ lớn và tốc độ phi thường đã tạo cho lời thơ khí thế hùng tráng, thiêng liêng.
Yêu nước, căm thù giặc tất yếu phải chiến đấu đến cùng cho lí tưởng ấy.
Trong thơ trung đại Việt Nam dường như vẫn còn văng vẳng tiếng mài giáo
dưới ánh trăng của Đặng Dung (Cảm hoài), cái múa giáo đầy thách thức của
Phạm Ngũ Lão. Sự mất còn của non sông đã đặt gánh nặng lên vai con người
thời cuộc với thử thách nặng nề: giết giặc cứu nước. Vậy nên trong Thuật hoài
Phạm Ngũ Lão đã xây dựng được hình tượng một con người tràn đầy khí thế,
tầm vóc. Ở đó có cả sức mạnh của tướng sĩ ba quân trong cuộc kháng chiến
chống Nguyên Mông, đồng thời đó cũng là sức mạnh của cả dân tộc. Từ suy
ngẫm khái quát về tư thế, tầm vóc và sức mạnh của dân tộc chuyển sang suy
ngẫm về bổn phận và trách nhiệm của cá nhân trước cộng đồng, Phạm Ngũ Lão
đã có cách khơi thật khéo léo: nếu đấng nam nhi còn vương nợ tức là chưa có


công trạng gì với núi sông thì sẽ huống thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu. Đúng là
cái thẹn của một của một nhân cách lớn rất đáng trân trọng của Phạm Ngũ Lão.
Múa giáo non sông trải mấy thâu
Ba quân hùm khí nuốt Sao ngưu
Công danh nam tử còn vương nợ

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Nỗi lo lắng và niềm đau xót cho ách nước, nạn dân ngày càng trở nên sâu
sắc hơn. Mỗi bữa thấy, mỗi ngày trông kẻ thù trước mắt lấn thêm một bước, Đồ
Chiểu đau đớn như bị cắt đi một phần máu thịt. Cảm hứng bao trùm bài Chạy


tây là nỗi bàng hoàng, lo lắng cho vận nước nạn dân:
Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay….
Cho nên tinh thần quyết chiến, quyết thắng không chỉ biểu hiện nơi trận
mạc sa trường. Nó còn là lẽ sống, một hạnh phúc được sẵn sàng xả thân cho Tổ
quốc. Tư thế của Đặng Dung là tư thế của một kẻ anh hùng, một chí trai thời
loạn:
Vai khiêng trái đất mong phù chúa
Giáp gột sông trời khó vạch mây..
3.Trong thơ văn trung đại, yêu nước - chúng ta nhận thấy dường như còn có
những nỗi buồn sâu kín của con người trước sự đổi thay của đất nước, những
cảnh trớ trêu trong xã hội, nạn chiến tranh, cát cứ, xâm lựơc. Đó là trường hợp
Sông lấp (Tú Xương), Hội Tây (Nguyễn Khuyến)…Nghe tiếng ếch vẳng bên tai
mà Tú Xương giật mình. Cái giật mình của Tú Xương là cái giật mình chứa bao
đau xót trước hiện thực phũ phàng. Đó là cái giật mình của lòng yêu nước của
tinh thần dân tộc sâu kín được ấp ủ, nung nấu nhưng không có cách nào giải tỏa
được:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.
(Sông lấp)
Còn với Nguyễn Khuyến, ông xót xa trước những trò lố lăng, xúc phạm đến
danh dự dân tộc do thực dân Pháp bày ra. Bên Hội Tây đã thể hiện sâu sắc nỗi

một vùng đồng bằng Bắc Bộ:
Dâu già lá rụng tằm vừa chín
Lúa sớm bông thơm cua béo ghê
Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt
Dẫu vui đất khách chẳng bằng về.
(Quy hứng)
Kể cả một chiếc lá đỏ thưa, một cánh cò chao liệng, một tiếng chuông
vẳng trong mây trời, một tiếng sáo, thuyền câu ngoài bến đậu…Tất cả đều trở
thành nguồn thi hứng cho các thi sĩ thời Trần:
Tiếng sáo thuyền câu ngoài bến đậu
Trăng rơi đầy nước, móc đầy sông.
Còn Nguyễn Trãi, cảnh đẹp thiên nhiên, khí trời lúc sang xuân thật huyền
hồ đầy âm thanh, màu sắc. Xuân về mang theo sự tươi tốt với những làn mưa.
Cỏ ở bến xanh như màu khói bao la bát ngát:
Cỏ xanh như khói bến xuân tươi
Lại có mưa xuân nước vỗ trời.
(Bến đò xuân đầu trại)
Đọc thơ Nguyễn Trãi, thiên nhiên như ùa về trong ta với bao cảnh đẹp:
“Một mình nhàn nhã khép phòng văn
Khách tục không ai bén mảng gần
Trong tiếng quốc kêu xuân đã muộn
Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan”
Thì ra Nguyễn Trãi khép phòng văn chứ ông không khép lòng mình, mà ông
luôn mở rộng lòng mình đến với thiên nhiên tươi đẹp. Sắc tím của hoa xoan đã


trở thành ấn tượng đối với thi nhân. Màn mưa bụi khép lại khiến lòng ta xao
xuyến, nhớ mãi.
Hay đến với thứ cỏ xanh non sau cơn mưa còn vương như những làn khói
mờ mờ, hư thực:

(Đề thi HSG tỉnh)
* Định hướng ý:
1.Nội dung yêu nước tồn tại ở dạng quan niệm, tư tưởng:
- Yêu nước gắn với liền với tư tưởng trung quân (Trung quân ái quốc).
+ Quan niệm đất nước là của vua:
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở


Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
+ Biểu hiện của trung quân: “sống thờ vua, thác cũng thờ vua”, yêu nước
là trung với vua, trung với vua là yêu nước.
-Yêu nước thể hiện ở ý thức tự cường, tự tôn dân tộc.
+ Trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lăng, yêu nước là căm thù giặc, là ý
chí quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược, bảo vệ đến cùng chủ quyền đất
nước.
“Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.”
“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối,.....”
-Yêu nước chính là khát vọng xây dựng đất nước hoà bình: khát vọng dời đô từ
Hoa Lư ra Thăng Long (Chiếu dời đô- Lý Công Uẩn)
“Bờ cõi xưa đà chia đất khác
Nắng sương nay há đội trời chung
Chừng nào Thánh đế ân soi thấu
Một trận mưa nhuần rửa núi sông.
(Xúc cảnh- Nguyễn Đình Chiểu)
2. Cảm hứng yêu nước ở giai đoạn này quan trọng hơn là còn thể hiện ở cả
những vui, buồn, hờn giận, thao thức, bồi hồi, băn khoăn, hổ thẹn....với
những cảm xúc, những màu vẻ, cung bậc khác nhau.

Vốn xưng nền văn hiến bấy lâu
Núi sông bờ coi đã chia
Phong tục bắc nam cũng khác”
(Nguyễn Trãi)
Niềm rạo rực hả hê khi chiến thắng quân thù:
“Biển rung gió bấc thế bừng bừng,
Nhẹ kéo buồm thơ lướt Bạch Đằng
Kình ngạc băm vằm non mấy khúc
Gió gươm chìm gãy bãi bao tầng
Quan hà hiểm trở trời kia dựng
Hào kiệt công danh đất ấy từng.
(Bạch Đằng hải khẩu- Nguyễn Trãi)
-> hồn thơ trác việt vừa say đắm trước cảnh hùng vĩ mà mĩ lệ của thiên nhiên
vừa tự hào về chiến tích vẻ vang cuả cha ông.
- Đó là nỗi buồn mất nước, nỗi nhục mất nước, hổ thẹn buồn đau khi chưa
tròn trách nhiệm với nước.
“ Bờ coi xưa đà chia đất khác”
(Nguyễn Đình Chiểu)
“Khen ai khéo vẽ trò vui thế
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu”.
(Nguyễn Đình Chiểu)
- Thao thức băn khoăn khi nước chưa yên, dân chưa no ấm:
“Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống”
(Nguyễn Trãi)
- Đó còn là nỗi day dứt về một thời đã qua, về chiến tranh với những hi
sinh mất mát:
“Việc nước quay đầu ôi đã vắng
Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng”.
=> Mỗi tác phẩm đã khai thác một khía cạnh của tình cảm yêu nước, khai thác

(Dẫn theo Ngữ văn 9, tập 2 – NXB Giáo dục, H.
2006)
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Dựa vào một số tác phẩm văn học đặc sắc
trong chương trình văn học Trung đại Việt Nam đã học và đọc thêm, em hãy
làm sáng tỏ ý kiến trên.
Đề 5: Trong bài “Cảm nhận văn học”, Giáo sư Lê Đình Kỵ cho rằng “ Tác
phẩm nghệ thuật đạt tới cái đẹp theo nghĩa: mang được sự thật sâu xa của đời
sống bên ngoài, đồng thời mang được sự thật tâm tình của con người”.
Bằng những hiểu biết về cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Du, em hãy làm
sáng tỏ nhận xét trên.
Đề 8: "Một tác phẩm để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc chính là xây
dựng thành công tình huống truyện và miêu tả nội tâm nhân vật".
Bằng hiểu biết của em về tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”
của nhà văn Nguyễn Dữ, hãy làm sáng tỏ nhận định trên.


Đề 9: Trong văn bản “Tiếng nói của văn nghệ”, Nguyễn Đình Thi viết:
“Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại.
Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì
mới mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một
phần của mình góp vào đời sống chung quanh”.
( Ngữ Văn 9, Tập II, Tr 12,13- NXB GD 2005)
Qua “ Truyện Kiều”, của Nguyễn Du em hãy làm sáng tỏ “ điều mới mẻ”,
“lời nhắn nhủ” mà Nguyễn Du muốn đem “góp vào đời sống”.
KHÁI QUÁT CHUNG
Văn học trung đại Việt Nam nếu hình dung như một thứ màu vàng, một
vụ quả bội thu thì mảnh đất gieo trồng của nó có mồ hôi, công sức và cả ước mơ
của người gieo hạt. Thế hệ ông cha chúng ta đã cần mẫn xới vun bằng tình yêu
của mình với mảnh đất ấy. Sự nghiệp giữ nước gian khổ mà vinh quang, và ý
thức trách nhiệm của người cầm bút đã đem đến văn học trung đại cảm hứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status