Quan niệm về xã hội hóa cá nhân và phân tích ảnh hưởng nhóm bạn đến sự hình thành nhân cách - Pdf 11

-1-

TRẦN HUY CƯỜNG
QUAN NIỆM VỀ XÃ HỘI HÓA CÁ NHÂN
VÀ PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG NHÓM BẠN
ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH
(TIỂU LUẬN MÔN HỌC “XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC”)

động và giao lưu. Xã hội hóa cho phép con người nhận thức tồn diện hiện thực xã
hội xung quanh, chiếm lĩnh những kỹ năng hoạt động của cá thể và tập thể, hấp thu
văn hóa người.
Kinh nghiệm xã hội là một dạng tri thức, là kết quả của một q trình nhận
thức. Kinh nghiệm xã hội ám chỉ một sự hiểu biết có tính chất kinh nghiệm mà cá
nhân tiếp thu được trong khi tiếp cận trực tiếp với mơi trường tự nhiên và xã hội của
mình. Sự hiểu biết mang tính chất kinh nghiệm là một tiền đề để đi sâu vào lý luận,
vào đối tượng nhận thức và là khâu trung gian giữa lý luận và thực tiễn.
Xã hội hóa cá nhân và cá thể hóa phụ thuộc phạm trù hình thành và phát triển
nhân cách. Về cơ chế xã hội hóa này, ở con người Việt Nam, cần nhấn mạnh : 1.
Những điều kiện sinh học, những điều kiện mơi trường tự nhiên thuận lợi hơn; 2.
Những điều kiện kinh tế - xã hội thỏa mãn quyền lợi và những nhu cầu cơ bản của
con người; 3. Những điều kiện văn hóa có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển
nhân cách nói chung, đặc biệt là lối sống cá nhân và nhóm xã hội; 4. Những điều
kiện giao lưu và hợp tác quốc tế. 1
Lê Sơn, XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC, Chuyên đề khoa học, TPHCM, 2004 – Trang 18.
-3-

Xã hội hóa cá nhân và cá thể hóa diễn ra suốt đời, một cách liên tục, nhưng ở
mỗi lứa tuổi, mỗi q trình chịu tác động của những phương tiện điều kiện ưu trội.
ðặc biệt là các thiết chế, các phương tiện và các mơi trường xã hội hóa.
Con người sống trong mơi trường xã hội đầu tiên là gia đình. Ngay từ lúc hình
thành, thai nhi đã lệ thuộc mật thiết vào bố mẹ. Nó nằm trong lòng mẹ về mặt sinh
học, nhưng đồng thời nó thừa hưởng di truyền về mặt xã hội. Gia đình là cái nơi cần
thiết cho sự phát triển của trẻ, làm cho sự trưởng thành sinh học của nó và những
mối liên hệ của nó phù hợp với mơi trường. ðây là giai đoạn xã hội hóa đầu tiên.
Q trình tiếp nhận tri thức, kỹ năng, phương pháp thái độ đối với thế giới khách

hơn là loại sách có hình ảnh minh họa. Hiệu quả tiếp thu tri thức qua sách, báo
chỉ đạt khoảng 20% – 30% và sách chỉ phù hợp với những nội dung ít phức tạp và
phổ thông.
-4-

Đặc điểm của truyền hình và phim là hệ thống biểu tượng của nó mang tính
chuyển động và biến đổi của hình ảnh và âm thanh tác động đến hai giác quan là
thò giác và thính giác, do đó nội dung cần truyền đạt dễ dàng được chú ý và cuốn
hút người học với các dạng hình ảnh được trình bày ở nhiều khía cạnh và các dạng
âm thanh sinh động, rõ ràng.
Phương tiện truyền thông dạng này đặc biệt hiệu quả với những nội dung cần
truyền đạt chỉ mang tính chất cần người học lặp lại, bắt chước. Do đó nó rất hiệu
quả khi chọn để truyền đạt tri thức cho lứa tuổi từ 1 – 11.
Ngoài ra, truyền hình còn là phương tiện đại chúng nên nó tác động rất
mạnh mẽ đối với những nội dung được xem xét nhiều lần và bằng nhiều khía
cạnh khác nhau. Ví dụ
: HLV Mourinho đã lớn tiếng chỉ trích giới điều hành bóng
đá và các phương tiện truyền thơng Anh quốc đối xử khơng cơng bằng với Chelsea.
Mourinho lấy cú tắc của Gerrard với Shearer làm dẫn chứng: " Pha vào bóng của
Essien được phát liên tục trong 15 ngày. Kết quả là anh ta bị treo giò hai trận ở
Champions League, và từ đó trở đi tất cả các pha tắc bóng của Essien đều bị phạt
thẻ vàng. Còn những người khác lại khơng bị như thế. Tơi thấy Gerrard của
Liverpool cũng vào bóng tương tự với Shearer nhưng truyền hình cũng chỉ phát lại
tình huống đó một hai lần".
1

Hiệu quả tiếp thu tri thức qua truyền hình, phim đạt khoảng 50% – 60% và
nó phù hợp với những nội dung khó diễn tả bằng văn bản và không đòi hỏi sáng
tạo trong quá trình tiếp thu.
Ngoài khả năng truyền tải nội dung dưới dạng hệ thống biểu tượng chuyển

tác động đến các loại thần kinh khác nhau trong quá trình nó yêu cầu giải mã tỉ
mó.
Mỗi hệ thống biểu tượng của các phương tiện truyền thông tác động đến các
giác quan khác nhau của người học, vì vậy nó sẽ tác động đến những loại thần kinh
khác nhau. Như vậy, trong một chừng mực nào đó hệ thống biểu tượng đã đònh rõ
sự khác nhau ở mức độ tiếp thu kiến thức từ các loại truyền thông khác nhau.
Theo nghiên cứu mới của Hiệp hội các nhà xuất bản trực tuyến OPA, web
đang trở thành kênh thơng tin đại chúng hàng đầu tại cơng sở và chỉ chịu lép vế Ti
vi trong mơi trường gia đình
2
. Ảnh hưởng của weblog và của Internet tới các loại
hình truyền thơng truyền thống. Xu thế phát triển hiện nay của weblog lớn đến mức
chỉ vài năm trước đây, thậm chí nhiều chun gia còn khơng biết đó là gì thì bây giờ
đã hình thành cả một cộng đồng hàng chục triệu weblogger (chỉ những người mê
weblog). Có thể đưa ra một so sánh sau, nếu như vài năm trước ở Việt Nam chỉ có
rất ít người được tiếp cận với Internet thì bây giờ, nếu có dịp về những vùng sâu
vùng xa, vẫn có thể bắt gặp những qn cafe internet và chuyện "chat, chit" đã "xưa
như trái đất". Còn ở thành phố thì Internet đã từ lâu trở thành một phần tất yếu của
cuộc sống rồi. Hơn thế nữa, một phần ngày càng quan trọng của đời sống, thậm chí,
giờ đây, người ta khơng thể hình dung nổi sẽ sống thế nào nếu thiếu internet
3
.
Weblog – Phương tiện truyền thơng của tương lai gần?! Các nhà báo ở các
nước khác nhau chịu áp lực khác nhau. ðó cũng là lý do vì sao người ta tìm đến
Weblog. Có thể họ thấy CNN q thương mại hoặc khơng u nước. Tuy nhiên,
Weblog khơng cần giống CNN, NY Times hay Fox News. Ở đây, bạn có thể nói lên
quan điểm của mình. Và weblog cho bạn biết là thơng tin đưa trên các phương tiện
truyền thơng chính thống có đúng hay khơng. ðiều gì đã được đưa và điều gì khơng
được đề cập đến. Ngun nhân là các biên tập viên, phóng viên của các hãng chính
thống cho họ quyền phân định đâu là tin tức và đâu là khơng.

đời. Mỗi lứa tuổi nhân cách có những đặc trưng khác nhau. Sự hình thành này kết
hợp những yếu tố : 1. Sự sinh trưởng thành thục của cơ thể (hay suy thối); 2. Sự
tiếp nhận các yếu tố văn hóa, xã hội, qua nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp, gọi là
“nhập thân văn hóa”; 3. Sự hình thành những cơ cấu tâm lý qua những q trình vơ
thức hay hữu thức.
1

Nhân cách được hình thành trong hoạt động và giao lưu với những nhân cách
khác nhau. Từ thuở nhỏ, trẻ nhờ giao lưu với bố mẹ, người thân, bạn đồng lứa mà
dần học được cách sống, cách ăn ở, tiếp nhận, hội nhập, chuẩn bị đạo đức, quan hệ
xã hội hay nói rộng hơn “nhập thân văn hóa” để trở thành nhân cách, thành người.
Con người là một thực thể có nguồn gốc tiến hóa từ các cơ thể sống đến động
vật, con người đã kế thừa nhiều thuộc tính của lồi vật như sống hợp quần thành
bầy đàn, xã hội, tập tính tự vệ…Con người trong xã hội khơng thể sống tách biệt, cơ
độc. Khơng ai có thể sống một mình, làm việc một mình. Như vậy, vai trò của xã
hội, mà trực tiếp là cộng đồng, là nhóm nhỏ đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách thực sự quan trọng.
Nhóm ở đây là nhóm người, nhóm xã hội. Con người kết tụ, hợp quần dưới
nhiều hình thái khác nhau như : Gia đình, tổ học tập, tổ sản xuất, đến họ tộc, làng,
nước, dân tộc. C.H Cooly, năm 1909 chia nhóm ra thành nhóm sơ cấp và nhóm thứ
cấp. Trong đó, nhóm sơ cấp (gia đình, nhóm nhỏ…) có quan hệ trực diện (hàng
ngày trong thấy nhau) và nó có nhiều ảnh hưởng đến tình cảm cá nhân và hình
thành phẩm chất nhân cách.
Nhà nghiên cứu Kirichchues (Ukrain) đã quan sát trên 3000 trẻ em tuổi mẫu
giáo, thì thấy tất cả đều kết nhóm : Nhóm bạn chơi, nhóm bạn cùng đi đường, nhóm
bạn ngồi cùng bàn. Có bạn, trẻ em cảm thấy đỡ lo hãi, an tâm hơn, vui hơn, thích
thú hơn khi phải xa tổ ấm quen thuộc gia đình, bên cạnh bố mẹ, ơng bà. Có bạn, trẻ
cân bằng hơn về tâm lý và là điều rất quan trọng. Song các nhóm bạn này ít ổn định
và bền vững. Tính duy kỷ (chỉ biết mình, mình là trung tâm) đã làm rạn vỡ các quan
hệ nhóm.

trì kết cấu nhóm. Trong khi tự khẳng ñịnh, có ý thức về quyền của mình, ñồng thời
lại công nhận sự cần thiết có người khác và giám sát người khác. Tuy nhiên, ở ñộ 9
tuổi thành phần nhóm chưa ổn ñịnh. Trẻ em chưa có khả năng chọn bạn chơi mà
thường do bố mẹ áp ñặt theo quan hệ xã hội của bố mẹ. Còn ở nhà trường việc chia
lớp, chia nhóm học tập cũng khá ñộc ñoán – do ñó, trẻ kết bạn bất kỳ ở ñâu mà nó
gặp nhu : Cùng lớp, cùng khu phố, cùng chung cư, cùng ñường ñi về. sự lựa chọn
không có cơ sở thực sự dựa trên ñộ tương hợp cá nhân.
Như vậy, nhóm bạn ở giai ñoạn ñầu ñi học có ảnh hưởng khá lớn ñến sự hình
thành những phẩm chất xã hội ở trẻ em. Chính ở trong nhóm và cũng chỉ trong
nhóm mà thôi trẻ em có thể thử nghiệm mối quan hệ xã hội qua lại và sự cân bằng
tương lai. Trong nhóm, trẻ em có sự cọ xát va chạm, tranh giành, cãi cọ, hờn dỗi,
tập bảo vệ ý kiến, quyền lợi của mình, nhưng ñồng thời cũng học cách hòa giải,
giúp ñỡ, cứu trợ, hợp lực ñể ñi ñế mục tiêu chung của nhóm. Trẻ em học sự chia sẽ
vui buồn, khó khăn, các thất bại hoặc chiến tích. Biết ñoàn kết, biết phê phán bạn và
phán xét mình, biết tự trách phạt mình và trách phạt bạn. Trong nhóm trẻ cùng lứa;
trẻ em chịu phục tùng quyền uy, ñồng thời cũng thể hiện quyền uy, kiểm soát kẻ
khác. Song không phải là hình thức ép buộc của người lớn. Sự tự bắt buộc do tự
nguyện, từ một sự thỏa thuận, bình ñẳng. Piaget ñã nói : “Trẻ ñã trải qua từ một ñạo
lý tuân thủ ñơn phương và phục tùng người lớn ñến một thức ñạo lý tôn trọng lẫn
-8-

nhau, một sự quy ước giữa những người bình ñẳng và thứ ñạo lý nào sẽ ñến ñộ toàn
vẹn vào giai ñoạn tiếp theo khi nhóm ñã ñạt ñến mức kiên ñịnh ñầy ñủ.”
1

Từ 9 tuổi trở ñi, nhóm dần dần ổn ñịnh và ñồng nhất hơn. Trẻ trong nhóm ở
cùng lứa tuổi, nhưng ñứa bé “con nít” quá bị loại trừ; hoặc những ñứa lớn quá thì sự
có mặt của chúng có thể làm giảm giá trị ñối với các thành viên trong nhóm. Các
nhà tâm lý cho rằng ở lứa tuổi thơ, trẻ em sống “cộng sinh” với nhóm hơn bất kỳ
một thời ñiểm nào ñó trong cuộc ñời, có cuộc sống xã hội của cá thể ñạt ñến cường

người vô gia cư, quyên góp quà bánh ñể tặng quà tết, trung thu cho trẻ mồ côi…
ðối nghịch lại là những nhóm tiêu cựu. Những nhóm bạn trẻ ở các sàn lắc. Họ
cũng lập nhóm, cũng… tự quản, không chịu một sự chi phối nào, mà sao hành ñộng
của họ khác nhau tới lạ kỳ. Các bạn trẻ này ngủ ban ngày và thức ban ñêm, tiêu phí
rất nhiều sức khỏe, trí lực và tiền bạc vào những cuộc nhậu nhẹt, khiêu vũ, vào
rượu, thuốc lắc và ma túy. Thiên ñường của họ là những sàn lắc, những dấu tích 1
Leâ Sôn, TRẺ GIỮA NHÓM BẠN BÈ, TPHCM, 2004 – Trang 4.
2

-9-

trụy lạc vương vãi trên sàn nhà và in dấu lên những khuôn mặt, ñôi mắt non trẻ và
những lời tâm sự chất ñầy buồn chán, bất cần ñời…
Và ñể thực hiện ñược “những ước mơ xanh” ñó, các cô cậu sinh viên trong
nhóm không lúc nào thôi ñổ mồ hôi. ðến hội trường Trường ðH Bách khoa, thấy
băngrôn, bong bóng, thấy những chiếc áo xanh lá cây ñồng phục của Những ước
mơ xanh” chạy ñi chạy lại, thấy gian hàng bày bán sản phẩm của khuyết tật, nghe
những tiếng cười, tiếng hát, cảm ñược vẻ sáng bừng trên những gương mặt của trẻ
em ñến từ các mái ấm khiếm thị… biết chương trình của các bạn ñã thành công.
Không cần nhiều bánh kẹo, nhiều hoa, nhiều quà, nhiều kinh phí, chỉ cần lòng
thương yêu và sự nhiệt tình của các bạn là ñủ. Một thành viên trong nhóm ñã nói :
“ðến với những người thiếu may mắn, tụi em biết mình ñủ ñầy, mình sung sướng,
mình hạnh phúc. Chẳng có lý do gì ñể không học ñược. Các bạn khác có thời gian
ñi chơi thì tụi em cũng có thời gian ñể làm việc mình mong muốn”.
Theo dõi những hoạt ñộng của nhóm, chứng kiến những bàn tay tin cậy của
các em bé khiếm thị cứ quấn quít không rời các anh chị, nghe ñược những bàn cãi,
lo lắng của cả nhóm chỉ cho một mục ñích “lợi ích và niềm vui cho người thiếu may

B.

C.

D.
E.
/>
F.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status