Giáo dục đại học thế giới và Việt Nam
Hòa
Giảng viên: PGS.TS. Nguyễn Đức
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
*******************
BÀI TIỂU LUẬN
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn
Học viên thực hiện
Học viên: Đỗ Xn Tình
: PGS. TS. Nguyễn Đức Hòa
: Đỗ Xn Tình
Page | 1
Giáo dục đại học thế giới và Việt Nam
Hòa
Giảng viên: PGS.TS. Nguyễn Đức
Ninh Thuận
- 5 năm đại học thì nó cũng chỉ là một phần nhỏ trong cái đại dương mênh mông kiến
thức sau này của đời con người.
Và thực tế cho thấy rằng kỹ năng cứng tạo tiền đề tốt, còn kỹ năng mềm tạo nên
sự phát triển. Người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75%
còn lại được quyết định bởi những kỹ năng mềm họ được trang bị. Chìa khóa dẫn đến
thành công thực sự là phải biết kết hợp cả hai kỹ năng này một cách khéo léo.
Mong ước của cá nhân tôi là hi vọng được nhìn thấy thế hệ sinh viên sau
này ngoài việc được đào tạo vững chắc các kiến thức chuyên môn thì sinh viên
còn được đào tạo một cách bài bản các kỹ năng và thái độ xử lý công việc khi các
em còn ngồi trên ghế nhà trường.
Theo UNESCO mục đích học tập là: “Học để biết, học để làm, học để chung
sống, học để tự khẳng định mình”. Nếu xem nhận định trên là một định nghĩa và đối
Học viên: Đỗ Xuân Tình
Page | 3
Giáo dục đại học thế giới và Việt Nam
Giảng viên: PGS.TS. Nguyễn Đức
Hòa
chiếu định nghĩa này với nền giáo dục của Việt Nam ngày nay thì mục đích học tập
của ta mới chỉ là học để biết, nghĩa là chỉ đạt được một trong bốn mục tiêu của
UNESCO. Chính vì vậy khi sinh viên tham gia phỏng vấn tuyển dụng thường chỉ gây
ấn tượng với nhà tuyển dụng thông qua bằng cấp, khả năng chuyên môn, kinh nghiệm
làm việc... Thế nhưng, năng lực của con người được đánh giá trên cả 3 khía cạnh: kiến
thức, kỹ năng và thái độ. Điều đó lại một lần nữa khẳng định rằng học không chỉ để
biết mà học còn để làm việc, để chung sống và để tự khẳng định mình.
Mỗi người học nghề khác nhau thì có các kỹ năng khác nhau nhưng các kỹ
năng sống và kỹ năng mềm là các kỹ năng cơ bản thì bất cứ ai làm nghề gì cũng nên
có và cần phải có.
tạo thêm nhiều kỹ năng cho nhân viên mới.
Các trường đại học cần lưu tâm hơn nữa vấn đề đào tạo kỹ năng mềm cho sinh
viên. Chương trình đào tạo cần được thiết kế thích ứng sao cho ở mỗi môn học trong
giáo dục đại học khi thiết kế bài giảng, tổ chức bài giảng ra sao để khi học sinh viên
ngoài việc tiếp thu được kiến thức chuyên môn còn có thêm cơ hội rèn luyện được các
kỹ năng mềm thông qua các hoạt động tổ chức môn học mà sinh viên theo học như:
thảo luận nhóm, thuyết trình nhóm, tự đọc rồi trả lời các câu hỏi, học cách lắng nghe ý
kiến….
Tuy nhiên, kỹ năng mềm cần được nghiêm túc nhìn nhận là một quá trình tích
lũy. Tân sinh viên dựa trên những khả năng của bản thân, mục tiêu trong tương lai để
xây dựng lộ trình rèn luyện các kỹ năng qua mỗi năm học; từ đó đến khi ra trường,
sinh viên sẽ tự tin với năng lực của mình cùng với bộ hồ sơ xin việc hoàn hảo.
Nhà trường sẽ đóng vai trò quan trọng là người giới thiệu lợi ích kỹ năng mềm
đem lại cho sinh viên sau khi ra trường nhằm làm thay đổi nhận thức của sinh viên về
việc học và việc đặt mục tiêu ở các kỹ năng. Trường cũng là chuyên gia cố vấn cho
sinh viên trước hết phải xác định rõ công việc mình muốn làm sau khi ra trường, sau
đó phân tích xem đối với công việc đó, đâu là kỹ năng “cứng”, đâu là kỹ năng “mềm”.
Chẳng hạn với vị trí nhân viên phòng Kinh doanh thì kỹ năng giao tiếp, thuyết phục
khách hàng lại chính là kỹ năng “cứng”, hay chính là chuyên môn của nghề nghiệp.
Nhưng với vị trí Lập trình viên máy tính thì đương nhiên đó là những kỹ năng “mềm”.
Việc xác định rõ “mềm”, “cứng” và nhận ra điểm mạnh, điểm yếu, những mặt thiếu
hụt của bản thân sinh viên là yêu cầu đầu tiên và rất quan trọng để trau dồi kỹ năng
“mềm”. Sinh viên thì phải tập kỹ năng hàng ngày, cũng như tập viết, tập đọc thì mới
nhuần nhuyễn được. Xã hội ngày này là một xã hội thay đổi, cần sự uyển chuyển chứ
không cần sự cứng nhắc.
Ở các nước tiên tiến trên thế giới, việc các kỹ năng đang được giảng dạy không
còn là một vấn đề mới mẻ.
Tại Mỹ: có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc:
1. Kỹ năng học và tự học (learning to learn).
Học viên: Đỗ Xuân Tình
một điều cần thiết đáp ứng được nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội. Mặt khác,
các sinh viên sau khi ra trường và gặt hái được nhiều thành công cũng chính là thể
Học viên: Đỗ Xuân Tình
Page | 6
Giáo dục đại học thế giới và Việt Nam
Giảng viên: PGS.TS. Nguyễn Đức
Hòa
hiện thành quả đào tạo của trường, nâng cao uy tín trong công tác đào tạo đối với
Trường.
+ Về kỹ năng cứng: nhiều trường đại học ở Việt Nam hiện nay vẫn đào tạo sinh
viên theo kiểu lý thuyết suông, khối lượng kiến thức lý thuyết quá lớn, tuy nhiên cơ
hội để sinh viên được tham gia thực hành, được cọ xát với các công việc sản xuất thực
tế còn quá ít.
Giáo dục Đại học hiện nay phần lớn không đáp ứng được yêu cầu phát triển của
xã hội trong giai đoạn mới. Học mà không có thực hành trong quá trình học là sai lầm
của giáo dục chuyên nghiệp trong thời đại mới. Sinh viên đang bị nhồi nhét quá nhiều
kiến thức cao siêu nhưng lại không có môi trường để ứng dụng. Với kiểu học này,
người học không làm được việc khi bị đẩy ra ngoài xã hội, sinh viên sau khi ra trường
phải mất một thời gian dài mới làm quen được với công việc thực tế. Việc này đang
lãng phí công sức, tiền bạc, tài năng của đất nước...
Nguyên nhân của vấn đề này là do thiếu sự liên kết chặt chẽ của nhà trường đối
với doanh nghiệp, chưa nắm bắt được nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp thành ra
nội dung đào tạo cứ lẩn quẩn bao nhiêu năm cũng chỉ vậy, dần dà trở nên lạc hậu vì
không nắm bắt đúng nhu cầu của doanh nghiệp. Hệ lụy này dẫn đến nạn thất nghiệp
tràn lan của sinh viên mới tốt nghiệp, theo số liệu thống kê năm 2013 cho thấy có tới
101.000 sinh viên thất nghiệp có bằng đại học.