Phan Thanh Long (CB)
Đặng Quốc Bảo
Phạm Khắc Chương
Từ Đức Văn
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM
Hà Nội 2010
1
A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA HỌC PHẦN
- Học phần này nhằm cung cấp cho người học một số vấn đề cơ bản về tình hình giáo
dục đại học trên thế giới và ở Việt Nam. Cụ thể là những vấn đề sau:
+ Sơ lược về lịch sử hình thành, phát triển của giáo dục đại học trên thế giới và ở Việt
Nam.
+ Xu hướng phát triển giáo dục đại học trên thế giới
+ Thực trạng giáo dục đại học Việt Nam hiện nay và phương hướng đổi mới giáo dục
đại học Việt Nam trong những năm tới.
+ Quản lí nhà nước về giáo dục đại học.
- Trên cơ sở những hiểu biết nói trên nhằm giúp người học có một quan điểm thích
hợp trong quá trình tham gia đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học, góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo tại trường mình công tác nói riêng và nền giáo dục đại học nước nhà nói chung.
B. ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG TÀI LIỆU
- Đây là tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên các trường đại học, cao
đẳng chưa qua đào tạo sư phạm.
- Tài liệu này cũng rất bổ ích cho những người tham gia vào quá trình đào tạo ở các
trường đại học, cao đẳng, các bạn sinh viên và những người quan tâm đến sự nghiệp giáo dục
đại học.
CHƯƠNG 1
LƯỢC SỬ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Phạm Khắc Chương
Mục đích yêu cầu:
Học chương này học viên cần phải nắm vững một số vấn đề sau:
miếu thờ thần. Đạo sĩ, tăng lữ là tầng lớp nắm được nhiều kiến thức khoa học như: số học,
hình học, thiên văn, địa lí,… làm nhiệm vụ giảng dạy bằng văn tự tiết hình. Ở Babilon đã có
một trường đại học, sinh viên được nhà nước cấp dưỡng sau 7 năm học. Họ được bản thân
quốc vương đến khảo sát để đào tạo thành những người quản lí xã hội.
- Ở Ai Cập cổ đại người ta cũng tổ chức các lớp học trong các miếu thờ thần để giảng dạy
cho con em vua chúa, tăng lữ và những người muốn trở thành tăng lữ những kiến thức về số
học, hình học để chia lại ruộng đất sau mùa nước lên của sông Nin (do bờ ruộng bị phù sa bồi
đắp); về y học để ướp xác; về thuật chiêm tinh để dự đoán thời tiết, mùa màng, sản xuất …
Thứ chữ Ai Cập cổ gọi là “văn tự thần thánh” thuộc chữ tượng hình, trước tiên là chỉ
ngay sự vật, rồi sau chỉ âm thanh. Ngày nay các thứ chữ đó còn được lưu giữ trên nhiều cổ vật.
(Từ đầu thế kỷ 19 một học giả người Pháp là Sămpôliông đã tìm ra cách đọc thứ chữ đó).
- Ở Trung Hoa cổ đại. Theo lịch sử thì từ đời nhà Hạ (2050 – 1580 TrCN) đã có trường
gọi là “Thành Quân” và thứ chữ viết tượng hình đã đạt trình độ khá hoàn chỉnh. Một số chữ
được khắc lên mai rùa, xương thú vật dùng để bói toán (gọi là văn tự giáp cốt). Nhà trường
cũng là nơi giáo dục, đào tạo con em chủ nô. Những người làm công tác giáo dục là những
quốc lão có đức, có vị.
Đến đời Tây - Chu (1066 - 771 Tr.CN) nền giáo dục đã được phát triển ở mức độ cao,
nền quốc học đã có hai cấp: tiểu học và đại học. Nội dung giáo dục cơ bản trong hai cấp đó là:
Lễ, Nhạc, Xạ, Ngự, Thư, Số. Đối với tiểu học thì thư, số là trọng điểm. Còn xạ và ngự thì kết
hợp với lễ, nhạc. Con em được vào tiểu học hay đại học không được bình đẳng như nhau. Thí
dụ, con vua vào tiểu học từ 8 tuổi và vào đại học từ 15 tuổi. Nhưng con của lớp triều quan thì
vào tiểu học phải 13 tuổi, vào đại học phải 20 tuổi. Tất nhiên nô lệ và con cái thường dân thì
không có điều kiện vào học các trường đó.
Trong các triều đại phong kiến Trung Quốc từ nhà Tần (221 Tr.CN), nhà Hán cho đến nhà
Minh, Thanh (1911) giáo dục từng bước phát triển về số lượng nhằm giáo dục đào tạo con em giai
cấp phong kiến, địa chủ để duy trì vương quyền và tuyển chọn nhân tài của các triều đại. Ngay từ
đời Đông Hán (925 - 220 Tr.CN) khi đóng đô ở Lạc Dương đã mở một nhà Thái học rất lớn có 247
“phòng”, 1850 “thất”, lúc đông nhất có tới ba vạn thái học sinh. Ngoài hệ thống nhà trường đại học
thường được xây dựng ở kinh đô và tỉnh lớn thì từ đời nhà Đường (581- 604) đã có tổ chức thư viện
được coi như là một loại trường đại học. Thư viện được đặt ở những nơi danh lam thắng cảnh, chứa
thành những người có trình độ cao, phát triển các mặt chân, thiện, mỹ. Nghiên cứu lịch sử phát
triển giáo dục thế giới, các nhà khoa học đều có một nhận định chung là việc giáo dục, đào tạo
con em giai cấp thống trị có trình độ học vấn cao đã được các quốc gia phát triển dưới chế độ
chiếm hữu nô lệ ở cả phương Đông và phương Tây. Tuy nhiên hình thức tổ chức, nội dung
giáo dục, yêu cầu về trình độ học vấn có khác nhau, nhưng đều có một mục đích chung là đào
tạo nhân tài để tham gia vào các hoạt động quản lý, phát triển của đất nước trong các thể chế
chính trị khác nhau.
Đến thời Trung cổ nhà trường “đại học” (gốc la tinh là universitas) theo đúng ý nghĩa của
nó về tổ chức, nội dung, chương trình, chất lượng đào tạo, giáo sư giảng dạy, v.v…được xây
dựng sớm ở một số quốc gia Tây Âu. Các trường đại học đầu tiên được phát triển dưới sự bảo
trợ của giáo hội công giáo, còn gọi là trường học nhà thờ, được thúc đẩy bởi các tu viện. Đó là
các đại học Bologna - La Mã (thành lập năm 1088), Trường Đại học Pari, Ooclêăng - Pháp
(1150), Trường Đại học Oxford, Kembridge - Anh (1167), Trường Đại học Xalamanca - Tây
Ban Nha(1218), v.v… Đến cuối thế kỷ XIV ở Châu Âu đã có tất cả 40 trường đại học danh
tiếng.
Trong số các trường đại học ở Tây Âu lúc bấy giờ thì trường Đại học Pari là nổi tiếng
nhất. Sinh viên ở đây lâp thành 4 hội đồng hương là Noócmăngđi, Anh, Gôlơ, Picacdi. Các
giáo sư cũng gia nhập các tổ chức mà sau này phát triển thành các khoa. Đến cuối thế kỷ XII
các tổ chức sinh viên và giáo dục liên hiệp lại để bầu ra hiệu trưởng (ban giám hiệu) có sinh
viên tham gia để điều hành việc giảng dạy và học tập. Trong mỗi trường đại học có nhiều khoa
khác nhau như: Pháp lý, y khoa, thần học, nghệ thuật. Các trường đại học thời Trung cổ có uy tín
rất lớn, nhiều khi người ta giao cho việc hoà giải sự tranh chấp giữa chính quyền và giáo hội.
Kết thúc thời kì trung cổ, nền giáo dục đại học hiện đại ra đời (vào thế kỷ XVIII) với đặc
trưng là vai trò của giáo hội ngày càng giảm và tập trung vào nghiên cứu khoa học (có phòng
thí nghiệm, có tạp chí công bố công trình nghiên cứu khoa học…) và ngày càng tiếp cận với
công chúng. Đó là mô hình của các trường đại học của Pháp và Đức.
Từ sự phát triển của các phương thức sản xuất từ thời kỳ cổ đại đến Trung đại, cận đại và
hiện đại, ngày nay hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đã có hệ thống nhà trường cao đẳng,
đại học đa ngành và chuyên ngành để đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quốc gia mình
và hỗ trợ cho quốc gia khác, góp phần to lớn vào mục đích giao lưu và hội nhập quốc tế. Do
trưng cầu ý kiến nhận xét từ các giáo sư, sinh viên của các trường; các công ty mà sinh viên tốt
nghiệp của trường được nhận vào làm việc; số lượng giáo viên, sinh viên quốc tế cũng như các
nghiên cứu mà trường đang thực hiện.
Theo ông Nunzio Quacquarelli, Giám đốc của QS, thì kết quả xếp hạng chính là sự thể
hiện rõ nhất, chân thực nhất về chất lượng giáo dục của các trường.
Theo bảng xếp hạng này, so với năm 2006, năm 2007 Anh là nước có nhiều tiến bộ nhất
với 4 trường trong số 10 trường đứng đầu. Mặc dù vẫn còn thua kém Mỹ (Mỹ có 6 trường),
nhưng Giáo sư Rick Trainor, Chủ tịch các trường đại học Anh vẫn rất lạc quan: "Kết quả xếp
hạng đã thể hiện nền giáo dục Anh đang chiếm chỗ đứng hàng đầu nhờ có công tác nghiên cứu
và giảng dạy chất lượng cao. Trong khi các đối thủ không ngừng tăng cường quảng bá thương
hiệu thì Anh vẫn vững vàng như là bến đỗ tốt nhất cho sinh viên, giáo viên toàn thế giới".
University College London là trường thăng hạng nhiều nhất, năm 2007 đã lọt vào Top 10
với vị trí số 9, mặc dù năm 2006 chỉ đứng thứ 25.
Đại học Standford, đứng thứ 6 năm 2006, nhưng năm 2007 đã tụt xuống thứ 19. Viện
Công nghệ Massachusetts cũng rơi từ vị trí thứ 4 của năm trước xuống vị trí thứ 10 trong năm
2007. Thụt hạng nhiều nhất trong bảng xếp hạng này là Đại học tổng hợp California Berkeley,
năm 2006 xếp thứ 8, còn năm 2007 xếp thứ 22.
Nền giáo dục châu Á cũng cải thiện được vị trí của mình với 13 trường lọt vào Top 100
(hơn năm 2006 một trường), trong đó có Osaka University và Chinese University of Hong
Kong ở Top 50. Còn châu Âu (trừ Anh) lại có vẻ tụt hạng, năm 2007 chỉ có 35 trường lọt vào
Top 100, so với 41 trường trong năm 2006.
Top 10 trường đại học hàng đầu trên thế giới năm 2007
1. Harvard University (Mỹ)
2. University of Cambridge (Anh)
3. University of Oxford (Anh)
4. Yale University (Mỹ)
5. Imperial C College London (Anh)
10. Massachusetts ollege London (Anh)
6. Princeton University (Mỹ)
7. California Institute of Technology (Mỹ)
của Việt Nam với các vị trí xếp hạng như sau: Đại học Khoa học Tự nhiên TPHCM: Xếp thứ
28 trong ASEAN và thứ 1.920 thế giới; Đại học Công nghệ TPHCM với vị trí tương ứng là: 36
và 2.190; Đại học Cần Thơ: 47 và 2.532; Đại học Quốc gia Hà Nội: 54 và 2.850; Đại học Bách
khoa Hà Nội: 62 và 3.156; Đại học Công nghệ: 90 và 4.217; Đại học Quốc gia TPHCM: 96 và
4.462.
Tạp chí Newsweek cũng công bố xếp hạng các trường đại học hàng đầu thế giới của mình
hàng năm, dựa trên sự cởi mở, đa dạng và những thành tựu xuất sắc trong nghiên cứu.
Nét mới của bảng xếp hạng này là chú trọng nhiều hơn vào tính chất toàn cầu của các
trường. Bởi vì các trường đại học trên thế giới ngày càng có ý thức trong việc hòa nhập vào
môi trường toàn cầu hóa.
Các trường thu hút sinh viên đại diện cho những nền văn hóa khác nhau từ khắp nơi trên
thế giới; gửi sinh viên của mình tới các trường đại học ở nước ngòai để trang bị cho sinh viên
một nghề đa năng. Đồng thời, mở các khóa học để đáp ứng những đòi hỏi của một thế giới phụ
thuộc lẫn nhau.
Các trường còn xây dựng các chương trình nghiên cứu hợp tác nhằm hướng tới lợi ích
chung.
Đại học Harvard của Mỹ lần thứ 10 liên tiếp dẫn đầu trong bảng xếp hạng này. Trong top
10 vẫn là những cái tên quen thuộc như Đại học Yale, Học viện Công nghệ Massachusetts, Đại
học Cambridge…
Newsweek đánh giá các trường dựa trên một số tiêu chí xếp hạng phổ biến của Đại học
Giao thông và Cục Khảo sát Giáo dục London. 50% kết quả được dựa trên ba tiêu chí: Số
lượng các nhà nghiên cứu cao cấp trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, số lượng bài viết
xuất bản trên tạp chí Khoa học và Tự nhiên và số bài viết được xếp hạng theo chỉ số Khoa học
xã hội và Nhân văn. 40% dựa theo các tiêu chí: Phần trăm các khoa quốc tế và sinh viên quốc
tế, sự đánh giá của các thành viên trong khoa và tỉ lệ khoa trên sinh viên. 10% còn lại là số
lượng đầu sách trong thư viện.
Giáo dục đại học ở bất cứ quốc gia nào cũng có sứ mệnh quan trọng là đào tạo nhân lực
trình độ cao và sáng tạo tri thức mới cho xã hội. Tuy nhiên, hiện nay nhiều trường đại học ở
Việt Nam vẫn còn thiên về chức năng đào tạo với quy mô ngày càng tăng về số sinh viên mà
chưa đầu tư tương xứng cho nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Chính
Bảy tổng thống Mỹ: John Adams, John Quincy Adams, Theodore and Franklin Delano
Roosevelt, Rutherford B. Hayes, John Fitzgerald Kennedy và George W. Bush đều là cử nhân
của Harvard. Các cán bộ giảng dạy của trường ĐH danh tiếng này cũng đã tạo ra 40 nhà khoa
học giành giải Nobel. Chi phí của mỗi sinh viên trong năm 2004-2005 là 40.000 đôla.
Mục tiêu của Harvard là cố gắng tạo ra sự hiểu biết và mở mang trí óc của SV đến với
hiểu biết đó, đồng thời giúp SV tận dụng tốt nhất các cơ hội giáo dục của họ. Chính vì thế mà
Harvard khuyến khích sinh viên tôn trọng các ý tưởng và sự thể hiện tự do của họ, hãnh diện với
sự khám phá và khả năng suy nghĩ, theo đuổi tinh thần hợp tác và nhận trách nhiệm đối với hậu
quả của những hành động cá nhân.
Sự ủng hộ mà đại học Harvard dành cho sinh viên là nền tảng để họ xây dựng tính độc
lập và thói quen học tập suốt đời.
Nằm trong trường Đại học Tổng hợp Harvard có rất nhiều trường trực thuộc, trong đó
phải kể tới 4 trường rất nổi tiếng sau:
1. Trường kinh doanh Harvard (Harvard Business School)
- Năm thành lập: 1908
- Địa điểm: Boston, Massachusetts
- Phương châm đào tạo: “đào tạo nên những nhà lãnh đạo làm nên sự khác biệt trên thế
giới” (to educate leaders who make a difference in the world).
- 65.000 sinh viên đã tốt nghiệp của trường có rất nhiều người là lãnh đạo của những
tập đoàn danh tiếng, trong đó có cả những nhà lãnh đạo của các quốc gia như trường hợp của
Tổng thống Mỹ Geogre W. Bush.
9
- Luôn luôn đứng đầu danh sách các trường kinh doanh uy tín nhất của Mỹ (theo
www.forbes.com).
- Các trung tâm nghiên cứu toàn cầu:
California Research Center, Palo Alto
Asia-Pacific Research Center, Hong Kong
Latin America Research Center, Buenos Aires
Japan Research Office, Tokyo
Europe Research Center, Paris
một khuôn viên rộng, có thể coi đây là một “mô hình đô thị đại học” đã khá phổ biến với các
trường đại học lớn ở Âu, Mỹ và một số nước phát triển ở châu Á.
Đại học tổng hợp Stanford (California, Mỹ) là một
trong những trường hàng đầu của Mỹ. Nằm ở 2 quận San
Mateo và Santa Clara, cách thành phố San Francisco
khoảng 1 tiếng đi xe, trường đại học có khuôn viên rộng lớn
nhất nước Mỹ này sở hữu các rừng cây tùng bách trải dài và
bờ biển Thái Bình Dương tuyệt đẹp.
Đại học Stanford.
10
Trường đại học Stanford có diện tích tổng cộng hơn 3300 hecta của bang
California, trong đó 2800 hecta là tài sản của trường và không trực thuộc cơ chế quản lý hành
chính của thành phố.
Đây là một quần thể bao gồm 1 trường đại học và 7 trường cao học cùng hàng trăm viện
nghiên cứu lớn nhỏ. Khuôn viên trường trải rộng trên khoảng 90km đường, có một nhà máy
cấp điện với tải lượng 49 MW, 2 hệ thống cấp nước riêng, 3 đập và hồ nước, 170km đường
ống dẫn nước, 1 hệ thống sưởi trung tâm, một hệ thống truyền tải điện với năng suất lớn, và
một bưu điện.
Ngoài ra, Stanford còn cung cấp hoặc thuê riêng một hệ thống phòng chữa cháy, công an
và nhiều dịch vụ khác. Stanford là một trong những đơn vị trường đại học sử dụng điện tiết
kiệm nhất bang. Nhà máy điện của trường cung cấp toàn bộ điện cho trường và còn thừa đến
25 MW cho dân thường sử dụng.
94% sinh viên đại học, 54% sinh viên cao học và 30% giảng viên của trường sống trong
khuôn viên này. Diện tích nhà ở của giảng viên và cán bộ công nhân viên của trường bao gồm
cả nhà thuê và nhà mua.
Trong khuôn viên có vườn hoa, rất nhiều thư viện, nhà thờ, và bệnh viện (thuộc trường
Y)… Khuôn viên Stanford có rất nhiều cây xanh và thảm cỏ với hệ thống tưới tiêu tự động.
Khu nghiên cứu Stanford nằm trong khuôn viên trường được thành lập năm 1951 để đáp
ứng nhu cầu phát triển đất công nghiệp ở gần trường học và phát triển ngành điện tử gắn với
trường đào tạo kỹ sư của đại học Stanford.
Toà nhà đầu tiên của MIT được hoàn thành ở Boston's Back Bay năm 1866. Các năm
kế tiếp, MIT đã gây dựng được danh tiếng của mình trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, tuy
vẫn còn trong thời kì khó khăn về tài chính. Đã có quan điểm cho rằng MIT nên liên kết với
Đại học Harvard, một đại học có nguồn tài chính dồi dào nhưng yếu hơn về khoa học công
nghệ để cùng phát triển. Vào những năm 1900, một đề nghị hợp tác với Harvard được đưa ra
nhưng sau đó bị hoãn lại do sự phản đối của các cựu sinh viên MIT. Năm 1916, MIT chuyển
sang khu vực Cambridge hiện tại.
Trong suốt lịch sử của mình, MIT luôn tập trung vào các phát minh trong lĩnh vực khoa
học công nghệ. Số liệu năm 1997 cho thấy tổng thu nhập do các công ty lập nên bởi MIT đứng
hàng 24 trong nền kinh tế thế giới. Năm 2001, MIT triển khai dự án Open Course Ware đưa
các học liệu mở lên mạng Internet. Cùng năm đó Chủ tịch trường là Charles Vest lần đầu tiên
đã công nhận rằng, học viện của ông đang có hạn chế lớn đối với các sinh viên và nhà khoa
học nữ, và ông cam kết sẽ có các chính sách thích hợp để cải thiện. Tháng 8 năm 2001, Susan
Hockfield, nhà thần kinh học, là phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ chủ tịch của MIT. Bà chính thức
đảm nhiệm chức vụ vào ngày 6 tháng 12 năm 2004 và là chủ tịch thứ 16 của MIT.
Tạp chí Atlantic năm 2004 xếp hạng MIT như là một trong những đại học khó vào nhất
tại Mỹ. Theo đánh giá của US News và World Report's thì MIT là 1 trong 5 trường luôn được
xếp hạng cao nhất, cùng với Havard, Stanford, Yale và Princeton. Năm 2005, quỹ đóng góp
của MIT cho nền kinh tế là 6.7 tỷ Đôla, xếp hạng thứ 6 tại Mỹ.
MIT được tổ chức thành 5 trường gồm 26 ngành học, bao gồm:
- Trường kiến trúc và Dự án: Kiến trúc; Nghệ thuật và Khoa học truyền thông; Nghiên
cứu về thành thị và dự án.
- Trường kĩ thuật: Không gian và vũ trụ; Chuyên ngành kĩ thuật sinh học; Kĩ thuật hóa
học; Môi trường và dân dụng; Điện học và khoa học máy tính, Kĩ thuật hệ thống; Kĩ thuật và
khoa học vật liệu; Kĩ thuật cơ khí; Kĩ thuật nguyên tử.
- Trường nhân văn, nghệ thuật và khoa học xã hội:Nhân chủng học; Nghiên cứu
truyền thông có tính cạnh tranh; Kinh tế; Ngôn ngữ và văn học; Lịch sử; Nhân văn; Ngôn ngữ
và triết học; Văn học; Âm nhạc và Nghệ thuật sân khấu; Khoa học chính trị; Khoa học, Kĩ thuật
và Xã hội; Nghiên cứu về con người; Báo chí.
- Trường quản lý Alfred P. Sloan.
Silicon” của nước Anh.
Còn chất lượng giáo dục của Cambridge thì được đánh giá bởi những lớp sinh viên sau
khi tốt nghiệp trở thành những người thành đạt. Ngôi trường này đã đào tạo ra rất nhiều nhà
thơ, doanh nhân, nghị sĩ, Phó thủ tướng hay những chức vụ tương tự cho nước Anh và cho cả
thế giới.
Có thể kể ra một vài yếu tố làm nên chất lượng của trường Cambridge đó là: giảng viên
giỏi, sinh viên ưu tú; phương pháp học đi đôi với hành; và nguồn đóng góp to lớn từ các nhà
tài trợ.
Sinh viên giỏi và giảng viên giỏi
Phó Hiệu trưởng trường Cambridge hiện nay - bà Alison Rechard đã trả lời câu hỏi này
như sau: “đó là tham vọng to lớn thu hút và giáo dục những sinh viên có triển vọng nhất, tốt
nhất ở mọi ngành; song song với tham vọng tuyển chọn những giảng viên giỏi nhất để dạy
những sinh viên ưu tú trên là làm công tác nghiên cứu mọi lĩnh vực của tri thức”.
Việc tuyển chọn những sinh viên giỏi là một truyền thống của Cambridge. Từ thế kỷ
XVII khi toán học là ngành mũi nhọn của Cambridge, những cuộc thi có tên gọi “Tripos” để
tuyển chọn sinh viên giỏi đã được tổ chức. Và sau đó hình thức này được áp dụng cho các
13
ngành khác như: ngành luật dân sự năm 1816, chuyên ngành thần học năm 1843 và cho đến
trước năm 1900 các cuộc thi để tuyển chọn sinh viên giỏi này đã được áp dụng cho hầu hết các
chuyên ngành.
Để thu hút những sinh viên giỏi, Cambridge còn rất chú trọng đến chính sách hỗ trợ
sinh viên, đặc biệt là những sinh viên nghèo. Chính sách này đã là truyền thống ở Cambridge
từ thời trung cổ, nhà bác học Issaac Newton đã là một sinh viên trong diện hỗ trợ này. Như lời
phát biểu của bà Phó Hiệu trưởng trường: “Khi Isaac Newton vào trường với tư cách là một
sinh viên đại học, ông được hưởng hoàn toàn sự tài trợ của trường Trinity, lúc đó không ai biết
rằng ông là một thiên tài”.
Học đi đôi với hành
Chất lượng giáo dục của Cambridge còn được khẳng định bởi nguyên tắc học tập phải
luôn đi đôi với nghiên cứu“. "Ở Cambridge chất lượng giảng dạy tuyệt vời và các nghiên
cứu tuyệt vời luôn gắn liền với nhau”. Nguyên tắc này cộng với đầu vào sinh viên tốt, điều
trường đại học được xây dựng để phục vụ đời sống văn hoá, xã hội của sinh viên cao học và
nhân viên của trường từ sự cung cấp tài chính của quỹ Wolfson. Và chính quỹ này cũng giúp
thiết lập Văn phòng liên lạc công nghiệp của trường để phục vụ cho dự án “Hiện tượng
Cambridge“ hay cũng có thể gọi là “Điều thần kỳ Cambridge”. Và còn rất nhiều, rất nhiều các
nhà tài trợ khác đã đóng góp cho sự phát triển của Cambridge.
Nhân tố thứ ba này tuy không phải là nhân tố quyết định nhưng nó cũng đóng một vai trò
vô cùng quan trọng, là cơ sở để hai nhân tố trên có thể phát huy toàn bộ tính hiệu quả của nó.
14
Hiện tại thế giới đang ở trong kỷ nguyên của công nghệ với tốc độ thay đổi chóng mặt
của thông tin, đồng thời đứng trước những thách thức vô cùng to lớn như nguy cơ thiếu hụt
năng lượng, biến đổi môi trường Điều này đặt vai trò của công tác nghiên cứu lên một tầm
quan trọng hơn bao giờ hết. Với truyền thống là một trung tâm nghiên cứu nổi tiếng thế giới,
Cambridge đang trong thời kỳ mở rộng lớn nhất trong lịch sử phát triển của mình để đáp ứng
những đòi hỏi của thực tế, với việc nâng cấp một trung tâm khoa học công nghệ mới ở phía tây
trung tâm thành phố Cambridge. Đồng thời, trường coi việc đầu tư vào các lĩnh vực nghiên
cứu mới đặc biệt là đầu tư cho con người, nỗ lực và đổi mới sự hợp tác là yếu tố sống còn cho
sự phát triển của mình.
Năm 2009, Đại học Cambridge kỷ niệm tuổi 800 của mình. Phương châm của trường là
sẽ tiếp tục kế thừa những truyền thống của tám thế kỷ qua, đồng thời tiếp tục cố gắng để khẳng
định mình trong hàng ngũ những trường đại học vĩ đại nhất thế giới.
• Oxford - Đại học cổ nhất Anh Quốc, nơi đào tạo "người đứng đầu",
ĐH đầu tư nhiều tiền cho sinh viên nhất
Oxford là đại học cổ nhất trong thế giới các nước nói tiếng Anh. Tuy không có ngày
thành lập chính thức, nhưng việc giảng dạy ở đây đã được bắt đầu từ năm 1096 và phát triển rất
nhanh kể từ năm 1167 khi vua Henry Đệ Nhị của Pháp cấm sinh viên Anh học tập ở Paris. Hiện
tại, đại học Oxford có khoảng 17 ngàn sinh viên, 25% trong số đó là sinh viên quốc tế đến từ hơn
130 nước khác nhau trên thế giới.
University of Oxford, UK
Là một trong những đại học danh giá nhất thế giới và đứng đầu ở Anh (theo xếp hạng
năm 2005 của hai tờ báo nổi tiếng 'The Times' và 'The Guardian'), Oxford đào tạo rất nhiều
hàng năm giữa Đại học Oxford và Đại học Cambridge bắt đầu từ năm 1829 là một trong những
sự kiện thể thao có nhiều người xem nhất thế giới, với hơn nửa tỉ người xem truyền hình trực
tiếp năm 2004.
Mỗi sinh viên của Anh chỉ có thể nộp đơn vào Oxford hoặc Cambridge
Oxford - cũng như Cambridge - thường được nghĩ là nơi dành riêng cho các sinh viên
giàu có, mặc dù hai trường luôn phản đối điều này. Do số lượng nộp đơn quá lớn nên mỗi sinh
viên của Anh chỉ có thể nộp vào một trong hai trường mà thôi. Được vào Oxford luôn là một
niềm tự hào rất lớn của một sinh viên ở bất kỳ nước nào trên thế giới.
• Đại học Tokyo (Nhật Bản)
Ở châu Á, Nhật Bản là quốc gia có 2 trường nằm trong 100 trường đại học đứng đầu thế
giới, đó là đại học Tokyo (đứng thứ 14) và đại học Kyoto (đứng thứ 25) theo xếp hạng của tạp
chí Newsweek.
Trường Tokyo được thành lập bởi chính phủ Minh Trị vào năm 1877 với tên như hiện
nay bằng cách hợp nhất các trường Tây y cũ của chính phủ. Trường đã được đổi tên thành Đại
học Đế quốc (Teikoku daigaku) năm 1886, và sau đó là Đại học Đế quốc Tokyo (Tōkyō
teikoku daigaku) năm 1887 khi hệ thống đại học đế quốc của Nhật được hình thành. Đây là
trường đại học quốc gia đầu tiên tại Nhật. Trường giảng dạy tất cả các môn học chủ yếu cho cả
bậc dưới đại học và trên đại học và cung cấp phương tiện nghiên cứu cho các môn học này.
Trường có 2.800 giáo sư, phó giáo sư và giảng viên, và khoảng 28.000 sinh viên theo học.
Năm 2003, trường có 2.100 sinh viên quốc tế, 2.200 nhà nghiên cứu nước ngoài đến tham
quan, khảo sát trong thời gian ngắn.
Năm 1947, sau khi Nhật thất bại ở Chiến tranh thế giới thứ hai, trường lấy lại tên ban
đầu. Với sự bắt đầu của hệ thống đại học mới năm 1949, Todai sáp nhập trường trước đó là
Trường trung học đệ nhất (ngày nay là Khu đại học Komaba) và cựu Trường trung học Tokyo,
là trường mà từ đó chịu trách nhiệm giảng dạy sinh viên đại học năm đầu và năm hai, trong khi
các khoa của campus Hông chính chịu trách nhiệm các sinh viên năm thứ 3 và thứ 4. Từ năm
2004, Đại học Tokyo đã được hợp nhất vào Liên đoàn đại học quốc gia theo sắc luật áp dụng
cho các trường đại học quốc gia. Trường hiện chịu quản lý một phần của Bộ Giáo dục, Văn
hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản.
Trong các chuyên ngành học hàn lâm được dạy ở trường, có lẽ trường này nổi danh
Thành tích nổi bật của trường: Giáo sư Emeritus Masatoshi Koshiba của trường đã đoạt
giải Nobel Vật lý năm 2002.
• Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc)
Đại học Thanh Hoa (Peking University) là một viện khoa học và kỹ thuật tổng hợp, được
thành lập năm 1911 bằng tiền bồi thường của Mỹ. Trường đại học này được xây dựng tại
Thanh Hoa lâm viên - một khu nghỉ mát thời Minh, Thanh. Hiện nay trường nằm trong số 10
trường đại học hàng đấu thế giới.
Tọa lạc tại thủ đô Bắc Kinh, trên một khung cảnh tuyệt đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại với
12 học viện với 48 khoa khác nhau đào tạo 51 chuyên ngành như Học viện kỹ thuật, học viện
kiến trúc, Học viện Pháp luật, Học viện mỹ thuật, Học quản lý hành chính công, Học viện
quản lý kinh tế, nhiều trung tâm nghiên cứu, khoảng 87 phòng thí nghiệm và 9 nhà máy được
sử dụng để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu. Thư viện tại đại học Thanh Hoa có 2 triệu
bản sách và 3.000 tạp chí chuyên ngành nhờ có sự trao đổi hợp tác với 200 trường đại học và
viện nghiên cứu nước ngoài.
Hiện tại Đại học Thanh Hoa có hơn 1300 lưu học sinh đến từ 70 quốc gia khác nhau trên
thế giới.
Thanh Hoa không chỉ nổi tiếng là một trường đại học hàng đầu Trung Quốc vì một bề
dầy lịch sử đào tạo chất lượng cao mà còn nổi tiếng với những cống hiến khoa học và xã hội
được cả thế giới công nhận. Hướng của trường là đào tạo sinh viên một cách toàn diện về Đức
- Thức - Thể - Mỹ nên cả về cơ sở vật chất đào tạo cũng như chất lượng đào tạo đều được
trang bị và chuẩn bị rất chu đáo. Các ngành được lựa chọn nhiều nhất hiện nay là Khoa học
công nghệ, Xây dựng, Nhân văn, Nghệ thuật, Tin học, Quản lý kinh tế và Pháp luật.
Đại học Thanh Hoa đang phát triển thành một trường tổng hợp với tốc độ đáng kinh ngạc
và hiện đứng đầu trong bảng xếp hạng các trường đại học của nước này. Với truyền thống
đáng tự hào trong 90 năm qua, Đại học Thanh Hoa vẫn giữ được danh tiếng và sức hấp dẫn
thông qua việc thúc đẩy mạnh mẽ nghiên cứu học thuật, đảm bảo uy tín ở trong và ngoài nước.
Hiện trường có trên 7.100 nhân viên, gồm trên 900 giáo sư và 1.200 phó giáo sư. Trong số đó, có
17
24 người là thành viên của Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc và 24 thành viên của Viện kỹ
thuật Trung Quốc.
• Đại học Sydney
Sydney University Được thành lập vào năm 1850, Đại học Sydney là trường đại học
đầu tiên của Úc và dẫn đầu trong lĩnh vực nghiên cứu. Đại học Sydney là thành viên của
“Group of Eight key Australian teaching and research universities” - Nhóm tám trường đại học
hàng đầu của Úc về nghiên cứu và giảng dạy, và được xếp hạng trong các trường đại học hàng
đầu của Úc và Châu Á Thái Bình Dương. Đại học Sydney cung cấp các khóa học đa dạng và
đào tạo hầu hết các ngành học của bất kỳ trường đại học nào ở Úc. Hiện trường có hơn 47.000
sinh viên, trong đó có khoảng 9.000 sinh viên quốc tế.
- Nổi tiếng trên thế giới về giảng dạy và nghiên cứu có chất lượng cao
- Những sinh viên tốt nghiệp thu hút các nhà tuyển dụng với mức lương cao
- Những người nổi tiếng đã từng học tại Đại học Sydney gồm có 4 Thủ tướng Chính
phủ, 3 người đoạt giải Nobel và các nhà lãnh đạo trong lĩnh vực giáo dục, chính trị, thương
mại và nghệ thuật.
- Đứng hàng đầu trên thế giới về dạy học mang tính hàn lâm và nghiên cứu bậc cao
- Tỷ lệ giữa số lượng sinh viên và giáo viên ở trường đạt mức xuất sắc 1/5, tốt hơn các
trường đại học khác ở bang New South Wales, Victoria và Queensland
- Có số lượng sinh viên nghiên cứu lớn nhất Úc
- Liên tục đứng đầu trong bảng xếp hạng của Hội đồng Nghiên cứu Úc
18
Trường đào tạo hơn 430 ngành học ở bậc đại học và sau đại học bao gồm 17 khoa:
Quản lý Nông nghiệp và Nguồn Tài nguyên Thiên nhiên, Kiến trúc, Nghệ thuật và Nhân văn,
Nha khoa, Kinh tế và Thương mại, Giáo dục và Công tác Xã hội, Kỹ sư, Hệ thống trường
công, Khoa học Sức khỏe, Luật, Y khoa, Âm nhạc, Điều dưỡng và Sản khoa, Dược, Khoa học,
Thú y, Thiết kế Đồ họa.
Đại học Sydney xếp thứ 79 trong 100 trường đại học hàng đầu thế giới.
2. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển giáo dục đại học Việt Nam
2.1. Giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ phong kiến
2.1.1. Cội nguồn văn hoá - giáo dục Việt Nam
Dân tộc ta đã có một nền văn hoá tiền sử hàng chục vạn năm. Tài liệu khảo cổ học đã
khẳng định đó là một nền văn minh rực rỡ ở Đông Nam Á này. Những công cụ lao động từ
Khổng Tử và lấy Nho giáo làm Quốc giáo. Năm 1075 lý Nhân Tông cho xây dựng Quốc Tử
Giám. Đây được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam.
Cả khu quần thể Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng từ thế kỷ XI (1070). Đây là
biểu trưng cho trí tuệ và nền văn hoá Việt Nam dưới chế độ phong kiến. Năm 1804 Vua Gia
Long chuyển Kinh Đô và Quốc Tử Giám vào Huế.
* Mục tiêu của nhà trường đại học Quốc Tử Giám
Rèn luyện sĩ tử, phát triển nhân tài để tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước phong
kiến.
19
* Tổ chức nhà trường: Người đứng đầu là quan Tễ Tửu (như hiệu trưởng), quan Tư
Nghiệp (như hiệu phó). Đội ngũ quan văn đảm nhiệm trọng trách giảng dạy gồm có học chánh,
giáo thụ, trợ giáo (trình độ tối thiểu là đã đỗ cử nhân, đã trở thành quan chức của triều đình).
* Tuyển chọn học trò: Gồm có tôn sĩ thuộc giòng dõi tôn thất, ấm sinh là con quan
triều đình và con quan đứng đầu hàng tỉnh, giám sinh là con quan lại nhỏ ở địa phương hoặc
những thanh niên xuất sắc, tuấn tú, có phẩm hạnh dù là con của thường dân nhưng nếu đốc học
tỉnh giới thiệu cũng được vào dự tập văn.
* Chế độ học tập: Việc học tập được thực hiện rất nghiêm túc. Căn cứ vào kết quả
khảo hạch các kỳ, nhà trường phân học trò ra làm ba loại: ưu, bình, thứ mà được hưởng học
bổng bằng tiền và hiện vật khác nhau:
Loại ưu: được 4 quan tiền , 3 phương gạo, 5 cân dầu/1tháng.
Loại bình: được 3 quan tiền, 2 phương gạo, 4 cân dầu/ 1 tháng.
Loại thứ: được 2 quan tiền, 2 phương gạo, 3 cân dầu/ 1 tháng.
* Tài liệu học tập
Gồm những sách kinh điển của Nho giáo, đó là bộ Tứ thư và Ngũ kinh được coi là “bộ
giáo trình” chủ yếu ở bậc đại học suốt hàng ngàn năm của chế độ phong kiến Việt Nam.
Tứ thư là bốn cuốn: Đại học, Trung dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử.
- Sách đại học do Tăng tử viết giải thích những lời nói của Khổng Tử về nội dung Tu
thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ.
- Sách Trung Dung do Tử Tư chép lại những lời của Khổng tử giảng dạy theo đạo trung
thứ để đạt được ba đức lớn: Nhân, Trí, dũng.
kê cho biết: nếu lấy số học xong sơ học toàn Việt Nam năm 1941 -1942 là 100% thì tỷ lệ học
sinh của các bậc học cùng năm ấy như sau: sơ học: 100%; tiểu học 15 %, cao đẳng tiểu học
2%, trung học 0,4%. Rõ ràng thực dân Pháp đã kiên trì chính sách kìm hãm giáo dục, đặc biệt
là nhà trường cao đẳng và đại học ở nước ta trong nhiều thập niên.
Tuy nhiên để phục vụ cho mục đích khai thác và cai trị, thực dân Pháp đã mở một số
trường nhằm đào tạo công nhân chuyên nghiệp, thợ lành nghề và nhân viên làm tay sai trung
thành, đắc lực trong bộ máy cai trị của chúng …. Chẳng hạn.
- 1862 mở trường đào tạo thông ngôn tuyển chọn những tên Việt gian hoặc ngụy quân
vào học.
- 1871 mở trường sư phạm Bá Đa Lộc đào tạo giáo viên tiểu học phục vụ cho việc phổ
biến văn hoá nô dịch của mẫu quốc Pháp.
- 1898 : mở hai trường đào tạo thợ mỏ ở Hà Nội và Sài Gòn.
- 1899: Xây dựng trường đào tạo công nhân thợ điện, thợi đúc, thợ rèn, thợ cơ khí, làm đồ
thủ công mĩ nghệ ở Huế.
- Trong chiến tranh thế giời lần thứ Nhất, do cần gạo để phục vụ chiến tranh, thực dân
Pháp đã mở trường “Thực nghiệm nông nghiệp ở Biến Cát (Nam kỳ) và Tuyên Quang (Bắc
kỳ).
- Chiến tranh thế giời kết thúc, chúng mở thêm các trường kỹ nghệ thực hành ở Sài Gòn,
Hải Phòng, Huế, trường kỹ thuật ở Hà Nội, Gia Định.
Trong suốt 80 năm thống trị Đông Dương thực dân Pháp mở duy nhất một trường đại
học (cho cả Việt Nam, Lào, Campuchia) và chỉ có ba ngành: luật học, y học, khoa học. Số sinh
viờn trong khoá đông nhất khoảng 800 người.
* Về nội dung giáo dục
- Từ bậc sơ học cho đến đại học từng bước sử dụng chữ quốc ngữ và tiếng Pháp thay thế
dần chữ Hán. Cho đến năm 1918 thì chấm dứt việc thi cử bằng chữ Hán.
- Nội dung chương trình có chú ý đến khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hoá, Sinh…
Nhưng nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa gắn với thực tiễn Việt Nam.
- Các môn học xã hội như Văn Học, Lịch sử, Địa lý, Công dân đều phỏng theo chương
trình của nước Pháp hoặc biên soạn lại để tăng cường tính chất nô dịch, thậm chí phản khoa
học, xuyên tạc lịch sử Việt Nam nhằm ca ngợi thần phục nước “Đại Pháp - mẫu Quốc” để
quay lại xâm lược. Tháng 12/1946 toàn quốc kháng chiến bùng nổ kéo dài đến 9 năm, giáo dục
đại học gặp muôn vàn gian khổ, thiếu thốn, phải chuyển hướng phục vụ kháng chiến và kiến
quốc nhưng vẫn duy trì trưởng thành cho đến ngày chiến thắng.
* Giai đoạn từ (1954 – 1965) : Chỉ hai tháng sau khi tiếp quản thủ đô các trường đại
học và cao đẳng đã khai giảng trở lại. Ban đầu tạm ghép các trường trong vùng kháng chiến
vào các trường ở Hà Nội trong thời kỳ tạm chiếm đó là: Đại học Y Khoa; Đại học sư phạm
Văn Khoa & Đại học Văn Khoa; Đại học sư phạm Khoa Học & Đại học Khoa Học; Trong Đại
học sư phạm Văn Khoa & Đại học sư phạm Khoa Học đều có các lớp dự bị đại học.
Đầu năm 1956 với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, hệ thống nhà trường Đại
học và Cao đẳng XHCN được xây dựng theo mô hình phát triển của nước bạn đã có các trường
lớn.
- Đại học Tổng Hợp do ông Nguỵ Như Kon Tum làm hiệu trưởng
- Đại học Sư phạm do ông Phạm Huy Thông làm hiệu trưởng
- Đại học Y Dược do ông Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng
- Đại học Bách Khoa do ông Trần Đại Nghĩa làm hiệu trưởng
- Đại học Nông Lâm do ông Bùi Huy Đáp làm hiệu trưởng
Từ kinh nghiệm xây dựng 5 trường Đại học đầu tiên, sau 3 năm (1958-1960) cải tạo
XHCN ở miền Bắc đã có tất cả 9 trường Đại học với 46 ngành học.
- Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) do yêu cầu tăng cường đội ngũ cán
bộ khoa học kỹ thuật có trình độ CĐ-ĐH, giáo dục Đại học đã mở rộng quy mô tăng thêm
trường lớp, số lượng sinh viên, phát triển ngành học. Cho đến năm học 1964-1965 trên Miền
Bắc đã có 17 trường Đại học với 97 ngành. Ngoài ra, Bộ Giáo Dục đã tăng cường nguồn cử
sinh viên, cán bộ đi học tập, bồi dưỡng nghiên cứu sinh, thực tập sinh ở các nước thuộc phe
XHCN, nhất là ở Liên Xô.
*Giai đoạn từ (1965-1975)
- Từ năm 1964 -1965 đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra Miền Bắc, làm cho
chiến tranh lan ra cả nước. Ngày 5/8/1965 Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 88TTg-VG về
chuyển hướng công tác giáo dục trước tình hình và nhiệm vụ mới. Chỉ thị có đoạn: “gắn chặt
hơn nữa việc giảng dạy và mọi hoạt động của nhà trường với đời sống, với sản xuất và chiến
đấu, bảo đảm an toàn, bảo đảm sức khoẻ cho học sinh, sinh viên”. Tháng 5/1966 ngành ĐH &
42.909
51.848
1.263
2.389
5.118
5.586
6.009
5.700
7.966
10.473
9.664
13.497
1970-1971
1971-1972
1972-1973
1973-1974
1974-1975
69.902
61.978
53.700
54.150
55.701
53.593
48.150
39.563
41.371
43.014
5.293
4.078
4.128
- Đại học Cần Thơ
- Đại học Bách Khoa Đà Nẵng
- Đại học Đà Lạt
- Đại học sư phạm Huế
- Đại học Y Huế
- Đại học Thuỷ Sản Nha Trang
- Đại học Tây Nguyên
Từ năm 1976-1986 các trường Đại học được xác định có vai trò rất quan trọng trong
3 cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn
hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt. Năm 1976 lần đầu tiên luận án phó
23
tiến sĩ đã được bảo vệ thành công trong nước đánh dấu bước phát triển mới của hệ giáo dục đại
học. Đến tháng 12-1980 nước ta đã có 42 trường Đại học và Viện NCKH được quyết định là
cơ sở đào tạo sau đại học (có trình độ thạc sĩ & phó tiến sĩ).
Vài số liệu về phát triển quy mô giáo dục CĐ & ĐH
Năm học
Số
trường
Cán bộ
giảng dạy
Tổng số
SV
Dài hạn
tập trung
Chuyên tu Tại chức
1975-1976
1979-1980
1984-1985
59
79
những yêu cầu học tập từ nhiều phía trong xã hội.
+ Giáo dục Đại học không cần phải gắn chặt với việc phân phối người tác nghiệp theo
cơ chế hành chính bao cấp, người tác nghiệp có trách nhiệm tự lo việc làm cho mình theo cơ
chế tuyển chọn theo yêu cầu của thị trường lao động.
Quyết tâm thực hiện chủ trương đổi mới, ngành giáo dục Đại học đã đề ra 3 chương
trình hành động trong 3 năm học (1987-1990) được cụ thể hoá các nội dung:
+ Cải cách, đổi mới công tác tuyển sinh, giao quyền chủ động rộng hơn cho nhà trường
Đại học và quyền được lựa chọn dự thi vào nhà trường cho thí sinh.
+ Mở rộng hệ đào tạo không chính quy có đóng học phí.
+ Tổ chức thực hiện quy trình đào tạo 2 giai đoạn.
+ Đẩy mạnh cuộc vận động dân chủ bầu cử lựa chọn cán bộ quản lý các trường Đại
học.
+ Tổ chức, sắp xếp chức danh cho cán bộ giảng dạy Đại học: Giáo sư, phó giáo sư,
giảng viên chính, giảng viên, trợ giảng.
+ Đẩy mạnh công tác NCKH gắn với lao động sản xuất, khoa học công nghệ tiếp cận
với nền kinh tế tri thức.
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, giáo dục Đại học Việt Nam đã có những chuyển
biến rất căn bản, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội.
Tháng 4/1990 chính phủ ra quyết định thành lập Bộ GD&ĐT để quản lý thống nhất hệ thống
giáo dục quốc dân từ bậc mầm non cho đến giáo dục Đại học và sau Đại học.
Tháng 7/1991 đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam khoa VII thông qua “cương lĩnh xây
dựng CNXH trong thời kỳ quá độ”, ngành giáo dục Đại học đã thực hiện 5 chương trình
mục tiêu, đó là:
Chương trình 1: Các mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo
Chương trình 2: Đẩy mạnh NCKH- LĐSX gắn nhà trường với xã hội
24
Chương trình 3: Đổi mới công tác tổ chức và quản lý GDĐH
Chương trình 4: Xây dựng và bồi dưỡng cán bộ giảng dạy & cán bộ quản lý GDĐH
Chương trình 5: Đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và phát triển đội ngũ cán bộ cho một số
ngành mũi nhọn
Duy Tân (Đà Nẵng) ĐH Bình Dương, ĐH Vĩnh Long.v.v…
+ Các trường dự bị ĐH thu nạp học sinh tốt nghiệp THPT con em các dân tộc ít
người, con em nông dân vùng sâu vùng xa, các gia đình thuộc diện chính sách. Hiện nay có
một số trường học được xây dựng khang trang như: Dự bị ĐH Sầm Sơn (Thanh Hoá), Nha
Trang, Phú Thọ, thành phố Hồ Chí Minh.
+ Trung tâm hay cơ sở ĐH cũng là một loại trường ĐH nhưng chưa hoàn chỉnh, do
thủ trưởng một ngành hay một tỉnh hoặc hiệu trưởng của một trường ĐH thành lập. Hiện nay
có hai trung tâm: một của ngành ngân hàng, một của thành phố Hồ Chí Minh và ba cơ sở: một
của trường ĐH Giao Thông, một của trường ĐH Ngoại Thương và một của trường ĐH Văn
Hoá. Nhiều tỉnh có trung tâm Giáo Dục Thường xuyên mở các lớp ĐH tại chức, từ xa, thu nạp
cả cán bộ, công nhân viên vừa học vừa làm, cả học sinh không thi đậu vào các trường khác.
6. Các trường CĐ
Hiện nay có hơn 100 trường Cao Đẳng, trong đó có 65 trường CĐ sư phạm - nếu tổng
các trường ĐHSP & các khoa sư phạm trong các trường ĐH (khoa sư phạm- trường ĐH Đà
Lạt, khoa sư phạm- trường ĐH An Giang, khoa sư pham- ĐH Quốc Gia Hà Nội.v.v…) thì có
đến 110 đơn vị đào tạo chuyên ngành sư phạm- đội ngũ giáo viên từ mầm non cho đến ĐH và
25