Đề bài: Phân tích nghệ thuật lãnh đạo của Đảng ta trong cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân ở Miền Nam
Bài làm:
KINH NGHIỆM LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
CỨU NƯỚC (1954 - 1975)
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN
1. Bối cảnh đất nước
a) Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ở miền Nam (19541975) là sự tiếp tục cuộc cách mang dân tộc dân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng.
Từ khi ra đời (3-2-1930), Đảng ta đã chỉ rõ: đất nước ta vốn là một Tổ quốc
thống nhất và nhân dân ta có truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm bảo vệ bờ cõi
và cùng nhau xây dựng đất nước. Nhưng từ khi thực dân Pháp xâm lược, chúng đã
cùng bọn vua quan phong kiến đầu hàng, thống trị nhân dân ta, xã hội Việt Nam
thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, với hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn
giữa toàn thể dân tộc ta với đế quốc xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, mà
chủ yếu là nông dân, với giai cấp địa chủ phong kiến. Đảng ta gánh vác sứ mệnh
lãnh đạo dân tộc giải quyết hai mâu thuẫn trên là thực hiện hai nhiệm vụ của cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân: chống đế quốc xâm lược, giành độc lập thống
nhất Tổ quốc và chống phong kiến, giành lại ruộng đất cho nông dân.
Tháng 7-1954, miền Bắc được giải phóng, nhưng miền Nam còn dưới ách thống trị
của đế quốc và bọn tay sai. Đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp, cùng bọn tay sai
Ngô Đình Diệm tiếp tục thống trị nhân dân ta ở miền Nam, hai mâu thuẫn cơ bản
trên vẫn tồn tại và đất nước tạm thời bị chia cắt. Nhân dân ta tiến hành kháng chiến
chống đế quốc Mỹ và bọn tay sai là tiếp tục cuộc cách mạng đã được tiến hành
dưới sự lãnh đạo của Đảng từ đâu nǎm 1930, nhằm hoàn thành sự nghiệp giành độc
lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc để tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là sự
tiếp nối lịch sử tất yếu. Đúng như Đảng ta đã khẳng định tại Đại hội tân thứ III
(tháng 9-1960): "Cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam là sự tiếp tục
của Việt Nam là hậu phương rộng lớn đáng tin cậy, một thuận lợi chưa bao giờ có
đối với cách mạng nước ta.
Cùng với sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, phong tràon
giải phóng dân tộc cuồn cuộn dâng cao ở châu á châu Phi và châu Mỹ latinh, hệ
thống thuộc đia của chủ nghĩa đế quốc bị thu hẹp và đi vào quá trình tan rã. Cuộc
đấu tranh cho dân sinh, dân chủ và hoà bình ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển
rộng khắp và liên tục. So sánh lực lượng trên thế giới lúc đó ngày càng thay đổi có
lợi cho chủ nghĩa xã hội, cho lực lượng cách mạng. Chủ nghĩa đế quốc tiếp tục suy
yếu và khó khǎn. Cách mạng thế giới lúc này đang ở thế tiến công. Cách mạng Việt
Nam đã hoà được vào trào lưu chung của cách mạng thế giới.
Thời kỳ này cũng cần lưu ý rằng, tuy chủ nghĩa đế quốc đã suy yếu nhưng
chừng nào còn chủ nghĩa đế quốc thì vẫn còn miếng đất để xảy ra chiến tranh. Lực
lượng xâm lược gây chiến chủ yếu trên thế giới là đế quốc Mỹ. Chúng đang dẫn
đầu các thế lực đế quốc hiếu chiến chạy đua vũ trang, củng cố các khối liên minh
quân sự xâm lược, xây dựng các cǎn cứ quân sự, phục hồi chủ nghĩa phátxít ở Tây
Đức và quân phiệt ở Nhật Bản, nhóm lên những lò lửa chiến tranh ở châu Âu và
châu á, ra sức chuẩn bị chiến tranh mới. Nguy cơ chiến tranh thế giới vẫn tồn tại.
Nhân dân các nước đang đứng trước sự đe doạ hết sức nghiêm trọng của một cuộc
chiến tranh hạt nhân. Mặt khác, sự tàn sát và huỷ diệt ghê gớm trong cuộc Chiến
tranh thế giới lần thứ hai và hậu quả của nó còn làm cho nhiều người lo ngại và lẫn
lộn giữa chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa. Trong điều kiện đó đã
nảy sinh nhiều tư tưởng và khuynh hướng của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội,
chủ nghĩa dân tộc làm cho tình hình thế giới phức tạp.
Họ tuyệt đối hoá đường lối chung sống hoà bình, đi vào phòng ngự bị động,
gây không ít khó khǎn cho phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt với phong trào
giải phóng dân tộc. Trong tình hình đó, nhân dân ta tiến hành cách mạng giải phóng
miền Nam, Đảng và nhân dân ta phải giải quyết thành công mối quan hệ giữa hoà
bình và cách mạng. Giải quyết mối quan hệ này, đòi hỏi Đảng ta hết sức sáng suốt
liệt với tư bản Mỹ, với các nhà cầm quyền Mỹ và giai cấp tư bản các nước chư hầu
Mỹ, làm rung chuyển hậu phương của chúng.
Điều đó nói lên rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta
là cuộc đụng đầu lịch sử mang tính thời đại sâu sắc
3. Kẻ thù chính của cách mạng miền Nam là đế quốc Mỹ với chính sách thực dân
mới
Chống đế quốc Mỹ với chính sách thực dân mới của chúng là điểm mới,
mang tính đặc trưng của cách mạng miền Nam lúc này, khác các thời kỳ trước đây
của cách mạng nước ta là chống chủ nghĩa thực dân cũ của đế quốc Pháp.
Đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, hất cẳng thực dân Pháp, độc
chiếm miền Nam nước ta, biến nơi đây thành thuộc đia kiểu mới và cǎn cứ quân sự
của chúng. Từ đây, đế quốc Mỹ đã thành kẻ thù chủ yếu và nguy hiểm nhất của
nhân dân ta. Từ tháng 7 nǎm 1954, Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng
lần thứ 6 đã xác định: "Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hoà
bình thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông
Dương". Do vậy, trong giai đoạn mới phải chĩa mui nhọn vào đế quốc Mỹ.
Chính sách thực dân mới của Mỹ là con đẻ của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn,
của chính sách đế quốc thực dân. Nó ra đời trong cơn tổng khủng hoảng và trước
nguy cơ sụp đổ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Đảng ta nhận biết sớm bản chất chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Nghị quyết
9 của Trung ương đã chỉ ra: "Đặc điểm chủ yếu của chính sách thực dân là đế quốc
Mỹ không trực tiếp cai trị mà thông qua chính quyền tay sai, dùng viện trợ kinh tế
và quân sự để áp bức, bóc lột nhân dân miền Nam".
Chính sách thực dân mới là hiện tượng mới, do vậy ta chưa thể hình dung và
thấy rõ, đây đủ ngay trong thời gian đầu của cuộc cách mạng miền Nam. Qua thực
tiễn đấu tranh với Mỹ, chúng ta ngày càng hiểu đầy đủ bản chất và thủ đoạn của
chính sách thực dân mới của chúng. Về chính trị, Mỹ không thiết lập bộ máy thực
dân thông qua chính quyền tay sai với chiêu bài quốc gia, dân chủ giả hiệu. Về
Sự thật thì Mỹ đã chuẩn bị triển khai chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam từ
trước. Mỹ đã nuôi dưỡng và đào tạo bọn tay sai ngay từ đầu những nǎm 50. Trước
khi Hiệp định Giơnevơ được ký, đế quốc Mỹ đã tìm cách ép Pháp đưa Ngô Đình
Diệm (tay sai của Mỹ) về giành ghế thủ tướng nguy của Bửu Lộc (tay sai của Pháp)
vào ngày 7-7-1954, mở đầu quá trình Mỹ hất cẳng Pháp và cũng là mở đầu quá
trình Mỹ áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam nước ta.
Ngày 8-9-1954, Mỹ lôi kéo một số nước đế quốc và chư hầu lập ra khối
SEATO, đặt miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia vào khu vực bảo hộ của khối
này. Cùng lúc, Mỹ xúc tiến việc mua chuộc và tiêu diệt các lực lượng thân Pháp ở
miền Nam không chịu hàng phục Mỹ, tǎng cường viện trợ trực tiếp cho chính
quyền Diệm và điều khiển chúng chống phá cách mạng. Ngày 2-12-1954, Mỹ ép
Pháp ký kết việc rút quân Pháp khỏi miền Nam Việt Nam và ngày 10-12-1954,
thỏa thuận một kế hoạch tổ chức, huấn luyện quân nguy theo phương hướng của
Mỹ. Ngày 23-10-1955, Ngô Đình Diệm tổ chức cái gọi là: "tưng cầu dân ý" phế
truất Bảo Đại. Sau đó ba ngày, Diệm lên làm tổng thống, tuyên bố thành lập nhà
nước "Việt Nam cộng hoà" và đổi "quân đội quốc gia", tay sai của Pháp, thành ",
quân lực Việt Nam cộng hoà", tay sai của Mỹ. Như vậy, bằng tất cả các thủ đoạn
ngoại giao, quân sự, chính trị, kinh tế, đế quốc Mỹ đã thực hiện được âm mưu hất
cẳng thực dân Pháp, độc chiếm miền Nam, triển khai chính sách thực dân mới của
chúng ở miền Nam nước ta trên các mặt.
Từ đây, dân tộc ta phải trực tiếp đương đâu với chủ nghĩa thực dân mới của
đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam nước ta. Qua 21 nǎm kháng chiến cực kỳ gian
khổ và oanh liệt, dân tộc ta đã toàn thắng đế quốc Mỹ, chặt đứt một mắt xích trong
hệ thống chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ và đẩy chủ nghĩa
thực dân mới của Mỹ thêm một bước suy yếu và khủng hoảng; thực hiện được
nguyện vọng thiêng liêng là hoàn thành độc lập, thống nhất đất nước. Cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước đã để lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm quý góp phần
tích cực vào phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và bảo vệ hoà bình thế
Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân kiên quyết đứng lên làm Cách mạng tháng Tám nǎm
1945, giành chính quyền về tay nhân dân trước khi quân Đồng minh kéo vào Đông
Dương, cũng như đánh bại thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ trong kháng
chiến 9 nǎm, nên đã kiềm chế và chặn đứng Mỹ đưa quân, kéo dài và mở rộng
chiến tranh xâm lược nước ta.
Sau Hiệp định Giơnevơ (7-1954), đế quốc Mỹ lấn dần thực dân Pháp, độc
chiếm miền Nam nước ta, chúng thiết lập chế độ thực dân mới và dựng nên chính
quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Chế độ Mỹ - Diệm đàn áp dã man phong trào đấu
tranh của nhân dân ta ở miền Nam. Nhân dân ta không chịu khuất phục đã vùng lên
chống lại chúng, Đảng ta đã ra Nghị quyết 15 (1-1959) về cách mạng miền Nam.
Nghị quyết ra đời tuy có phần muộn, nhưng cũng đã kịp phát động quần chúng đấu
tranh, đi tới cao trào đồng khởi khắp miền Nam. Phong trào đồng khởi đã đưa cách
mạng miền Nam "từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công", là sự sáng tạo cách
mạng của nhân dân ta ở miền Nam, mở đâu cuộc chiến tranh cách mạng từ thấp lên
cao, vừa tầm, vừa sức của lực lượng cách mạng miền Nam mới nổi dậy và đã kiềm
chế được đế quốc Mỹ sớm đưa quân vào miền Nam, tránh được những khó khǎn,
bất lợi của cách mạng miền Nam trong buổi ban đầu.
Kiềm chế đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh từng bước
Bước vào những nǎm 60, lực lượng so sánh trên thế giới nghiêng hẳn về phía
cách mạng và hòa bình. Khả nǎng ngǎn chặn chiến tranh thế giới ngày càng nhiều.
Chính sách "bên miệng hố chiến tranh" của Mỹ cùng chiến lược quân sự mang tính
chất phản công của chúng như "trấn áp ồ ạt", "trả miếng hàng loạt" đã bị phá sản.
Để thích ứng với tình hình, đế quốc Mỹ cho ra đời chiến lược quân sự mới vừa có
tính chất tiến công, vừa có tính chất phòng ngự. Đó là chiến lược "phản ứng linh
hoạt" với ba loại chiến tranh: "chiến tranh thế giới", "chiến tranh cục bộ", và "chiến
tranh đặc biệt".
ở miền Nam nước ta từ khi có Phong trào Đồng khởi, đế quốc Mỹ đã thực
hiện "chiến tranh đặc biệt" nhằm ba mục đích:
Kiềm chế và thắng Mỹ trong "chiến tranh đặc biệt" là chúng ta đã đẩy Mỹ
vào thế bị động leo thang chiến tranh từng bước.
Nhân dân ta đã thực hiện xuất sắc tư tưởng chỉ đạo trên của Đảng Đó là quá
trình nhân dân ta tiến hành ba mặt trận đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự chống
địch ở miền Nam và đấu tranh ngoại giao để cô lập địch, tranh thủ sự đồng tình và
ủng hộ đối với ta trên trường quốc tế, mà đấu tranh chính trị và quân sự ở miền
Nam là cơ bản và đấu tranh ngoại giao là rất quan trọng. Thực hiện quá trình đó,
nhân dân ta đã phá tan các hành động chiến tranh của Mỹ - ngụy và làm phá sản
các chiến thuật tân kỳ của chúng làm cho "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ bị
thất bại.
Mặt khác, đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam là nhằm thực hiện một
khâu quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng, nhằm thiết
lập ở miền Nam chế độ thực dân mới. Tất cả các âm mưu, thủ đoạn chính trị và
quân sự của Mỹ đêu nhằm mục đích đó. Do vậy, Mỹ thực hiện "chiến tranh đặc
biệt", hay trước thất bại nặng nề mà liều lĩnh tiến hành "chiến tranh cục bộ" ở miền
Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân cũng đều
nhằm mục đích đó. Mỹ không thể liều lĩnh đến mức có thể gây phương hại đến
chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng. Điều đó đòi hỏi Mỹ phải có thời
gian để xây dựng ngụy quân, ngụy quyền làm công cụ thực hiện chủ nghĩa thực dân
mới của chúng, đánh phá lực lượng cách mạng miền Nam bằng những thủ đoạn
thâm độc, xảo quyệt hơn. Do vậy, Mỹ buộc phải thực hiện chính sách leo thang
chiến tranh từng bước.
Kiềm chế chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ trên phạm vi
chiến trường miền Nam
Giữa nǎm 1965, chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ hoàn toàn phá sản,
tổng thống Mỹ Giônxơn đã tuyên bố đưa quân viễn chinh Mỹ và quân các nước
chư hầu vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam, thực hiện "chiến tranh cục bộ" và
tǎng cường đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân.
lòng ủng hộ và chi viện có hiệu quả. Đồng thời, phong trào độc lập dân tộc, hoà
bình, cùng những nhà hoạt động chính trị - xã hội nổi tiếng trên thế giới, đã hình
thành trong thực tế mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống
Mỹ cứu nước.
Như vậy, Đảng ta đánh giá đúng việc Mỹ đưa hàng chục vạn quân vào miền
Nam, mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, đánh giá đúng lực lượng và khả
nǎng của địch, đồng thời đánh giá đúng lực lượng và khả nǎng to lớn của nhân dân
ta ở cả hai miền và các điều kiện quốc tế. Trên cơ sở đó, Đảng đã xác định quyết
tâm chiến lược đúng đắn là: tập trung lực lượng cả nước, kiên quyết đánh địch và
thắng địch trong cuộc chiến tranh hạn chế đó. Chúng ta động viên lực lượng cả
nước đẩy mạnh cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, gây cho địch nhiều tổn thất
nặng nề, đẩy chúng ngày càng sa lầy và thất bại lớn, đi tới giành thắng lợi quyết
định ở miền Nam.
Tuy vậy, Đảng ta cũng chỉ ra là cần phải đề phòng đế quốc Mỹ liều lĩnh mở
rộng "chiến tranh cục bộ" ra cả miền Bắc, phải xây dựng và bố trí lực lượng sẵn
sàng đánh bại chúng ngay từ trận đầu nếu xảy ra.
Có đường lối đúng đắn lại được chỉ đạo thường xuyên và kịp thời của Trung
ương và các cấp đảng bộ, nhân dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc đã phối hợp nhịp
nhàng trong chiến đấu và xây dựng lực lượng, đã làm thất bại tất cả các kế hoạch
quân sự của Mỹ - nguỵ, bẻ gẫy tất cả các cuộc phản công của địch, dồn địch vào
thế tiến thoái lưỡng nan, trên cơ sở đó ta mở cuộc tiến công chiến lược Xuân 1968,
làm phá sản kế hoạch "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ. Với thắng lợi này,
nhân dân ta đã giữ vững được thế thắng, kiềm chế và thắng địch trong "chiến tranh
cục bộ" của chúng trên chiến trường miền Nam.
2. Biết giành thắng lợi từng bước
Chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến
công, đánh thắng "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - ngụy
Tháng 11-1959, xứ uỷ Nam Bộ quán triệt Nghị quyết 15 của Trung ương.
nguỵ bị đánh tan vỡ từng mảng, ngụy quyền khủng hoảng triển miên, quốc sách "ấp
chiến lược" bị phá sản, "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - ngụy bị thất bại.
Giữ vững thế thắng, thế tiến còng, quyết chiến quyết thắng đế quốc Mỹ leo
thang chiến tranh.
"Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ bị đánh bại. Với bản chất hiếu chiến
và ngoan cố theo đuổi chiến lược toàn cầu phản cách mạng, đế quốc Mỹ đã leo
thang chiến tranh, tiến hành "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và đánh phá miền
Bắc bằng không quân và hải quân ác lệt hơn. Đây là một thử thách quyết liệt có
tính chất quyết định thắng bại với cả hai bên tham chiến.
Trước chiều hướng đó, tháng 3-1965, Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần
thứ 11. Trên cơ sở phân tích hết sức khách quan các yếu tố của cuộc chiến tranh,
Hội nghị đã nhận định: Mỹ sẽ mở rộng chiến tranh, đưa quân vào miền Nam thực
hiện "chiến tranh cục bộ" và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc thường xuyên
và ác liệt hơn. Trung ương Đảng hạ quyết tâm: quyết thắng địch ở mức cao nhất
trong "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc.
Chuẩn bị sẵn sàng đánh thắng địch nếu chúng biến chiến tranh ở miền Nam
thành "chiến tranh cục bộ" và kể cả khi chúng mở rộng "chiến tranh cục bộ" ra hai
miền Nam - Bắc nước ta.
Đây là một dự đoán rất đúng đắn và kịp thời.
Tháng 5-1965, Giônxơn tuyên bố đưa quân Mỹ vào trực tiếp tham chiến ở
miền Nam. Tháng 9-1965, Bộ Chính trị họp và tháng 12-1965, Trung ương Đảng
họp Hội nghị lần thứ 12 bàn về cách mạng miền Nam đã nhận định: Cuộc chiến
tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở miền Nam đã từ "chiến tranh đặc biệt" chuyển
thành "chiến tranh cục bộ", song về tính chất và mục đích vẫn là nhằm thực hiện
chủ nghĩa thực dân mới. Hội nghị đã phân tích rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của địch, đề
ra phương châm chiến lược của chiến tranh giải phóng miền Nam và những hình
thức, biện pháp cụ thể để đánh thắng cả lực lượng Mỹ và nguỵ. Một lần nữa, Đảng
ta hạ quyết tâm: quyết chiến và quyết thắng đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh. Phải
tranh, duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam. Chúng đổ tiền của vào cố xây
dựng cho được ngụy quyền và ngụy quân làm xương sống cho "Việt Nam hoá
chiến tranh". Mỹ thực hiện ở miền Nam một lúc ba loại chiến tranh: giành dân, bóp
nghẹt và huỷ diệt tàn khốc hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đó, đồng thời thực hiện
ngoại giao xảo quyệt để cản phá ta giành thắng lợi hoàn toàn.
Tháng 1- 1970, Trung ương Đảng ta họp Hội nghị lần thứ 18, Hội nghị đã
phân tích sâu sắc tính chất thâm độc của chiến lược "Việt Nam hoá" và những mâu
thuẫn không thể khắc phục được của nó. Trên cơ sở đó, Hội nghị đề ra nhiệm vụ
trước mắt cho cách mạng miền Nam là ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính
trị, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao làm thất bại âm mưu "Việt
Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ.
Quân và dân ta đã thực hiện xuất sắc những nhiệm vụ trên và đã giành thắng
lợi quyết định. Tận dụng sai lầm của Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia,
tháng 4-1970, Hội nghị cấp cao Đông Dương đã họp, hình thành mặt trận thống
nhất nhân dân Đông Dương đoàn kết chống Mỹ, củng cố vững chắc thế liên hoàn
Đông Dương là một chiến trường, phối hợp chặt chẽ với Mặt trận nhân dân thế giới
ủng hộ ba nước Đông Dương chống Mỹ xâm lược. Mặt trận ngoại giao đã chủ động
và phối hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự và chính trị, liên tục tiến công đế quốc
Mỹ tại Hội nghị Pari và trước dư luận toàn thế giới. Mũi tiến công quân sự đã giành
thắng lợi rực rỡ, thực sự làm đòn xeo cho mũi tiến công chính trị và ngoại giao.
Nǎm 1969-1971, ta phối hợp với quân dân Lào và Campuchia giành thắng lợi lớn ở
XǎmThông - Loong Chẹng, Cánh Đồng Chum trên chiến trường Lào và giải phóng
phần lớn đất đai cùng 4,5 triệu dân ở Campuchia, chiến thắng đường số 9 -Nam
Lào đã mở ra khả nǎng thực tế làm thất bại chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh"
của Níchxơn.
Ngày 30-3-1972, ta mở cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam với quy mô
lớn, cường độ mạnh, với đủ các binh chủng tác chiến hợp đồng và kéo dài suốt nǎm
1972. Bị thất bại nặng, Mỹ đã "Mỹ hoá" trở lại cuộc chiến tranh, thả mìn các cửa
thức và khắc phục những thiếu sót, lệch lạc từ sau Hiệp định Pari. Nhờ vậy, tình
hình chiến trường miền Nam có những chuyển biến tích cực và nhanh chóng. Đầu
nǎm 1974, về cơ bản ta đã thu hồi được các vùng giải phóng và vùng tranh chấp bị
địch lấn chiếm từ sau Hiệp định Pari và giải phóng thêm được gần nửa triệu dân.
Từ giữa nǎm 1974, những điều kiện cho việc giải phóng hoàn toàn miền Nam đang
chín muồi.
Tháng 10 - 1974, Bộ Chính trị họp đề ra kế hoạch giải phóng miền Nam
trong 2 nǎm (1975-1976). Sau đó Bộ Chính trị làm việc với các đồng chí lãnh đạo
và chỉ huy các chiến trường miền Nam. Tháng 1-1975, Bộ Chính trị nhận định:
"Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự, chính trị như hiện nay, có thời cơ
chiến lược to lớn, thuận lợi như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc".
Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định lấy chiến trường Tây
Nguyên và Buôn Ma Thuột làm chiến trường và điểm mở đầu cho kế hoạch giải
phóng hoàn toàn miền Nam. Bộ Chính trị theo dõi chặt chẽ và chỉ đạo kịp thời các
bước tiến quân giành thắng lợi ở các chiến trường miền Nam.
Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (từ ngày 10 đến 20-3-1975) đã điểm
trúng huyệt vào Buôn Ma Thuột, làm rung chuyển hệ thống bố trí chiến lược của
quân ngụy Sài Gòn, ngụy quyền hốt hoảng cho rút quân chiến lược khỏi Tây
Nguyên, làm rối loạn quân ngujy. Ta giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên.
Chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng (từ ngày 21 đến 29-3-1975) đã phá tan
âm mưu co cụm về giữ đồng bằng ven biển miền Trung của địch, đẩy địch lún sâu
hơn nữa vào thế suy sụp, tan vỡ không sao cứu vãn nổi, làm xuất hiện thời cơ tổng
tiến công và nổi dậy vào sào huyệt cuối cùng của địch: Chiến dịch giải phóng Sài
Gòn và Nam Bộ - Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ ngày 26 đến 30-4-1975). 17 giờ
ngày 26-4-1975, nǎm quân đoàn của ta mở cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn - Gia
Định, 11 giờ ngày 30-4-1975, quân ta chiếm dinh tổng thống ngy, buộc ngụy quyền
Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện. Sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam của
tự do.
Để giữ vững và thực hiện được ý chí dó, suốt 21 nǎm lãnh đạo kháng chiến
chống Mỹ, Đảng ta đã vận dụng những giải pháp hết sức mềm dẻo và khôn khéo về
chính trị, quân sự, ngoại giao. Do đó, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đảng
ta đã giữ vững được tính độc lập sáng tạo về đường lối cách mạng, đã lãnh đạo tiến
hành chiến tranh cách mạng thắng lợi, đồng thời góp phần cùng nhân dân các nước
bảo vệ hoà bình thế giới. Một nước nhỏ, dân số không đông, kinh tế còn kém phát
triển đã liên tục đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, làm thất bại
hoàn toàn chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam.
Từ khởi nghĩa quần chúng chuyển sang tiến hành chiến tranh cách mạng và
kết hợp khởi nghĩa quần chúng với chiến tranh cách mạng.
Mỹ của nhân dân ta ở miền Nam được Đảng ta tổng kết và chỉ ra là hướng đi
lên của cách mạng miền Nam sau Phong trào Đồng khởi (1960). Bằng cách thức
đó, lực lượng cách mạng miền Nam đã đánh bại "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ ngụy, và đã phát triển cao ở các thời kỳ tiếp theo, thể hiện hết sức phong phú, sinh
động trong đấu tranh chính trị, quân sự và kết hợp giữa hai hình thức đấu tranh
chính trị và quân sự. Về sau lại được kết hợp với hình thức đấu tranh ngoại giao.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước sáng ngời chính nghĩa, đó là ưu thế chính trị
rất lớn của ta, cũng là điểm yếu cǎn bản của Mỹ - ngụy. Đảng và nhân dân ta đã
biết phát huy ưu thế này mà liên tục tiến công địch trên mặt trận chính trị, những
"đội quân tóc dài", học sinh, sinh viên, giáo phái... đã tiến công chủ nghĩa thực dân
mới bằng chính những luận điệu mị dân của chúng. Đấu tranh chính trị kết hợp chặt
chẽ với đấu tranh ngoại giao đã tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ trước nhân dân toàn
thế giới, hình thành ba tầng mặt trận: trong nước, Đông Dương và thế giới, cùng
tiến công đế quốc Mỹ và bọn tay sai.
Từ thực hiện chiến tranh cách mạng chống lại chiến tranh thực dân mới,
đồng thời cũng là làm chiến tranh giải phóng, tất yếu phải xây dựng được lực lượng
quân sự và đấu tranh quân sự mạnh. Thực tiễn kháng chiến chống Mỹ cho ta thấy
không có lực lượng quân sự và đấu tranh quân sự mạnh thì khó lòng đẩy mạnh các
đấu của ta lên rất cao.
Cả ba vùng miền núi, đồng bằng và đô thị đều có những hình thức tiến công
địch phù hợp là nét đặc sắc trong chiến tranh nhân dân của ta. Miền núi lấy tiến
công quân sự là chủ yếu; vùng nông thôn đồng bằng tiến công cả quân sự và chính
trị, và kết hợp hai hình thức đó; ở các đô thị ta tiến công địch bằng chính trị là chủ
yếu, đồng thời kết hợp tiến công quân sự với những lực lượng nhỏ, tinh nhuệ vào
các sào huyệt của địch đạt hiệu quả chiến đấu cao.
4. Tổ chức và chỉ đạo phối hợp chặt chẽ cách mạng hai miền
Đất nước Việt Nam vốn thống nhất, từ kinh tế - xã hội, tiếng nói, tình cảm và
truyền thống, cố kết nhau trong một cộng đồng bền vững từ lâu đời mà tồn tại và
phát triển. Từ khi Đảng ta lãnh đạo cách mạng, khối đoàn kết thống nhất của dân
tộc được kế thừa và phát triển , trở thành truyền thống cách mạng.
Vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tuy mỗi miền có nhiệm vụ cụ
thể khác nhau, nhưng đều có chung một mục tiêu là hoàn thành độc lập và thống
nhất Tổ quốc. Nhiệm vụ cách mạng hai miền có mối quan hệ chặt chẽ và thúc đẩy
lẫn nhau. Trên cơ sở đó, Đảng ta đã tổ chức, chỉ đạo sự kết hợp chặt chẽ cách mạng
hai miền Nam - Bắc trên nhiều mặt từ chiến lược, sách lược và những nội dung cụ
thể.
Kết hợp về chiến lược, Đại hội III của Đảng ta đã xác định: "Nhiệm vụ cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc rõ ràng là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự
phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà
của nhân dân ta". "Cách mạng miền Nam có một vị trí rất quan trọng. Nó có tác
dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống
trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn
thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước". Và cách
mạng hai miền "cùng có một mục tiêu chung là thực hiện thống nhất nước nhà, cho
nên quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát
triển".