So sánh cơ sở hình thành và phát triển của Nhà nước và Pháp luật phương Đông và phương Tây thời kỳ cổ đại - Pdf 33

MỤC LỤC
Trang
1

A. MỞ DẦU
B. NỘI DUNG
I. Sự giống nhau
II. Sự khác nhau
1. Thời điểm ra đời
2. Cơ sở kinh tế
2.1 Cơ cấu kinh tế
2.2 Chế độ sở hữu
3. Cơ sở xã hội
4. Cơ sở tư tưởng
5. các yếu tố khác
C. KẾT LUẬN

1
1
2
2
2
2
3
3
4
5
5

A. MỞ ĐẦU
Các quốc gia cổ đại phương Đông và các quốc gia cổ đại phương Tây là các quốc

biến đổi quan hệ xã hội. Xã hội hình thành ba giai cấp chính: chủ nô, bình dân, nô lệ.
Mâu thuẫn đối kháng nảy sinh, dần dần phát triển tới mức độ không thể điều hòa được,
đấu tranh giai cấp diễn ra quyết liệt. Các hình thức tổ chức xã hội trong xã hội nguyên
thủy không thể giải quyết được thực trạng đó và nó không còn phù hợp để tồn tại. Giai
cấp chủ nô cần phải có một tổ chức mới để củng cố và tăng cường địa vị của mình. Đó
là bộ máy bạo lực, gồm các quan chức hành chính, tòa án, nhà tù, quân đội, cảnh sát để
đàn áp người lao động. Tổ chức đó gọi là Nhà nước. Như vậy khi nhà nước ra đời thì
quyền lực công cộng trước đây thuộc về toàn thể cộng đồng thành viên trong xã hội thì
nay trở thành quyền lực nhà nước được tổ chức chặt chẽ, có sức mạnh cưỡng chế và
được bảo đảm thực hiện bằng nhiều công cụ, phương tiện khác nhau.
II. Sự khác nhau
1. Thời điểm ra đời
Các quốc gia cổ đại phương Đông ra đời vào khoảng thiên niên kỉ thứ IV – III
TCN điển hình là Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ,…;Còn các quốc gia cổ đại
phương Tây ra đời vào khoảng thiên niên kỉ thứ II – I TCN điển hình là Hi Lạp, La Mã,
…Như vậy các quốc gia cổ đại ở phương Đông ra đời sớm hơn so với ở phương Tây:
2


do ở phương đông có điều kiện tự nhiên thuận lợi khí hậu phù hợp, đất phù sa màu
mỡ… rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng cũng phải lo làm thuỷ lợi phòng lũ
lụt nên từ rất sớm các công xã nông thôn đã hợp nhất thành các 3ang minh bộ lạc lớn rồi
từ đó hình thành các quốc gia cổ đại vì thế ngay cả khi loài người còn đang ở thời kì đá
– đồng, khi mà công cụ bằng sắt chưa xuất hiện thì họ vẫn có thể thành lập các nhà nước
cổ đại. Trái lại, ở phương tây đất canh tác không màu mỡ bằng, khí hậu không phù hợp
để canh tác nông nghiệp vì thế chỉ khi công cụ bằng sắt ra đời từ khoảng giữa TNK I
TCN thì các quốc gia cổ đại phương tây mới hình thành. Ở đây ta lại có thắc mắc tại sao
các quốc gia phương tây phát triển công thương nghiệp lại cần sự phát triển nông nghiệp
ở thời đồ sắt lý do rất đơn giản vì nông nghiệp là cơ sở của mọi ngành kinh tế, là hình
thức kinh tế giúp con người tồn tại, không ở đâu là không cần nông nghiệp phát triển kể

ở nước ta lượng mưa trong năm khá cao nhưng do địa hình gồ ghề không có các đồng
3


bằng châu thổ rộng lớn. Nhưng, Hi Lạp và La Mã đều là các quốc gia nằm trên các bán
đảo lớn ăn ra biển, có nhiều vũng, vịnh kín gió thuận lợi cho phát triển 4ang hải. Đất đai
và khí hậu ở đây tuy không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp lúa nước nhưng bù lại
khí hậu và đất đai ở đây lại thuận lợi cho việc trồng một số cây công nghiệp lâu năm như
nho, ôliu. Ở đây, có cả ba thành phần kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp.
Ở các quốc gia cổ đại phương tây nền kinh tế nông nghiệp không phát triển như các
quốc gia cổ đaị phương đông. Nền nông nghiệp của họ chủ yếu gắn với thị trường và
phục vụ nhu cầu của thị trường. Nền thủ công nghiệp của họ cũng gắn liền với nhu cầu
của thị trường. Nhưng cái khác biệt lớn nhất của họ so với các quốc gia phương đông là
thủ công nghiệp của họ đã tách rời khỏi nông nghiệp để trở thành một nền sản xuất độc
lập. Nền thương nghiệp ở phương Tây đã có sự phát triển mạnh mẽ đặc biệt là giao
thương bằng đường biển. Nền kinh tế các quốc gia cổ đại phương tây là nền kinh tế dựa
trên sản xuất thủ công nghiệp và thương nghiệp, nông nghiệp chỉ là thứ yếu, là nguyên
liệu cho thủ công nghiệp và thương nghiệp. Vì vậy mà các chế định trong lĩnh vực dân
sự phát triển mạnh. Kĩ thuật lập pháp phát triển đưa ra nhiều khái niệm chuẩn xác và có
tính pháp lý cao.
2.2Chế độ sở hữu
Ở phương Đông, được hình thành bên cạnh các con 4ang lớn khiến cộng đồng dân
cư phải tiến hành công cuộc trị thủy và thủy lợi. Do tính cấp bách thường xuyên và yêu
cầu quy mô lớn của công cuộc trị thủy, thủy lợi nên công xã nông thôn với chế độ sở
hữu chung về ruộng đất được bảo tồn rất bền vững. Ruộng đất về hình thức là thuộc
quyền sở hữu của nhà nước nhưng trên thực tế lại thuộc về công xã nông thôn, các thành
viên của công xã chỉ có quyền chiếm hữu mà thôi. Sở hữu tư nhân đã xuất hiện nhưng
chỉ dừng lại ở việc sở hữu: công cụ lao động, đất ở, tư liệu tiêu 4ang. Như vậy tư hữu ở
các quốc gia cổ đại phương Đông phát triển rất chậm chạp.
Các quốc gia cổ đại ở phương Tây được hình thành muộn hơn trên cơ sở chế độ tư

bán mà giàu có nên được gọi là quí tộc mới. Số lượng nô lệ của các quốc gia cổ đại
phương tây cao gấp 5ang chục lần số lượng chủ nô và bình dân. Với nền kinh tế thủ
công nghiệp và thương nghiệp phát triển, lực lượng chính làm ra của cải vật chất ở đây
là những người nô lệ, một thứ “công cụ biết nói”. Do sự khác biệt trong lực lượng sản
xuất chính giữa xã hội cổ đại phương đông và xã hội cổ đại phương tây nên mâu thuẫn
xã hội giữa các quốc gia cổ đại phương Tây khác với ở phương Đông. Xuất hiện hai
mâu thuẫn trong xã hội là mâu thuẫn giữa chủ nô nông nghiệp và chủ nô công thương
nghiệp, và giữa chủ nô với nô lệ. Những biểu hiện của quyền sở hữu nô lệ và mâu thuẫn
giữa chủ nô và nô lệ hết sức rõ rệt. Nó là tài sản riêng của chủ nô, mối quan hệ bóc lột
diễn ra chủ yếu giữa chủ nô và nô lệ. Trong mỗi điền trang nông nghiệp, chủ nô đã sử
dụng hàng nghìn nô lệ lao động; trong các xưởng thủ công, trong các gia đình chủ nô,
quan lại, trong cung đình đều sử dụng nô lệ. Ngoài 2 giai cấp đối kháng là chủ nô và nô
lệ thì lại có 5ang một tầng lớp không bóc lột ai nhưng cũng không bị ai bóc lột, họ là
những người dân tự do nghèo, Mác đã gọi họ là tầng lớp “vô sản ăn bám” họ sống nhờ
vào phúc lợi xã hội mà không cần phải lao động gì. Như vậy có thể thấy, mâu thuẫn giai
cấp trong xã hội phương Tây cổ đại gay gắt hơn mâu thuẫn so với phương Đông.
4. Cơ sở về tư tưởng
Cơ sở tư tưởng hình thành nhà nước phương Đông cổ đại chính là tư tưởng thần
quyền, đề cao vai trò của các vị vua, tôn sùng một cách tuyệt đối. Ở Ai Cập, các vị
Pharaon (cái nhà lớn), luôn nhận mình là con của thần Mặt Trời nhằm đề cao vai trò và
quyền lực vô hạn của mình đối với dân chúng; ở Lưỡng Hà là Enxi (người đúng đầu).
Còn ở Trung Quốc đề cao thuyết thiên mệnh, vua được coi là Thiên tử (con trời), vua có
quyền lực tối cao. Ở Trung Quốc, “ dưới bầu trời rộng lớn không nơi nào không phải đất
của nhà vua; trong phạm vi lãnh thổ, không người nào không phải thần dân của nhà
vua”. Luật Hammurabi (Lưỡng Hà) còn nói rằng: thần thánh đã trao cho vua quyền tối
cao thiêng liêng để cai trị đất nước.
Ở phương Tây, cơ sở tư tưởng là những tư tưởn cải cách dân chủ, tư tưởng phân
chia quyền lực của Aristot cải cách về sự phân quyền nhà nước và cơ cấu tổ chức bộ
máy nhà nước. Vì vậy, các biện pháp và biểu hiện dân chủ (Demokratie) đã xuất hiện ở
nhà nước Phương Tây. Ví dụ: Hội nghị công dân – cơ quan quyền lực cao nhất trong

Qua những phân tích ở trên, ta đã phần nào đã thấy rõ sự giống và khác nhau về
cơ sở hình thành nhà nước và pháp luật phương Đông và phương Tây thời kì cổ đại. Để
từ đó có thể thấy được điểm khác biệt cơ bản về nhà nước và pháp luật ở phương Đông
và phương Tây vào thời kì này.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế
giới, Nxb. CAND, Hà Nội, 2008.
2. Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật
thế giới, Nxb. ĐHQG, Hà Nội, 1997.
6


3. Lương Ninh (chủ biên), Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2006.
4. Các trang web
www.ebook.edu.vn
www.tailieu.vn

7




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status