PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang sống những năm đầu tiên của một thiên niên kỉ mới: Thiên niên
kỉ thứ Ba. Xã hội loài người đã có những bước tiến vô cùng to lớn trong tất cả mọi
lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học kĩ thuật và nghệ thuật. Trong đó không
thiếu tôn giáo, bởi nó chính là một bộ phận cấu thành nên xã hội.
Tôn giáo một vấn đề tưởng chừng như vô cùng cũ kĩ, nhưng thực chất nó luôn
luôn mới mẻ. Cũng bởi vì tôn giáo nằm trong một bộ phận cấu thành nên xã hội này
nên cùng với sự thay đổi của loài người mà tôn giáo cũng có những sự biến đổi dù là
về nội dung hay chỉ là về hình thức. Tôn giáo - một hiện tượng xã hội phức tạp, chỉ có
thể giải thích nó một cách khách quan khoa học dựa trên những quan niệm của nền
tảng Triết học duy vật về lịch sử, cũng như nhận thức duy vật khoa học. Tôn giáo là
một hình thức phản ánh hư ảo, xuyên tạc đời sống hiện thực và đã ra đời cách đây
hàng chục nghìn năm. Nhưng ngày nay trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ
thuật trên thế giới, tôn giáo dường như vẫn có sự phát triển đa dạng về hình thức và
rộng lớn về quy mô. Cả nhân loại đang chứng kiến một trào lưu xuất hiện những
“hiện tượng tôn giáo mới”. Các trào lưu “tôn giáo mới” có ảnh hưởng rất lớn đến mọi
mặt của đời sống xã hội, trong đó tác động tiêu cực là chủ yếu, tuy nhiên cũng không
thể phủ nhận những tác động tích cực.
Sự ra đời của hàng loạt các “tôn giáo mới” là một “bài toán” đối với chính sách
tôn giáo của mỗi quốc gia. Nhưng để đưa ra một chính sách đúng đắn đòi hỏi cần phải
có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về những ảnh hưởng của các “hiện tượng tôn giáo
mới” đối với đời sống xã hội.
Vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng của các “hiện tượng tôn giáo mới” trên thế giới và
Việt Nam đối với đời sống xã hội” góp phần đưa đến sự nhận thức đầy đủ, khách
quan, cũng như thái độ đúng đắn đối với các “tôn giáo mới”. Đồng thời, đề tài thực sự
mang đến những giá trị thực tiễn cho tác giả, là một dịp để hệ thống hóa, nghiên cứu
và cập nhập, bổ sung thêm kiến thức về vấn đề “tôn giáo mới”.
2.
tận thế và hiện tượng các “tôn giáo” cực đoan” của Mai Thanh Hải (số 3, năm 2000),
“Hiện tượng “tôn giáo mới” – mấy vấn đề lí luận và thực tiến” của PGS.TS Đỗ
Quang Hưng (số 5, năm 2001), “Vấn đề “tôn giáo mới” trong công trình nghiên cứu
của các nhà khoa học Trung Quốc” của Trần Phương Nghĩa (số 5, năm 2001)… Tất
cả những bài viết đã tiếp cận “hiện tượng tôn giáo mới” với những góc độ khác nhau.
Luận văn, khóa luận nghiên cứu về vấn đề này còn chưa nhiều, trong đó có
khóa luận “Tìm hiểu các trào lưu tôn giáo mới trên thế giới và Việt Nam (nửa sau thế
kỷ XX)” của Hà Thị Lịch đã đưa đến những nét khái quát nhất về các “trào lưu tôn
giáo mới”.
Nhìn chung, các nghiên cứu đã nhìn nhận vấn đề “tôn giáo mới” ở một góc độ,
phạm vi nào đó. Tuy nhiên, đối với vấn đề tác động của nó thì chưa có cái nhìn toàn
diện. Do vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, tiếp cận cả mặt tiêu cực lẫn tích
cực về tác động của các “hiện tượng tôn giáo mới” đối với đời sống xã hội là những
khoảng trống mà đề tài muốn đi sâu.
PHẦN NỘI DUNG
1
GS. Đặng Nghiêm Vạn, Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001,
trang 303.
Chương 1.
NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA CÁC “HIỆN TƯỢNG TÔN GIÁO
MỚI” ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1.1. Kinh tế
1.1.1. Không tham gia sản xuất của cải vật chất
Phần lớn những người đến với các “tôn giáo mới” là tầng lớp bị tổn thương,
phủ nhận thế giới hiện tại, tìm đến sự xa lánh cuộc đời. Với niềm tin mù quáng vào
mớ lý thuyết kỳ quái của giáo phái, các tín đồ tự cách ly hoàn toàn khỏi xã hội. Họ
chán ghét tất cả: cuộc sống, gia đình, xã hội và đặc biệt là chán ghét lao động. Từ
vẫn bình yên.
Dù ở chân trời khác nhau nhưng các giáo phái đều khẳng định là sẽ có ngày
Tận thế. Mỗi giáo phái ở các địa phương lại có những màu sắc, hương vị “sáng tạo”
riêng về ngày Tận thế nhưng tựu trung là con người muốn tránh được ngày đó thì
“phải ăn năn, hối lỗi, phải chay tịnh cầu nguyện, xin được xá tội, tha lỗi, phải thống
hối thật sự bằng cách đem nộp trả hết của cải kiếm được của thế gian, rồi cùng nhau
tự chết trước mặt Thượng Đế để Ngài chứng kiến và cho lên Thiên Đàng trước ngày
tận thế”2.
Giáo chủ của các “tôn giáo mới” ra sức tuyên truyền kiếp nạn diệt thế để khủng
bố, bức bách tư tưởng tín đồ, rêu rao ngày Tận thế sắp đến, chỉ có ai theo họ thì mới
được cứu thoát. Các tín đồ đều tin một cách mù quáng vào ngày Tận thế. Họ nhất loạt
chuẩn bị chờ đón cái chết đến, không quan tâm đến cuộc sống nữa. Họ ngừng lao
động, ra sức phá hủy, tiêu tán tất cả của cải vật chất. Đặc biệt, ở nông thôn các tín đồ
cuồng nhiệt giết trâu bò để ăn uống, nhảy múa say sưa chờ đợi ngày Tận thế.
Ví dụ, các linh mục đứng đầu dòng Dami ở Hàn Quốc đã đưa ra lời tiên tri về
ngày Tận thế sẽ bắt đầu từ nửa đêm 28/10/1992 với cuộc Đại thế chiến thứ ba nổ ra,
cuộc đại hồng thủy sẽ hủy diệt loài người trong vòng 8 năm. Có tới 20.000 tín đồ đã
mù quáng tin và đi theo, họ tiêu tán, đập phá tài sản và tụ tập đón chờ ngày Tận thế.
Trong các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Australia… cũng có hàng chục đạo kì
quái ráo riết hoạt động “đón” ngày Tận thế theo cách riêng của mình. Có khoảng hơn
một nửa số đạo này vạch ra các cách khác nhau nhằm tự sát tập thể sau khi đã đem
toàn bộ của cải ra góp với giáo chủ để cùng nhau ăn uống, nhảy múa cuồng loạn.
Như vậy, việc gia nhập các “tôn giáo mới” rồi tự cách ly mình ra khỏi tập thể,
không còn tham gia sản xuất lao động, giành hết thời gian và sức lực cho việc cúng tế
và chờ đón ngày Tận thế đã tác động rất tiêu cực đến đời sống kinh tế. Nó làm giảm
số lượng và chất lượng của “lực lượng sản xuất”, phá hoại sản xuất.
1.2. Chính trị - xã hội
1.2.1. Vi phạm pháp luật, rối loạn trật tự an ninh xã hội, xâm hại đến nhân phẩm,
sức khỏe và tính mạng con người
Hiện nay, ở Mỹ và nhiều quốc gia khác, các nhà chức trách đang vô cùng đau
Vụ tự sát tập thể của giáo phái “Thiên môn” ở Mỹ, 39 người tự tử, gồm 21 nữ
và 18 nam, nằm trong độ tuổi 28 - 72. Họ tử tự bằng cách ăn bánh hoặc uống nước ép
từ quả táo cùng thuốc ngủ và rượu vodka. Vẻ mặt của họ rất bình thản, tựa như đang
ngủ say4.
Ở Thụy Sĩ, đêm 4 rạng sáng 5/10/1994, cảnh sát đã tìm ra tổng cộng 47 xác
chết bị thiêu cháy, tất cả đều là thành viên của giáo phái “Ngôi đền mặt trời”. Cảnh
sát cho biết tuy thi thể người chết có vết đạn, nhưng không có dấu hiệu kháng cự tại
3
Xem Trần Nghĩa Phương, Vấn đề “tôn giáo mới” trong công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc,
Nghiên cứu Tôn giáo, số 5, 2001.
4
Xem N.H, Vén bức màn bí ẩn về giáo phái “Thiên môn” và vụ tự sát tập thể ở Mỹ, Báo Tiền phong, số 33, 1997.
hiện trường. Điều đó nói lên rằng họ đều tự nguyện chọn lấy cái chết. Cái chết tập thể
của giáo phái “Ngôi đền mặt trời” đã khuấy động đất nước Thụy Sĩ yên tĩnh5.
Loại hành động cực đoan thứ hai là dùng bạo lực tấn công xã hội thế tục.
Ở Anh (xứ sở đang có hơn 600 đạo kì quái), đạo “Đội quân của Chúa Giêsu”
tập trung tín đồ say sưa chè chén, nhảy múa suốt “mùa chay” trước ngày lễ Phục sinh,
mong Chúa báo ứng xem cần giết kẻ nào lấy máu bôi vào người để tránh ma quỷ ám
hại vào ngày Tận thế. Chỉ trong hai tháng, đã có hàng chục người bị giết hại một cách
bí mật và dã man. Cảnh sát nghi ngờ thủ phạm nằm trong các loại đạo kì quái này.
Đặc biệt, nhiều “đạo lạ” này đều chọn phương thức sinh hoạt tập thể theo kiểu
công xã để dễ bề khống chế. Để xây dựng và duy trì phương thức này, các giáo chủ
tìm mọi cách dụ dỗ hoặc cưỡng bức tín đồ quyên hiến tài sản, hô hào tín đồ cách biệt
với gia đình. Như vậy là những kẻ cầm đầu đã có hành vi xâm phạm tài sản, thậm chí
là nhân phẩm của nhiều công dân.
Giáo chủ giáo phái AUM bắt tín đồ phải hiến toàn bộ tài sản cho tổ chức. Ai
đang diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước.
Nhiều đạo ngay từ khi mới ra đời đã vi phạm pháp luật bởi không đăng kí hoạt động
với chính quyền. Duy nhất có hai trường hợp là xin hoạt động tôn giáo: “Trung Thiên
vận hội” của Lí Xương Lê (Bình Định) và “đạo Cội nguồn” của Khai Minh Châu
(thành phố Hồ Chí Minh). Nó gây khó khăn trong quá trình quản lí và thực hiện chính
sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
“Đạo Thầy Ty” còn có tên gọi là “đạo chân đất”, “đạo sex” xuất hiện ở Hà
Tĩnh (1991) do Lưu Văn Ty khởi xướng với những “mớ giáo lí” mê tín, phản khoa
học đã lừa gạt, xâm phạm tài sản và nhân phẩm nhiều người. Y bịa đặt ra cái gọi là
“Xả phú cầu bần” (bỏ cái giàu sang để nhận lấy cái nghèo đói), “phép thọ kí” (quan
hệ tình dục với “người trời”, chính là y) để trừ ma quỷ, dục lậu trong người, hành xác
(tu luyện trong bụi gai, cởi quần áo phơi nắng, ăn ở giữa đất, …).
Với kiểu hành đạo quái dị này đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng về mặt xã
hội. Nhiều em học sinh và cả những người phụ nữ có tuổi vì sự nhẹ dạ cả tin đi theo
sự lôi kéo của bọn tay chân Lưu Văn Ty đã phải gánh chịu một cuộc sống nhục nhã,
đau khổ, luôn bị hành hạ, đe dọa. Cuộc đời của nhiều cô gái đã bị hủy hoại vì “phép
thọ kí” và quan hệ tình dục bừa bãi khi hành lễ. Nhiều nhà khuynh gia bại sản, nhiều
người trở thành thân tàn ma dại vì lối hành khất quái đản của Ty.
Đồng thời, không chỉ xâm hại, chà đạp nhân phẩm của những người phụ nữ, Ty
còn bòn rút từ những số tiền cúng dưỡng của đạo hữu (khoảng trên 600 triệu đồng) để
phục vụ cho cuộc sống sung sướng của bản thân. Không chỉ đi ngược lại sự phát triển
của xã hội, gây mất trật tự an ninh, tà đạo “chân đất” còn gây ô nhiễm môi trường với
việc “hóa lễ để “ban phước âm” (tín đồ dỡ nhà đem đốt hoặc thả trôi sông, chặt hết
cây cối trong vườn, chôn gia súc gia cầm, đốt quần áo…)
Đạo Phạ Tốc ở bản Pá Hè (Sơn La) do Cà Văn Liêng dựng lên. Những câu
chuyện hoang đường, những trò lừa bịp của Liêng và cha của y là Cà Văn Héo đã lừa
gạt dân trong bản tin theo. Y lấy rễ cây rồi tẩm đường sao khô, gọi là thuốc Gia Rưng
(thuốc trường thọ) lừa gạt là uống một viên sẽ sống thêm 3 năm và mang bán cho dân
với giá một đồng bạc trắng một viên. Y còn mua viên bi ve ngoài chợ và nói đó là
“ngọc trời”, ai muốn lên Mương Nưa thì phải mua và bán 10.000 – 20.000 đồng một
khí vi trùng và khí độc. Tiến hành thu hút các sinh viên, nhà khoa học giỏi của các
trường đại học có danh tiếng uy tín trong nước làm hạt nhân cho các lớp nghiên cứu
sản xuất khí độc và xưởng hóa học. Giáo phái AUM đã chế tạo hóa chất độc sarinmột chất độc được bác sĩ Gerhard Schrader chế tạo vào năm 1938 để giúp Đức quốc
xã làm vũ khí hóa học và sinh học chống lại Đồng minh.
Hay giáo phái “Ngôi đền mặt trời” có quan hệ mật thiết với thế lực phát xít
mới. Giáo chủ Luc Jouret đã từng có quan hệ rất chặt chẽ với tập đoàn khủng bố hoạt
động ở Canađa, rồi sau đó tham gia tà giáo “Dòng phục hưng đền thánh”6.
Các giáo phái đó lấy chuyện ngày Tận thế và xây dựng thiên đường trên thế
gian để ra sức tăng cường quân sự hóa chống lại chính phủ. Giáo chủ Khoresh lấy
danh nghĩa tự vệ, từ tháng 10/1991 đến tháng 7/1992 đã chi 20 vạn đôla mua một
lượng lớn vũ khí, cất giấu trái phép trong kho và hầm ở trang trại của giáo phái. Trong
đó có súng bộ binh (AK14, AR15, M16), súng máy, súng ngắn, hơn 8.000 bảng đạn
dược, 260 hòm súng… nhiều linh kiện có thể lắp ráp thành vũ khí tự động. Trong
trang trại của giáo phái còn có phân xưởng lắp ráp vũ khí và nhân viên kĩ thuật
chuyên môn. Y còn tổ chức cho tín đồ xem phim diễn tập quân sự và tổ chức huấn
luyện quân sự nghiêm ngặt. Khi cảnh sát Mỹ bao vây, họ còn chống cự lại bằng vũ
khí kéo dài 45 phút, bắn chết 4, làm thương 16 nhân viên vũ trang Mỹ.
Có loại tà đạo này còn cuồng nhiệt phá hoại cục diện cải cách, làm tổn hại hình
tượng của Đảng (thông tri của TƯ Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 19/7/1999). Đó
chính là “Pháp luân công” do Lý Hồng Chí sáng lập. Giáo phái này tuyên truyền tư
tưởng phản động: ngày Tận thế con người sẽ bị hủy diệt, khoa học kĩ thuật hiện đại
cũng phải bất lực, chính phủ không làm được gì, chỉ có “Pháp luân công” mới cứu
được nhân loại, chỉ có Lý Hồng Chí mới giúp mọi người lên Thiên đường, muốn vậy
phải chuyên tâm luyện Pháp luân công, không được đi theo một tín ngưỡng nào cả.
“Pháp luân công” có tổ chức chặt chẽ với mạng lưới chân rếp sâu rộng khắp các tỉnh
thành của Trung Quốc. Giáo phái còn có Hội nghiên cứu Đại pháp luân công ở Bắc
Kinh để chỉ đạo hoạt động, bao gồm 39 trung tâm mẹ, 1.900 trung tâm con, 28.000
địa điểm tập trung luyện tập, hơn 10.000 tổ cơ sở trên khắp cả nước. Đồng thời, Lý
huyền, ma mị rỉ tai ấy đã thu hút khá đông người dân trong vùng theo và lan ra các
tỉnh khác. Số người theo Hà Mòn trên 3.500 người thuộc hai dân tộc Ba na và Sê đăng
ở 34 thôn, làng của 17 xã thuộc 11 huyện trên địa bàn 3 tỉnh Kon Tum, Gia Lai và
Đắklắk (thời điểm năm 2011)7.
“Hiện tượng Hà Mòn” đã đem lại hậu quả không tốt đến đời sống nhân dân, an
ninh trật tự của khu vực, dễ bị các thế lực phản động lợi dụng cho mục đích chính trị.
Các cháu học sinh là con em gia đình theo “hiện tượng Hà Mòn” bỏ học nhiều,
ảnh hưởng đến việc học của các cháu, đến việc giáo dục chung của các trường ở khu
vực miền núi và ảnh hưởng đến nhận thức của người dân tộc vốn ít coi trọng sự
nghiệp học tập của con em (tại xã Ea Yiêng huyện Krông Pách, tỉnh Đắk Lắk cuối
tháng 4/2012 có 113 học sinh các cấp bỏ học). Việc tin chữa bệnh bằng cầu nguyện,
những điều nhảm nhí thay bằng đến các cơ sở y tế đã làm ảnh hưởng đến sức khỏe
của người dân; ảnh hưởng đến nhận thức trở lại của người dân tộc về việc chữa bệnh
bằng cầu cúng, bùa ngải.
Hoạt động của “hiện tượng Hà Mòn” đã vi phạm pháp luật về tôn giáo, là một
tổ chức không được Nhà nước công nhận, nhưng vẫn hoạt động, xúi dục, cưỡng ép
người dân theo; xúi dục tín đồ Công giáo bỏ đạo; tụ tập đông người để hành lễ.
7
Xem
http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/2984/_Hien_tuong_Ha_Mon_o_Tay_Nguyen_nh
ung_van_de_can_quan_tam (9h42pm 9/10/1012)
Trong quá trình hoạt động “Hà Mòn” đã bị bọn Fulro lợi dụng, móc nối với
những phần tử đứng đầu các nhóm, lập ra bộ khung Hà Mòn Tây Nguyên và phân
công người phát triển “điểm nhóm Hà Mòn”. “Đạo lạ” này ảnh hưởng đến an ninh,
trật tự của cả khu vực với việc tuyên truyền gây chia rẽ đoàn kết giữa các dân tộc
trong khu vực, giữa tín đồ Công giáo và người theo “hiện tượng Hà Mòn”; những
http://www.sggp.org.vn/phongsudieutra/2012/9/299114/
1.3.2. Giáo lí của các “hiện tượng tôn giáo mới” làm cho tâm lí xã hội nghiêng về
tư tưởng hữu thần, thu hẹp khoa học vô thần
Đối với vấn đề an ninh tư tưởng, với việc truyền bá những giáo lí hỗn độn,
mang nặng tính mê tín dị đoan của các “hiện tượng tôn giáo mới” làm cho tâm lí xã
hội nghiêng về tư tưởng hữu thần, thu hẹp khoa học vô thần. Đặc biệt, nhiều trào lưu
“tôn giáo mới” còn tuyên truyền có khả năng chữa bách bệnh với những phương pháp
vô cùng đặc biệt, phản khoa học. Thuốc chữa bệnh có thể chỉ là tàn hương, nước lã
hay thậm chí chỉ cần chăm chỉ đọc kinh là sẽ hết bệnh tật. Rõ ràng đây chỉ là những
luận điệu lừa bịp, mê tín, dị đoan. Nhưng có vô số người nhẹ dạ cả tin rồi nhận lấy
hậu quả “tiền mất tật mang”, thậm chí là bỏ mạng.
Ở Việt Nam có đạo nói tiếng lạ với phương châm chữa bệnh quái gở là họp
nhóm, hát thánh ca, cầu nguyện bằng tiếng lạ. Nhiều người tin theo, trong đó có bà
Nguyễn Thị Dung (trú ngụ 49/438 Trần Bình Trọng, Gò Vấp) bản thân đau ốm vì lao
phổi nhưng tin nói tiếng lạ sẽ chữa lành bệnh để rồi thiệt mạng vì bệnh và suy kiệt cơ
thể.
“Hiện tượng Long Hoa Di Lặc” cũng có chủ trương mê tín, dị đoan: khi bản
thân ốm đau hoặc súc vật trong nhà gặp bệnh, hoa màu, cây trái trong vườn bị mất
mùa chỉ cần lấy nước đặt trên bàn thờ vẩy vào là khỏi. Chính sự tuyên truyền mớ giáo
lí nhảm nhí đó đã gây nên bao cảnh thương tâm. Chẳng hạn như trường hợp của cháu
Nghiêm Hữu Lương, 3 tuổi ở Thiết Bình, Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội bị bệnh tiêu
chảy. Nhưng bố cháu nhất quyết không cho đưa đến bệnh xá mà để ở nhà và chữa
bằng tàn hương nước lã, cuối cùng chết một cách oan uổng. Hay chị Hoàng Thị Loan,
37 tuổi bị kiệt sức sau khi sinh nhưng vì tin theo đạo, không để mọi người đưa đi bệnh
viện mà chỉ ở nhà cầu khấn, dùng tàn hương nước lã nên đã chết sau vài ngày.
“Đạo Vàng Chứ” ở bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện
Biên là một dạng biến tướng đạo Tin lành, do Vàng A Ía bày trò, tuyên truyền “Vàng
Chứ” sẽ cho cơm ăn, trâu bò, tiền bạc rồi tụ tập nhau ở Huổi Khon để chờ “vua
chất mê tín, dị đoan, phản khoa học của “đạo lạ”, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống
của nhân dân thì bị các tổ chức khoác “cái áo” nhân quyền bôi nhọ, xuyên tạc là ở
Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, tôn giáo, không có nhân quyền. Thí dụ Trung
tâm phân tích chính sách công (Center for Public Policy Analysis), một tổ chức theo
dõi nhân quyền có trụ sở ở Mỹ, chưa một lần đặt chân đến Mường Nhé – địa bàn hoạt
động của “đạo Vàng Chứ” nhưng vẫn bịa đặt là có hơn 1.000 người Mông bị chính
quyền bắt trong vụ Mường Nhé. Hay đại diện tổ chức NGO (non-governmental
organization) ở Mỹ cũng tung tin hàng trăm người dân tộc ở Tây Nguyên bị bắt vì
“sinh hoạt tôn giáo”. Rõ ràng ẩn giấu đằng sau đó là ý đồ phá hoại Nhà nước, phá
hoại chế độ10.
1.3.3. Một số các “tôn giáo mới” đã có hành vi xâm phạm tới nhân phẩm, làm
băng hoại đạo và thuần phong mĩ tục
9
10
Xem http://www.sggp.org.vn/phongsudieutra/2012/9/299307/
Xem http://www.sggp.org.vn/phongsudieutra/2012/9/299114/
Về mặt văn hóa, một số các “tôn giáo mới” đã có hành vi xâm phạm tới nhân
phẩm, làm băng hoại đạo và thuần phong mĩ tục.
Giáo chủ giáo phái “Những đứa con của Chúa” Berg đã cưỡng ép các nữ tín
đồ làm điếm để lôi kéo các tín đồ mới đồng thời kiếm tiền cho tổ chức. Hay giáo phái
“Quỷ Sa tăng” bắt buộc các thành viên phải hiến toàn bộ tài sản cho tổ chức, bị ép sử
dụng ma túy, các cuộc truy hoan tập thể.
Ở Việt Nam, “đạo chân đất” hay còn gọi là “đạo sex” của Lưu Văn Ty ở Hà
Tĩnh, với kiểu hành lễ quái gở: các đệ tử tụ tập lại, cởi hết quần áo chất thành đống,
tưới xăng lên rồi đốt, sau đó tất cả nhảy múa và cuối cùng là quan hệ xác thịt theo
kiểu quần hôn tập thể mà y gọi đây là “bố thí” cho nhau. Để thỏa mãn nhục dục bỉ ổi
2.1.1.
Các “tôn giáo mới” ra đời tác động đến chính sách của Đảng và nhà
nước trong vấn đề quản lí đời sống tôn giáo, tín ngưỡng
Sự có mặt của nhiều tôn giáo truyền thống và sự ra đời của hàng loạt các “tôn
gióa mới” đã thể hiện nhu cầu tâm linh của nhân dân. Để đảm bảo quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân, Quốc hội đã
ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (ngày 18 tháng 6 năm 2004, tại phiên họp
thứ 19 khoá XI). Chính phủ đã ban hành hệ thống văn bản pháp quy, tạo hành lang
pháp lý cho hoạt động và quản lý tôn giáo. Cấp ủy, chính quyền các cấp trong cả nước
triển khai thực hiện nghiêm túc, đảm bảo và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của nhân dân; đồng bào có đạo, các tín đồ, chức sắc tôn giáo tích cực hưởng ứng,
tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, xây
dựng đời sống mới, sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần vào việc phát triển kinh tế xã
hội, vào công cuộc Đổi mới của đất nước.
Tuy nhiên, Đảng và Nhà nước cũng nhận định, cần nắm rõ đâu là đời sống tôn
giáo bình thường, đâu là các đạo quái dị, khoác vỏ bọc tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh,
làm hại đến đời sống của nhân dân, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm phương
hại đến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Đối với các tụ điểm, đối tượng cầm
đầu của “tà đạo” nhất quyết có biện pháp đấu tranh xóa bỏ.
Đồng thời, chính quyền các cấp phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục
nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân dân, tín đồ, chức sắc các tôn giáo về chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước về tôn giáo; hiểu đúng về tình hình tôn giáo
và sinh hoạt tôn giáo; khẳng định các “tà đạo” không phải là tôn giáo, mà là các hoạt
động lợi dụng tôn giáo để thực hiện các hành vi mê tín, dị đoan, chia rẽ tôn giáo, phá
hoạt khối đạo đoàn kết dân tộc, là vi phạm pháp luật Việt Nam, cần phải kiên quyết
xóa bỏ.
Ăng-ghen đã nói mọi sự phát triển không có định hướng đúng đều để lại phía
sau một bãi hoang mạc. Vì vậy, tôn giáo thực sự cần sự định hướng, quản lí của Nhà
nước. Các “hiện tượng tôn giáo mới” ra đời đã tác động đến chính sách của Đảng và
nhà nước trong vấn đề quản lí đời sống tôn giáo, tín ngưỡng.
số “tôn giáo mới” với các hình thức tập dưỡng sinh, ngồi Thiền, hay tập Yoga có vai
trò tích cực trong việc rèn luyện sức khỏe.
Điển hình như “Pháp luân công” là một tổ chức dưỡng sinh bằng phương pháp
luyện công với hệ thống “tu dưỡng cơ thể và tinh thần” được ông Lý Hồng Chí giới
thiệu cho công chúng năm 1992 gồm 5 bài tập khí công nhẹ nhàng (bốn bài động
công tư thế đứng và một bài tĩnh công toạ thiền) 12. Các bài tập chỉ là phương tiện phụ
11
12
Đức Duy, Điều gì đằng sau cơn sốt các giáo phái trên thế giới, Báo Tiền phong, số 36, ngày 24/4/1997.
Xem http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p_Lu%C3%A2n_C%C3%B4ng
trợ cho việc tu tâm tính. Mối quan hệ giữa trạng thái tâm lý và sức khỏe của thân thể
là cực kỳ quan trọng. Họ tu luyện thân tâm thực hành phương pháp tĩnh tọa để thay
đổi bản thân mình, để vượt qua cái áp lực vật chất hiện thực. Bằng cách tu tâm tính,
các học viên sẽ trực tiếp có ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe của mình. Pháp Luân
Công có tác dụng tích cực trong việc trị bệnh, tăng cường sức khỏe và cải thiện cảm
giác tổng thể của người tập về chất lượng cuộc sống. Khi sức khỏe và tinh thần của
con người được nâng cao thì mức chi phí cho y tế của mỗi người được tiết kiệm hơn.
2.2. Văn hóa – tư tưởng
2.2.1
Sự ra đời của hàng hoạt các “tôn giáo mới” là bài học cảnh tỉnh đối với
các tôn giáo truyền thống
Các “hiện tượng tôn giáo mới” ra đời và có chỗ đứng vì nó lấp đầy khoảng
trống trong tâm linh con người. Điều đó cũng chứng tỏ sự sa sút nghiêm trọng về uy
tín, vị thế của các tôn giáo truyền thống. Tôn giáo truyền thống muốn tồn tại và phát
triển thì bắt buộc phải biến đổi bản thân để phù hợp với những biến đổi chóng mặt của
xã hội hiện nay. Thực tế, các tôn giáo truyền thống đã và đang có nhiều thay đổi theo
xu thế thế tục hóa. Tuy nhiên, sự thay đổi này còn chậm chạp, chưa bắt kịp với sự
đồ mà không hề kêu gọi đóng góp như chùa Hoằng Pháp. Tuy nhiên được mấy chùa
như thế.
Khi mà cuộc sống quá nhiễu khê tác động tâm lý đến đời sống tâm linh của họ,
nhu cầu tu tập của quần chúng ngày càng phát triển. Một số đến chùa, học hỏi giáo lý,
nắm vững nghi lễ, xét thấy đến chùa gặp nhiều phiền phức, một số đến chỉ bàn
chuyện gia đình, nói chuyện thế gian và ngại cúng dường khi kinh tế eo hẹp, do vậy
họ tự động lập nhóm để tu tại gia, luân phiên tụng niệm. Các ban Hộ Niệm ra đời
phần nào nói lên nguyện vọng của một bộ phận dân cư muốn đơn giản các nghi thức
cúng bái của Phật giáo.
2.2.2. Một số “tôn giáo mới” đưa những người có công với dân tộc để thờ phụng và
có các hoạt động từ thiện, đóng góp công ích
Một số “tôn giáo mới” đưa những người có công với dân tộc để thờ phụng và
có các hoạt động từ thiện, đóng góp công ích.
“Đạo Bạch” do Nguyễn Văn Minh sáng lập, là một biến dạng của “Long Hoa
Di Lạc”, tài trợ cho nhà thờ Cần Kiệm, nhà thờ Vĩnh Lộc, chùa Tây Phương, …
“Đạo Ông Trần” do Lê Văn Mưu, vốn là tín đồ của “Tứ ân hiếu nghĩa” lập ra,
răn dạy bà con làm những điều “nhân luân”, “ái quốc” theo Khổng giáo. Đó là những
điều phù hợp với đạo lí của con người Việt.
“Đạo Bác Hồ” thờ phụng Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân
tộc, danh nhân văn hóa thế giới, “Đạo Trần Hưng Đạo” thờ phụng Hưng Đạo Vương
Trần Quốc Tuấn – nhà quân sự kiệt xuất, anh hùng dân tộc. Trần Hưng Đạo và Hồ
Chí Minh đều là hai vị thánh sống của dân tộc Việt Nam, là những người có công lao
vô cùng to lớn đối với non sông, đất nước ta. Vì vậy, việc thờ phụng họ là hoạt động
có ý nghĩa “tốt đời, đẹp đạo”, phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của
dân tộc Việt Nam.
Tiểu kết:
Những tác động tiêu cực của các “hiện tượng tôn giáo mới” đối với đời sống xã
hội là điều rõ ràng với bao nhiêu hậu quả tai hại mà nó đã gây ra. Tuy nhiên, dù gì
tỉnh cần nghiên cứu kỹ nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng và đời sống kinh tế của bộ phận
dân cư ở từng địa phương để có nội dung tuyên truyền đúng theo các chính sách về
tôn giáo, về phát triển kinh tế, xã hội cho phù hợp, đạt hiệu quả thiết thực.
Thứ hai, giải pháp về phát triển kinh tế.
Kinh tế luôn là vấn đề có tính chiến lược. Trong thời đại phát triển nhanh đến
“chóng mặt” hiện nay, xã hội không thể quên những người bị tụt hậu lại sau, bị nghèo
đi, những người dễ bị tổn thương về tinh thần. Chính sự đói khổ, nghèo nàn, lạc hậu
của đời sống là nguyên nhân “xô đẩy” một bộ phận dân cư tham gia vào tổ chức của
các “đạo lạ”.
Các cấp, các ngành cần thực hiện nghiêm túc chủ trương của Đảng, Nhà nước
về các chính sách phát triển kinh tế, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực Tây
Nguyên và Tây Bắc. Từ đó, chính quyền cần quan tâm và đầu tư hơn nữa về cơ sở hạ
tầng, phát triển sản xuất đảm đời sống kinh tế ở vùng nông thôn và các vùng dân tộc
thiểu số. Các ban, ngành cần đầu tư, phát triển về văn hóa giáo dục, y tế, an sinh xã
hội và cung ứng dịch vụ công cho khu vực này, để người dân nơi đây được thừa
hưởng sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội.
Thứ ba, giải pháp dân tộc.
Con người không chỉ ăn, mặc, ở mà còn có những nhu cầu tinh thần khác. Tuy
nhiên, ở những vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa – nơi mà trình độ dân trí còn thấp
thì thiếu trầm trọng các cơ sở vật chất phục vụ đời sống văn hóa tinh thần. Đó chính là
một trong những nguyên nhân khiến người dân tìm đến những loại hình văn hóa rẻ
tiền khác để tạm thỏa mãn nhu cầu phần nào, thậm chí là tham gia vào các nhóm tôn
giáo không một chút phân vân.
Khi hỏi lý do những người tham gia nhóm “Thần quyền ni mô pháp” ở một
vùng nông thôn Hải Phòng, đều trả lời là “thời gian rảnh rỗi, không biết làm gì nên
vào đạo cho vui, lại được học thêm võ nữa”13. Họ không định hướng, cũng không có
nhiều khả năng để lựa chọn cái già hay nhất, phù hợp nhất cho bản thân.
Do vậy, các ngành, các cơ quan chức năng và các đoàn thể cần có chính sách về
khách quan và khoa học về nó, cần gắn một cách cụ thể một “trào lưu tôn giáo mới”
với bối cảnh xã hội cụ thể, với mảnh đất sản sinh và tồn tại nó, cũng như những nhu
cầu sâu xa của người dân, cần phải phân biệt đâu là đời sống tâm linh đa dạng của
một bộ phận nhân dân, đâu là những giáo phái “khoác” vỏ bọc tôn giáo gây hại đến
đời sống xã hội.
Khi có sự nhìn nhận đúng đắn về các “hiện tượng tôn giáo mới” thì chính phủ
của mỗi quốc gia mới có thể đưa ra những chính sách hoạch định, quản lí phù hợp
định hướng cho sự phát triển của tôn giáo. Chỉ có như thế thì các hoạt động tâm linh,
đời sống tôn giáo bình thường tiếp tục được xã hội tôn trọng, còn những trò bịp náu
mình dưới chiếc áo tôn giáo thì bị dư luận lên án và bị pháp luật trừng trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Sách tham khảo:
1. Đặng Nghiêm Vạn (Cb), Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998.
2. Đặng Nghiêm Vạn (Cb), Về tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam hiện nay, NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1998.
3. Đặng Nghiêm Vạn, Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
* Tạp chí:
4. D.W.Brackett, Tôn giáo ra tòa, sự kết thúc của giáo phái Aum, Nghiên cứu Tôn
giáo, số 5, năm 2001
5. Francoise Champion, Nhóm tôn giáo thiểu số, nhóm tôn giáo bên lề: trường hợp
của các phong trào tôn giáo mới, Nghiên cứu Tôn giáo, số 5, năm 2001.
6. Mai Thanh Hải, Ngày tận thế và hiện tượng các “tôn giáo” cực đoan, Nghiên cứu
Tôn giáo, số 5, năm 2001.
7. PGS.TS Đỗ Quang Hưng, Hiện tượng “tôn giáo mới” – mấy vấn đề lí luận và thực
tiến, Nghiên cứu Tôn giáo, số 3, năm 2000.