TÀI LIỆU MÔN MỸ HỌC - Pdf 33

Xuan Viet Vu – 3802

Contents

Hội họa hiện thực
I. Lịch sử hình thành và phát triển chủ nghĩa hiện thực ở Pháp xuất hiện sau cuộc Cách mạng
năm 1848. Tại Pháp nó thể hiện một biểu hiện cho sự dân chủ. Đồng thời trong các nghệ sĩ
nước Anh - hiện thực đã đến trước công chúng với các phản ứng chống lại các vật Victoria và
các công ước của Học viện Hoàng gia ở London. Khi đến Nga, nghệ thuật Hiện thực trở thành
một phương tiện hữu hiệu cho các họa sĩ trường họa Lưu động, khi hướng nghệ thuật về đời
sống nhân dân Nga. Còn ở Ý, chủ nghĩa hiện thực ra đời từ phong trào Hội hoạ tiền phục hưng
Ý, gắn liền với phong trào Hội họa phục hưng, khi mà các hoạ sĩ bắt đầu chú ý đến những chi
tiết hiện thực của đời sống hàng ngày. Những truyện tích không chỉ được miêu tả một cách
mạnh mẽ và rõ ràng, mà còn được minh hoạ bằng những cảnh đời thường sống động. Bắt đầu
từ đây, người hoạ sĩ không còn tự thoả mãn được với những tiểu xảo cho phép mình trình bày
những nhân vật trong các tích truyện một cách chung chung, rập theo những khuôn mẫu cũ
mòn, quen thuộc nữa, mà họ phải quan sát và thể hiện một cách tỉ mỉ các hiện tượng thiên
nhiên, cũng như các nhân vật, dựa theo những mẫu người thật và vật thật. Chủ nghĩa Hiện thực
trong nghệ thuật nói chung, hội họa nói riêng như một ngôi đền thiêng của nhiều nghệ sỹ. Ngôi
đền ấy thường hay bị các anh chàng trẻ “xúc phạm”, chính bởi giới hạn khá mông lung cũng
như các tiêu chuẩn không rõ ràng vì có thể hiểu chúng theo nhiều cách khác nhau.Song có một
thời, nghệ thuật Hiện thực được quan niệm một cách cực đoan người ta coi xã hội này là quá
tuyệt đẹp, đến mức nghệ thuật chỉ làm mỗi việc là phản ánh nó sao cho thật giống. Cái giống tự
nhiên trở thành tiêu chuẩn của nghệ thuật Hiện thực và chết nỗi cái giống ở đây được giới hạn
trong một số khu vực nhất định, ngoài khu vực đó ra hình như không được công nhận là hiện
thực. Trên thực tế, không nghệ sĩ nào có thể làm việc máy móc như thế. Tả thực chỉ là bài học
đầu tiên của nghệ thuật, không phải là cái đích cuối cùng, và có thể đi đến hiện thực bằng
nhiều con đường, thay cho một sự duy nhất đúng.
Khi thời của chủ nghĩa đề tài qua đi, hội họa Hiện thực không hề mất giá trị, nó mở ra nhiều
chiều, nhiều mặt hơn nữa. Họa sỹ không phải là cái máy ảnh vụng về, hiện thực không phải là
sự đồng nhất với đời sống, hiện thực bao gồm cả những nhận thức nhiều chiều về nó, có cả sự

lạc hậu. Lối quan niệm này kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực một cách tai hại làm cho tác phẩm dính lưng với những biểu hiện bề mặt, tản mạn, tủn mủn và vô hồn - làm cho
tác phẩm lạch bạch trên mặt đất thấp lè tè, nhốt chủ nghĩa hiện thực vốn rộng rãi và cao cả vào
những khuôn sáo, sơ đồ cứng nhắc. Một quan niệm nữa tai hại không kém là coi chủ nghĩa
hiện thực ngày nay là kẻ kế thừa trực tiếp xu hướng hiện thực thế kỷ 19. Quan niệm này dẫn
đến việc mô tả tầm thường không đạt tới đỉnh cao như các bậc thầy kể trên vì nhiệm vụ của
nghệ thuật, thực tại đời sống đã đổi khác.
Đề tài
Tất cả những gì có trong cuộc sống, người phụ nữ, phong cảnh thiên nhiên, phong cảnh thành
phố, trường học, những bức tượng trong khuôn viên, những đồ vật giản dị… được khắc họa
bằng cảm giác về vật chất trong tĩnh vật và sự thay đổi của nó trong ánh sáng. Nét bút tạo mây
mưa, cây cỏ, hơi nước, ánh sáng trong tranh phong cảnh. Đương nhiên sau đó là tâm trạng của
nghệ sĩ hàm chứa trong từng nhát bút.Đề tài của hội họa hiện thực chính là yếu tố quan trọng
nhất phân biệt hội họa hiện thực với các trường phái khác
Kỹ thuật
Đường nét: Chú ý đến từng chi tiết nhỏ của vật thể hiện trên tranh, họa sĩ chăm chút các đường
nét trong bức vẽ. Màu sắc: + Thường dùng quy luật vẽ màu ấm lên nền xanh thẫm để làm nổi
bật những vật thể hay con người trong tranh.+ Coi trọng hiệu ứng sáng- tối tạo bố cục cân đối;
trung thực với màu sắc tự nhiên.
2


Xuan Viet Vu – 3802
4. Giá trị Người ta thường bảo : người Ai Cập cổ vẽ cái mà họ biết là đúng, như trong thực tế ;
người Hy Lạp cổ vẽ cái mà họ nhìn thấy . Các họa sĩ hiện thực phát hiện ra cái trước đây chưa
được coi là đẹp nay được nâng lên thành cái đẹp. Nâng chính chúng lên chứ không phải tô vẽ
thêm hoặc mở rộng thêm cho đôi giày rách, cái cửa sổ cũ, cái bình vỡ, cái mũi to, làn da nhăn
nheo của một ông già, cái nạng gỗ của bọn què cụt… trở thành "đẹp". Chính những cái xấu xí
đó được nhìn nhận là đẹp. Chủ nghĩa hiện thực có công nhất ở chức năng "biết cái xấu thành
cái đẹp" . Điều này làm cho các bậc thầy theo chủ nghĩa hiện thực hay dùng hình thức "của
chính đời sống" với tư cách là phương tiện mô tả.

gia , nhà điêu khắc và nhà giáo dục nghệ thuật người Mỹ.
Ông được biết đến là một trong những nghệ sĩ quan trọng nhất trong lịch sử hội họa hiện thực.
Đối tượng của ông là những người dân quê hương của ông ở Philadelphia. Ông đã vẽ hàng
trăm bức chân dung thông thường về bạn bè, các thành viên gia đình, hoặc những người nổi
tiếng trong nghệ thuật, khoa học, y học, và giáo sĩ. Đồng thời, Eakins sáng tác ra một số bức
tranh lớn, đã trở thành hình mẫu điển hình trong phòng khách và vào văn phòng, đường phố,
công viên, sông, nơi thi đấu… Những địa điểm hoạt động ngoài trời là cảm hứng chủ đạo cho
ông, ngoài ra còn có những bức tranh khỏa thân. Eakins có niềm đam mê đối với tính chính xác
và độ chính xác kỹ thuật . Eakins cái nhìn thoáng qua các u sầu ở đằng sau mỗi con người.
Nhiều khách hàng phàn nàn rằng ông làm cho họ trông già hơn họ. Trong thực tế, Eakins vẽ rất
chậm và có xu hướng không nói chuyện nhiều trong khi bức tranh . Ông tiếp cận chân dung với
tư cách một nhà giải phẫu học.
TÁC PHẨM Miss Amelia Van Buren, ca. 1891 , Max Schmitt in a single scull (1871); The
Swimming Hole, 1884-5
Henry Ossawa Tanner (21/06/1859 – 25/05/1937) là một nghệ sĩ nổi tiếng người Mỹ gốc Phi
với phong cách của mình trong hội họa. Ông là người đầu tiên họa sĩ người Mỹ gốc Phi đã đạt
được sự ca ngợi quốc tế . Tanner làm việc không giới hạn và không cụ thể hóa một cách tiếp
cận để vẽ tranh. tác phẩm của ông thay đổi từ sự quan tâm tỉ mỉ đến từng chi tiết trong một số
bức tranh, biểu cảm ở nét vẽ. Thường thì cả hai phương pháp được sử dụng đồng thời. Sự kết
hợp của hai kỹ thuật thể hiện một sự cân bằng bậc thầy khéo léo và chính xác biểu hiện mạnh
mẽ. Tanner cũng quan tâm đến các hiệu ứng màu sắc có thể có trong một bức tranh. Đa số các
bức tranh của ông nhấn mạnh một khu vực cụ thể của gam màu sắc. Sáng tác với gam màu
nóng như "Sự Phục Sinh của của Lazarus" (1896) và "Truyền Tin" (1898) chảy ra cường độ và
ngọn lửa của những khoảnh khắc tôn giáo.Họ mô tả những hứng khởi giữa Thiên Chúa và nhân
loại. Bức tranh khác nhấn mạnh sự tươi mát, màu xanh. Ông vẽ các tác phẩm như "The Good
Shepard" (1903) và “Sự trở lại của các phụ nữ Thánh Linh" (1904) gợi lên một cảm giác ảm
đạm, mộ đạo. Tanner thường thử nghiệm với tầm quan trọng của ánh sáng trong một thành
phần. Các nguồn và cường độ của ánh sáng và bóng tối trong các bức tranh của ông tạo ra một
sự gần gũi, hữu hình vật chất không gian và bầu không khí trong khi thêm cảm xúc và tâm
trạng với cuộc sống xung quanh.

sản xuất của các cộng đồng người nguyên thủy. Kể từ đấy, âm nhạc đã không ngừng được phát
triển và hoàn thiện cùng năm tháng. Trong các dòng nhạc có lẽ sức sống của nhạc cổ điển là
lâu dài, bền vững nhất. Nó truyền cho ta cảm xúc qua những âm điệu xao xuyến. Để hiểu hơn
về dòng nhạc này, em xin chọn đề bài: “ Giới thiệu nghệ sĩ piano V.Horowitz và bản nhạc
giấc mơ ( traumerei) của R.Schumann”.
NỘI DUNG
I
Vladimir Horowitz Samoylovich
(1903-1989)
1 Tiểu sử của Vladimir Horowitz Samoylovich

5


Xuan Viet Vu – 3802
Vladimir Horowitz (tên đầy đủ: Vladimir Samoylovich Horowitz ) là một nghệ sĩ dương
cầm người Nga gốc Do Thái, sau nhập tịch Mỹ. (ông sinh năm 1903 tại Kiev, Ukraina và mất
năm 1989 tại New York).
Horowitz nhận được hướng dẫn đàn piano từ khi còn nhỏ, ban đầu từ người mẹ, người
đã cho mình một nghệ sĩ dương cầm. Năm 1912 ông vào viện Kiey , nơi ông được dạy bởi
Vladimir Puchalsky, Sergei Tarnowsky, và Felix Blumenfeld. Buổi biểu diễn solo đầu tiên của
mình đang Kharkiv vào năm 1920.
Nổi tiếng Horowitz của tăng trưởng, và ông đã sớm bắt đầu tham quan Nga , nơi ông
thường trả với bánh mì, bơ và sô cô la chứ không phải là tiền bạc, do khó khăn kinh tế của đất
nước do các cuộc nội chiến. Trong mùa 1922-1923, ông đã thực hiện 23 buổi biểu diễn của
mười chương trình khác nhau trong Petrograd một mình. Mặc dù thành công ban đầu của mình
như là một nghệ sĩ dương cầm, Horowitz cho rằng anh muốn trở thành một nhà soạn nhạc và
đã thực hiện một sự nghiệp như là một nghệ sĩ piano duy nhất để giúp gia đình mình, những
người đã mất đi tài sản của họ trong Cách mạng Nga.
Trong tháng 12 năm 1925, Horowitz vượt qua biên giới vào phương Tây, bề ngoài là để

Xuan Viet Vu – 3802

Robert Alexander Schumann
(1810- 1856)
1

Tiểu sử.

Tháng 9 năm 1831, Chopin đến Paris, ở đây, ông đã nhận thấy mình không đủ sức chịu
đựng để tranh tài với các nhạc sĩ bậc thầy về diễn tấu (virtuoso) như Franz Liszt và Sigismund
Thalberg, vì vậy Chopin đã dồn thời gian vào việc sáng tác âm nhạc. Nhà soạn nhạc này đã
đóng cửa, ở trong nhà nhiều ngày để dạo đàn và viết ra các nhạc phẩm mà công chúng đều
khen ngợi.
Năm 1848, Chopin sang nước Anh, tại đây Chopin đã trình diễn âm nhạc nhiều lần và đã
biểu diễn trước Nữ Hoàng Victoria của nước Anh. Ngày 16-11-1848, ông đã biểu diễn các
nhạc phẩm của mình tại Thính Đường Guildhall để gây quỹ cứu trợ cho những người tị nạn Ba
Lan
Frederic Chopin qua đời vì bệnh lao phổi vào ngày 17-10-1849 tại thành phố Paris.
2 Thành tựu
Ông là một nhà soạn nhạc và phê bình âm nhạc nổi tiếng của Đức. Ông là một trong những
nhà soạn nhạc lãng mạn lừng danh nhất thế kỷ 19.
Các tác phẩm đầu tiên của ông là các bản piano và lieder; sau đó ông soạn nhạc cho piano
và dàn nhạc, thêm vào đó các tác phẩm lieder (những bài hát cho giọng ca và piano), bốn
bản giao hưởng, một bản opera và các bảnorchestra, thánh ca và thính phòng. Các bài viết của
ông về âm nhạc xuất hiện chủ yếu trên Die neue Zeitschrift für Musik (Tạp chí mới cho âm
nhạc), một tạp chí ở Leipzig mà Schumann đồng sáng lập.
3 Đánh giá.
Ông là một nhạc sĩ cách tân, Schumann kế tục khuynh hướng dân chủ của âm nhạc lãng
mạn Đức. Những đặc tính của âm nhạc Schumann là tác phẩm có tiêu đề, sự bộc bạch tâm lý
7



Xuan Viet Vu – 3802

Bản nhạc với âm điệu nhẹ nhàng, sâu lắng khiến người ta có cảm nhận như đang đi vào
chốn mơ mòng làm sống dậy những giác quan nhạy cảm.Bản nhạc có những nốt cao bất
thường làm điểm nhấn.
Đây là một bản nhạc buồn, đầy xúc cảm với những tâm tư của chính cõi lòng tác giả
cũng như cám xúc chân thật của người chơi đàn.
KẾT LUẬN
9


Xuan Viet Vu – 3802
Cuộc sống mà không có âm nhạc thì cuộc sống sẽ trở nên rất tẻ nhạt và trầm lắng. Sôxta-cô-vits từng nói: “Âm nhạc nâng con người lên, làm con người cao quí hơn, củng cố phẩm
chất, củng cố niềm tin vào sức mạnh bên trong của bản thân, vào sứ mệnh lớn lao của mình”.
Bản nhạc Giấc mơ của R.Chumann dưới sự thể hiện của V.Horowitz đã chúng ta thấy được vẻ
đẹp của âm nhạc, truyền cho chúng ta những cảm xúc mới lạ. Điều này khẳng định vai trò của
âm nhạc trong đời sống.

Thể loại tổ khúc - Srul Irving Glick
 Thể loại tổ khúc ( suite )
Tổ khúc (Suite) là một bộ các tác phẩm khí nhạc được sắp xếp theo thứ tự nhằm để biểu
diễn riêng một mạch. Trong thời kỳ Baroque, tổ khúc là một thể loại khí nhạc bao gồm một số
chương có cùng điệu thức, một vài hay tất cả dựa trên các hình thức và phong cách vũ khúc
(các thuật ngữ khác dành cho nhóm các vũ khúc thời Baroque gồm có Partita, Overture, Ordre
và Sonata da camera).
 Tác giả : Srul Irving Glick
 Srul Irving Glick sinh ngày 8/9/1934 mất 17/4/2002. Ông sinh ra tại Toronto, Ontario
Canada và có bằng cử nhân âm nhạc của đại học Toronto năm 1955 và tiến sĩ âm nhạc

âm nhạc, những thứ bao bọc lấy Glick trong suốt thời ông còn trẻ, hòa trộn trong ký ức của ông
về Toronto. Có một câu hỏi cái gì đã cấu thành nên “Old Toronto” trong Glick? Tác phẩm của
Glick theo phong cách tự truyện phản ánh cuộc sống ở Toronto trong suốt thời ấu thơ của
mình. Qua sự hồi tưởng của Glick, có một số sự kiện hay địa điểm then chốt được nổi bật lên
và chắc chắn nó có ý nghĩa đặc biệt đối với ông.
Chương I :KENSINGTON MARKET
Khu chợ Kensington là một nơi lý tưởng để khởi đầu bởi nó là trung tâm thành phố của
người Do Thái và cũng là nơi Glick ở trong suốt thời ấu thơ. Từ nơi đây có thể mua đủ mọi thứ
thực phẩm, sách báo, những vật phẩm liên quan đến tôn giáo và tham gia vào các hoạt động xã
hội, chính trị Do Thái. Có những vùng khác trong thành phố tập trung nhiều nhân công, học
sinh,… hơn nhưng chỉ ở khu chợ này người ta mới thấy được tính tập thể và vẻ đẹp truyền
thống của nó. Rõ ràng ý đồ của Glick khá tinh tế khi ông bắt đầu bằng cách tạo ấn tượng tổng
quát của toàn vùng sau đó mới tập trung vào từng sự kiện từng nơi ỏ trong khu chợ
Kensington.
So với khu phố phía Bắc Dundas và phía Tây Spadina Avenue, khu chợ Kensington rất
đông đúc, chen chúc với vô số dân nhập cư. Các quầy thịt, tiệm bánh, nhà ở, trụ sở đã tạo nên
một nền kinh tế trên khu phố Do Thái. Hơn thế Kensington tập trung tất cả các tôn giáo, nền
văn hóa và cộng đồng Cơ đốc chính thống bao gồm các hội và giáo đường Do Thái, các trường
tôn giáo, các quầy thịt ăn kiêng, tiệm bánh, hiệu sách đều của người Do Thái.
Chương II : THE ROSELAWN CEMETERY
Chương 2 đề cập tới nghĩa trang Roselawn, nó được xây vào năm 1906. Theo truyền
thống, thành viên nào trong cộng đồng chết đi, họ sẽ được an táng ở vùng đất cúng xung quanh
giáo đường. Tuy nhiên, dân nhập cư tới Canada tăng nhanh dẫn đến những người Do Thái qua
Toronto vào cuối thế kỷ 19 không còn đất an tang. Vấn đề này đã được giải quyết bằng cách
quyên góp cho ra đời nghĩa trang Roselawn.
Sau khi thăm những người Do thái bị chết trong vụ tai nạn và được an tang tại nghĩa
trang Christian, Samuel Weber, một thành viên sùng đạo của Goel Tzedec, đã lập ra hội
Hebrew Free Burial Society. Sau đó ông đã mua nhiều mảnh đất , bây giờ được cắt ra thành đại
lộ Roselawn, và từ thiện biến chúng thành nghĩa trang. Dưới sự chỉ thị của Rabbi Jacob
Gordon, những nạn nhân vụ tai nạn được an táng lại trong khu nghĩa trang mới. Từ nay về sau,

19.
Chương IV : THE RABBI’S WEDDING AT
THE PALMERSTON SHUL
Chương cuối là chương duy nhất phản ánh một con người và một sự kiện đồng thời cũng
là một địa điểm. “The Rabbi’s Wedding at the Palmerston Shul” ám chỉ tòa giáo đường xây
vào năm 1914. Bằng việc tạo nên đám cưới của giáo sỹ Do Thái, Glick đã nhấn mạnh tầm quan
trọng của nhân vật này trong xã hội Do Thái. Giáo sỹ là nhân vật khá được quan tâm mặc dù
nhiều cộng đồng không đủ nguồn tài chính để giữ một trong số họ là của riêng. Họ không chỉ
là người dẫn đầu tinh thần của dân Do Thái mà còn là sứ giả hợp pháp cho nhiều vấn đề trong
cộng đồng.
Thêm vào đó tựa đề của chương phản ánh sự thật các đám cưới là cơ sở chính của
klezmorim, những người mà xuất phát phần lớn từ các buổi diễn của họ ở các lễ hội, đám rước
và điệu nhảy tại đám cưới Ashkenazi. Có thể đây cũng là ý nghĩa để củng cố tầm quan trọng
của đám cưới và gia đình trong văn hóa Do Thái. Cả sự sống và cái chết đã được phản ánh
trong tác phẩm thông qua 2 hình ảnh đám cưới và nghĩa trang. Glick đã cho thấy được vòng
tuần hoàn của cuộc đời con người.
 Nghệ thuật
Ở chương I, Glick đã thể hiện một không khí bận rộn, dân cư đông đúc tấp nập qua việc
sử dụng những tầng lớp nhạc tố chồng chất. Sự lặp lại hàng chuỗi nốt móc đôi đã tạo ra ấn
tượng không ngừng của chương nhạc. Theo như Glick thì nên chơi chương nhạc với tốc độ
nhanh, tươi sáng, thể hiện sự hân hoan vui mừng thậm chí khôi hài một cách tự nhiên
Nhạc công biểu diễn chương II, The Roselawn Cemetery, được hướng dẫn chơi thật
chậm, thanh nhã và bí ẩn ma mị. Những nốt đen của double bass gợi những tiếng bước chân
12


Xuan Viet Vu – 3802
nặng nhọc bước qua nghĩa trang. Một chủ đề chính ở (measure 3-14) mở đầu với cello và viola.
Nó làm nền cho đoạn solo sau này dựa theo. Bằng cách đó, Glick đã làm nổi bật giai điệu thê
lương. Sau đó là một đoạn bass cho các soloists. Những soloist trình diễn các âm thanh khác

xem thấy gần gũi, dễ hiểu, quen thuộc với cuộc sống, với thế giới xung quanh mình hơn
o
Cách phối hợp màu sắc, ánh sáng thông minh hài hòa với sự chọn lựa phông nền độc
đáo làm cho đối tượng được thể hiện trong tranh trở lên sống động, có hồn khiến người
xem thấy gần gũi, dễ hiểu, quen thuộc với cuộc sống, với thế giới xung quanh mình hơn
o
Vẻ đẹp của con người và cuộc sống được tôn lên nhờ ánh sáng và bóng tối, nhờ ngày
và đêm, quá khứ và hiện tại, cái thiện và cái ác cũng như những giá trị tư tưởng được
nhận ra giữa ranh giới chiến tranh và hòa bình.
• Painter Studio
- Hoàn thành năm 1855
- Loại dầu trên vải
13


Xuan Viet Vu – 3802
- Kích thước 361 cm x 598 cm (142 × 235 ở trong)
- Trưng bày tại bảo tàng Orsay, Paris
- Bắt đầu vào cuối năm 1854, ông đã hoàn thành nó trong sáu tuần. Những hình ảnh trong
bức tranh là đại diện ngụ ngôn của những ảnh hưởng khác nhau về đời sống nghệ thuật
của Courbet. Bên trái là hình người từ tất cả các tầng lớp xã hội. Ở trung tâm, Courbet
hoạt động trên một cảnh quan, trong khi quay lưng lại với một người mẫu nude là người
một biểu tượng của nghệ thuật. Bên phải là bạn bè và cộng sự của Courbet
- Đươc coi là tuyên ngôn của trường phái hiện thực
• CHÂN DUNG CỦA JULIETTE COURBET NGỦ TRE EM (1841)
• Người đàn ông bị thương (1844-1854)
• Mùa thu vàng của Levitan
- vẽ năm 1895 Hoàn thành năm 1879
- Loại tranh sơn dầu
- hiện được lưu tại Bảo tàng nghệ thuật Tretyakov, Moscow, Nga

• Nguồn gốc khái niệm hình tượng nghệ thuật
 Còn Beilinski – nhà tư tưởng Nga nổi tiếng thế kỷ 19 thì phân biệt cụ thể hơn, ông cho
rằng: “nhà triêt học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà thơ nói bằng các hình tượng và
bức tranh… Nhà kinh tế chính trị được võ trang bằng các số liệu thống kê để tác động
đến trí tuệ người đọc và người nghe […] Nhà thơ được trang bị bằng sự miêu tả sinh
động, đậm nét về hiện thực, tác động vào trí tưởng tượng các độc giả của mình, phơi bày
trong một bức tranh […] người này chứng minh, người kia phơi bày và cả hai đều thuyết
phục, chỉ có điều người này thì bằng các luận chứng logic, còn người kia lại bằng những
bức bức tranh”.
 Cho đến nay, tư tưởng ấy vẫn giữ nguyên được tính đúng đắn của nó và thực tế đã chứng
minh: tính hình tượng được xem là nét đặc trưng, đặc trưng chủ yếu của tất cả các loại
hình nghệ thuật.
• Khái niệm “hình tượng nghệ thuật"
• Khái niệm hình tượng nghệ thuật nói chung
 Hình tượng nghệ thuật là phương tiện đặc thù của nghệ thuật nhằm phản ánh cuộc sống
một cách sáng tạo, bằng những hình thức sinh động, cảm tính, cụ thể như bản thân đời
sống, thông qua đó nhằm lí giải, khái quát về đời sống gắn liền với một ý nghĩa tư tưởng,
cảm xúc nhất định, xuất phát từ lí tưởng thẩm mỹ của nghệ sĩ.
 Mỗi hình tượng là một tế bào góp phần làm nên tác phẩm nghệ thuật, trong đó chứa
đựng nội dung cuộc sống những thông tin về đời sống, những quan niệm, tư tưởng, cảm
xúc của tác giảHình tượng nghệ thuật chính là sự biểu hiện những quan niệm khái quát
về cuộc sống dưới hình thức cụ thể, cảm tính như cảm hình thức của bản thân đời sống.
• Khái niệm hình tượng nghệ thuật nói chung
 hình tượng nghệ thuật là một khách thể tinh thần được thù bởi nó tồn tại độc lập với ý
thức chủ quan của nhà văn, độc lập với ý muốn của người đọc, nhằm thỏa mãn nhu cầu
tinht hần của con người. Hình tượng nghệ thuật gợi ra một thực thể toàn vẹn, sống động
như thật, có diện mạo riêng, cá biệt, đặc thù, không giống nhau. Hơn thế nữa, hình tượng
nghệ thuạt là một quan hệ xã hội thẩm mĩ với tính tạo hình và biểu hiện tính nghệ thuật.
 Tìm hiểu về hình tượng nghệ thuật, trước hết phải hiểu hình tượng nghệ thật bắt nguồn
từ một loại tư duy đặc biết: tư duy hình tượng – một trong ba loại tư duy : tư duy hành

của cuộc đời như một người bạn đồng hành tận tụy, một người thư kí trung thành của
thời đại.
 Hình tượng nghệ thuật tái hiện cuộc sống nhưng lại không đơn thuần là sao chép y
nguyên những hiện tượng có thật mà tái hiện một cách có chọn lọc, sáng tạo thông qua
tài năng và trí tưởng tượng của nghệ sĩ, bằng sự khéo léo và tinh tế của mình, họ biến
những sự vật dù tầm thường nhất cũng có thể trở thành những hình tượng đẹp có sức
truyền cảm mạnh mẽ, mang những ấn tượng sâu sắc đến với người cảm thụ.
• b. Hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất giữa hai mặt chủ quan và khách quan

Nghệ thuật phản ánh thế giới khách quan qua cái nhìn chủ quan của người nghệ sĩ.
Nghệ thuật là hình ảnh của cuộc sống khách quan được phản chiếu qua đôi mắt chủ quan
của cuộc đời nghệ sĩ đa cảm, tinh tế, sâu sắc. Trong nghệ thuật, yếu tố chủ quan chi phối
đến cả quá trình sáng tạo của tác giả, hơn thế tính chất chủ quan còn in dấu rõ nét trên
mỗi tác phẩm nghệ thuật, và chính đó làm nên phong cách riêng của người nghệ sĩ.

Như vậy, trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, người nghệ sĩ đặt tình cảm chủ quan
của bản thân vào trong chính hình tượng mình xây dựng. hình tượng nghệ thuật do đó
không chỉ phản ánh hiện thực mà còn biểu hiện thái độ chủ quan của người nghệ sĩ đối
với hiện thực ấy. đó chính là điểm làm nên sự khác biết giữa nghệ thuật và khoa học.
• c. Hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất giữa lí trí và tình cảm
 Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí trí và tình cảm là nhân tố đưa các tác phẩm nghệ thuật
trở thành những kiệt tác trường tồn cùng thời gian. Một tác phẩm càng chứa đựng nhiều
cung bậc cảm xúc thì càng đễ đi vào lòng người vì vậy mà càng dễ chiến thắng cái khắc
nghiệt của không gian và thoát khỏi quy luật bào mòn của thời gian.
 Lí trí là những nhận thức đúng đắn, sáng suốt về cuộc sống, về thực tại. Lí trí là định
hướng cho con người nghệ sĩ, giúp họ không đi trệch khỏi quỹ đạo “nghệ thuật gắn liền
với đời sống” trong quá trình sáng tạo của mình. Tình cảm dù có mãnh liệt đến đâu cũng
sẽ không đem lại giá trị cho hình tượng nếu nó không được đặt dưới sự kiểm soát của lí
trí, không đi theo sự chỉ dẫn của lí trí. Sự chi phối của yếu tố lí trí bộc lộ năng lực ở nắm
bắt, phát hiện bản chất của cuộc sống ở tầm khái quát, thể hiện trong việc lựa chọn

phẩm giá của con người..
 Nhờ tính ước lệ mà hình tượng nghệt thuật mang tính hàm xúc cao, nó có thể truyền đạt
được những nội dung cuộc sống phong phú trong một bức tranh, một pho tượng, một vở
kịch, một bản nhạc, một bộ phim, hay chỉ trong một câu chuyện ngắn,…
• f. Hình tượng nghệ thuật mang tính đa nghĩa
 Một hình tượng nghệ thuật có thể đem đến cho người thưởng thức những cách nhìn
nhiều chiều, những cách lí giải ở nhiều góc độ khác nhau. Đó chính là tính đa nghĩa của
hình tượng nghệ thuật. Tính đa nghĩa cũng là một tronh những đặc điểm nổi bật làm nên
tính khác biệt giửa hình tường nghệ thuật với các khái niệm khoa học
 Theo thời gian, hình tượng có thể cũ mì nhưng ý nghĩa của nó thì luôn phát triển theo
nhịp sống và ngày càng trở nên phong phú, mới mẻ hơn. Điều đó lý giải vì sao có những
tác phẩm nghệ thuật cứ trường tồn mãi cùng thời gian mà vẫn không đánh mất đi cái giá
trị lớn lao của mình.
• Bài thơ “Tre Việt Nam” – Nguyễn Duy
Tre
xanh
xanh
tự
bao
giờ?
Chuyện
ngày
xưa
đã

bờ
tre
xanh...
Thân
gầy


đâu
Mỡ
màu
ít
chất
dồn
lâu
hóa
nhiều
17


Xuan Viet Vu – 3802
Rễ
siêng
không
ngại
đất
nghèo
Tre
bao
nhiêu
rễ
bấy
nhiêu
cần

Vươn
mình

 Có thể nói rằng cây tre là biểu tượng cho phẩm chất đặc sắc nhất của con người Việt
nam ta: đoàn kết, thủy chung, thanh cao, bất khuất. Là đức tính kiên cường ẩn sâu trong
khả năng thích ứng dẻo bền vô hạn trước mọi tai họa thiên nhiên cũng như mọi bão táp
và bi kịch của lịch sử. Tre xanh hiên ngang, cứng cáp mà dẻo bền vô hạn xứng đáng là
biểu tượng của cốt cách và các phẩm chất đặc sắc của con người và văn hóa Việt Nam
ta.
 Trong các loại hình nghệ thuật, cây tre luôn được tôn vinh như một biểu tượng đẹp của
dân tộc Việt Nam. Chất liệu tre đã đi vào thơ ca, âm nhạc điêu khắc, hội họa... như một
biểu tượng nghệ thuật độc đáo. Dường như hình tượng cây tre là nguồn cảm hứng bất
tận để giới nghệ sĩ gửi gắm tâm hồn và tư duy sáng tạo trong nghệ thuật.
• BÀI
MÔN MỸ HỌC

TẬP



18

NHÂN


Xuan Viet Vu – 3802

Giới thiệu nghệ sĩ Yo – Yo Ma và bản nhạc Humoresque Op. 101,
No. 7 của A.Dvorak
• Sinh ngày 7 tháng mười 1955 tại Paris, Pháp - là một nhạc sĩ đàn violoncelle quốc tịch
Mỹ
gốc
trung

• Yo- Yo Ma đã gặt hái được rất nhiều thành công, với hơn 50 album và giành tới 15 giải
Grammy, ra mắt khán thính giả với trên 116 albums nhạc (cassettes, VHS, CD Music và
DVD ). Ông cũng đã từng biểu diễn cùng rất nhiều các nghệ sĩ tên tuổi khác trong dòng
nhạc cổ điển.
19


Xuan Viet Vu – 3802
• Yo-Yo Ma có phong cách biểu diễn mang nhiều ấn tượng của sự tìm tòi, khám phá, thả
hồn vào tác phẩm với sức biểu cảm rất cao.
• Với Yo Yo Ma, âm nhạc cổ điển không phải là một nghệ thuật quá cao sang, xa xỉ mà
giống như “một chuyến xe chuyển tải các ý tưởng, sự đa văn hoá khắp thế giới” tới tất cả
cộng đồng. Không nằm ngoài mục đích đó, Ma đã thành lập dự án Silk Road (Con
đường tơ lụa) để xúc tiến việc nghiên cứu văn hoá, nghệ thuật truyền thống và trí tuệ của
người xưa, mang những kiến thức và tình yêu âm nhạc cổ điển đến với tất cả mọi người,
đặc biệt là giới trẻ. Với những cống hiến của mình, ông đã được quốc tế công nhận như
một vị đại sứ của âm nhạc cổ điển.
• Giải thích thể loại Humoresque và giới thiệu bản Humoresque Op. 101, No. 7 của
A.Dvorak.
• Humoresque là một trong những thể loại tiểu phẩm (có thể được viết lại cho
• nhiều loại nhạc cụ khác nhau). Với đề tài chính của tác phẩm là dựa trên chủ
• đề con người, với những quãng thời thơ ấu, tuổi trẻ, khi về già với những
• giai điệu biểu đạt khác nhau.
• Theo đó, bản Humoresque Op 101, No 7 của Dvorak cũng bao gồm ba
phần chính. Phần đầu giọng sol giáng trưởng với kỹ thuật ngắt đặc trưng tạo
nên giai điệu vui tươi, tinh nghịch để miêu tả thời thơ ấu, trẻ thơ của cuộc đời.
Phần thứ ba giọng chuyển thành fa thăng thứ, mang âm hưởng hoài niệm dùng biểu thị
cho tuổi già, đoạn cao trào của phần này bản nhạc sẽ chơi cao hơn 1 quãng 8 để nối với
phần hồi ức tiếp theo. Hồi ức thực chất là sự lặp lại của phần 1, và phần 2 với một chút
biến tấu để kết thúc. Tuy nhiên, cách xử lý của người biểu diễn phải thay đổi để đoạn hồi

hệ thống lý thuyết theo phong cách bách khoa toàn thư.
1,The Well-Tempered Clavier, Quyển 1 và 2 (BWV 864 – 893).
2,15 Invention và 15 Sinfonia (BWV 772-801).
3, Ba tuyển tập dance suites: English Suites (BWV 806-811), French Suites (BWV 812-817),
và Partiatas cho bộ gõ (BWV 825-830).
4, Những khúc biến tấu Goldberg (BWV 988) là một aria với 30 biến tấu.
5, Những sáng tác đa dạng khác như Overture in the French Style (French Overture, BWV
831), Chromatic Fantasia and Fugue (BWV 903), và Italian Concerto (BWV 971).

NhẠc Giao hưỞng và Thính phòng
Tác phẩm giao hưởng nổi tiếng nhất của Bach là Brandenburg Concertos.
Những concerto khác của Bach còn lưu giữ đến ngày nay có hai concerto violin (BWV
1041 và BWV 1042), một Concerto cho hai Violin Rê thứ (BWV 1043) thường được gọi là
concerto “đôi” của Bach và những concerto cho từ một đến bốn đàn harpsichord.
Đơn ca và HỢp xưỚng
Ông viết hơn 300 cantata cho những ngày lễ tôn giáo, trong số đó còn khoảng 200 bản
được lưu giữ.
Bach còn viết một số cantata thế tục, thường là cho những sự kiện dân sự như lễ nhậm
chức của hội đồng thành phố, hoặc cho hôn lễ.
ĐẶc điỂm sáng tác chính.
J.S.Bach không quan tâm soạn thảo các lý thuyết âm nhạc cũng không thí nghiệm các
thể loại nhạc mới mà chỉ dùng các hình thức âm nhạc đương thời, ngoại trừ thể loại nhạc kịch
(opera)
Bach cố gắng diễn tả cảm xúc của bản nhạc, cho rằng mục đích của âm nhạc là tạo nên
một thứ ảnh hưởng tác dụng.
Air on the G string
Air on the G string là bản biến tấu cho đàn dây solo của August Wilhemlj từ nguyên bản
chương 2 tổ khúc cung rê trưởng cho dàn nhạc của Bach (đây là tổ khúc số 3, gồm 5 chương).
Bản nhạc có giọng gốc là rê trưởng nhưng được viết lại dưới giọng đô trưởng.
21

 Đây là một tác phẩm vui nhộn, thỏa mãn được tính cách hóm hỉnh tinh nghịch của nhà
soạn nhạc
 Le Carnaval des Animaux (Ngày hội của muông thú)
22


Xuan Viet Vu – 3802
 2. Giới thiệu về tổ khúc Le Carnaval des Animaux (Ngày hội của muông thú)
Bao gồm 14 khúc:
 I. - Introduction et marche royale du Lion (Introduction và Hành khúc hoàng gia
của sư tử)
 Phần introduction bắt đầu bằng 2 piano chơi tremolo đậm nét, các đàn dây tham gia vào
bằng một chủ đề trang nghiêm.
 Sau đó piano trình bày một chủ đề hành khúc trong suốt phần còn lại của chương nhạc.
Các đàn dây trình bày giai điệu và đàn piano thỉnh thoảng chạy những quãng tám thấp
hoặc ostinato cao
 . Chương nhạc kết thúc bằng một nốt fortissimo ở tất cả các nhạc cụ.
 II- Poules et Coqs (Lũ gà mái và gà trống)
 Có sự tham gia của các đàn dây trừ double-bass; 2 piano và clarinet.
 Chương nhạc này gợi nên hình ảnh một đàn gà với những tiếng gáy, tiếng mổ hạt.
 Clarinet chơi những đoạn solo âm lượng nhỏ khi các nhạc cụ còn lại tạm nghỉ.
 III- Hémiones, animaux véloces (Những con lừa; những con thú nhanh nhẹn)
 Có sự tham gia của 2 piano.
 Các con vật được mô tả ở đây rõ ràng là đang chạy và hình ảnh được gợi nên bằng
chuyển động lên xuống nhanh nhẹn luống cuống không ngớt của cả hai piano chơi các
gam quãng tám.
 IV- Tortues (Những con rùa)
 Có sự tham gia của các đàn dây và 1 piano.
 Một chương nhạc hơi trào phúng mở đầu bằng piano rồi các đàn dây thể hiện một cách
chậm rãi đến khó chịu điệu “Can-Can” nổi tiếng





















 Có sự tham gia của 2 piano và clarinet.
 Piano chơi những hợp âm rộng mềm mại trong khi clarinet chơi ostinato hai nốt
Đô và La giáng lặp đi lặp lại, bắt chước tiếng kêu của một tổ chim cu.
X- Volière (Chuồng chim)
Có sự tham gia của các đàn dây, 2 piano và flute.
Các đàn dây giọng cao đảm nhận bè đệm, tạo ra tiếng rì rầm như tiếng động trong rừng,
cello và double-bass chơi điểm nhịp dẫn vào hầu hết các ô nhịp.
Flute đóng vai trò tiếng chim với giai điệu trill trải rộng trong tầm âm của nó.
Hai piano thi thoảng tạo ra những tiếng chát chúa hay trill của những con chim khác.
Chương nhạc kết thúc một cách lặng lẽ sau một tiếng vút cao của flute.


24


Xuan Viet Vu – 3802

CANON IN D
- Johann bachelbel sinh ngày 28 tháng 8 năm 1653 mất ngày 06 tháng 03 năm 1706.
- Là một nhà soạn nhạc người Đức kiêm nghệ sĩ organ thời kì baroque và là một giáo viên
người đã đưa nền âm nhạc organ truyền thống miền nam nước Đức lên thời đỉnh cao.
-Ông sáng tác rất nhiều tác phẩm thánh ca và những đóng góp của ông cho dòng nhạc thánh ca
và tẩu pháp đã giúp ông trởi thành một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất thời trung
baroque.
-Các tác phẩm của johan bachelbel giành được tiếng tăm lớn ở thời đại của ông. Ông có rất
nhiều học trò và âm nhạc của ông đã trở thành hình mẫu cho các nhà soạn nhạc Miền Nam và
Trung nước Đức. Ngày nay ông được biết đến nhiều nhất với nhạc phẩm bất hủ canon, nhạc
phẩm canon duy nhất mà ông sáng tác.
- Ngoài ra ông còn có các tác phẩm nổi tiếng khác như: chaconne in F minor, the toccata in E
minorcho đàn organ, the Hexachordum apollinis cho thể loại dùng làm bàn phím.
- Các tác phẩm âm nhạc của j. bachelbel chịu ảnh hưởng của các nhà soạn nhạc đức ( johann
jakob froberger, johann kaspar kerll), các nhà soạn nhạc Ý như Girolamo Frescobaldi và
alessan dro poglietti), các nhà soạn nhạc pháp và các nhà soạn nhạc của âm nhạc truyền thống
vùng Nurnberg.
- Canon theo định nghĩa của nhạc cổ điển là luân khúc, hay còn gọi là bè đuổi trong đó
không có một nhạc cụ nào đóng vai trò chính, giai điệu được xướng lên bởi một nhạc cụ
sau đó một thời gian điều đó trong khi các nhạc cụ khác vẫn tiếp tục đi.
- Giai điệu chính đóng vai trò chủ đạo trong canon gọi là lãnh xướng ( hợp âm chính) còn
những giai điệu mô phỏng theo lãnh xướng hoặc phải như là một phần chuyển tiếp trung
gian. Canon loại đơn giản trong đó có những âm thanh lặp đi lặp lại giống nhau gọi là
round. Canon bổ trợ là canon có kèm theo 1 hoặc nhiều đoạn nhạc bổ sung độc lập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status