Câu 1: Kết hợp chặt chẽ các PP cơ bản trong QL là yêu cầu khách quan và có ý nghĩa thực
tiển sâu sắc; Hãy phân tích rõ vấn đề nêu trên và liên hệ việc vận dụng các PPQL trong hoạt
động QL tại cơ quan, đơn vị đồng chí đang công tác.
Bài làm: QL ra đời cùng lúc với sự xuất hiện xã hội loài người, là sự cần thiết phải kết hợp
và phối hợp giữa các cá nhân trong xã hội, giữa con người với tự nhiên nhằm mang lại lợi ích
mong muốn cho con người mà nền tảng của nó là dựa trên sự phân công lao động. Như vậy, nói
tới QL là nói tới con người, bất kỳ ở đâu có sự hoạt động chung thì ở đó có xuất hiện HĐQL.
QL chính là sự tác động của chủ thể QL lên đối tượng QL để tạo ra sự chuyển biến của toàn
bộ hệ thống nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức. QL diễn ra trong mọi tổ chức từ đơn
giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn. Nó chính là yếu tố quyết định sự thành công
hay thất bại của mỗi tổ chức.
Để điều hành hệ thống đạt được mục tiêu chung của tổ chức, chủ thể QL phải tác động vào
đối tượng QL bằng những PPQL để cho bộ máy dưới sự QL của mình đạt được kết quả tốt
nhất. PPQL là tổng thể các cách thức, công cụ được chủ thể QL vận dụng và kết hợp lại để tác
động một cách thích hợp vào đối tượng QL nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong từng hoàn
cảnh cụ thể.
Trong HĐQL, đối tượng tác động của các PPQL là những con người, là thực thể có cá tính,
thói quen, tình cảm, nhân cách gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Sự tác động đến con người với
ý nghĩa là một thực thể đa dạng luôn biến đổi là đặc trưng cơ bản nhất của các PPQL. Trong cơ
chế QL, PPQL là nội dung cơ bản, là yếu tố động nhất, nó có khả năng điều chỉnh kịp thời đối
với sự biến đổi của đối tượng và tình huống QL, nhưng vẫn giữ được định hướng và mục tiêu
QL.
Để tác động đến yếu tố con người trong lao động, người ta phải sử dụng nhiều PP tác động
khác nhau. Dựa vào cách thức tác động của PP, có thể nêu ra đây 3 PPQL cơ bản như sau:
Một là, PP tổ chức-hành chính. Đây là PP dựa vào quyền uy của chủ thể QL để bắt buộc
đối tượng QL phải chấp hành mệnh lệnh QL một chiều từ trên xuống. PP này mang tính bắt
buộc, cưỡng chế đơn phương mà cơ sở tác động là quyền lực của chủ thể QL, quyền lực này
được xác lập theo PL, quy chế, cơ chế…. Hiệu lực, hiệu quả QL phụ thuộc nhiều vào việc thực
hiện đúng hay không đúng quyền lực của mình. Ưu thế của PP này so với các PP khác là thể
hiện tính kỷ cương trong tổ chức thực hiện công việc nhờ đó đem lại hiệu quả nhanh chóng,
thống nhất, triệt để, làm cho hoạt động của tổ chức diễn ra theo ý muốn của chủ thể. Vì vậy PP
những tâm tư, nguyện vọng của đối tượng QL; tiên phong, gương mẫu cũng như uy tín, phẩm
chất của người QL. Ưu điểm của phương pháp này là không gây sức ép tâm lý cho đối tượng
QL, trái lại đối tượng QL cảm thấy được quan tâm nên sẽ tạo ra được sự phấn khởi, hăng hái,
không khí làm việc sôi nổi, làm cho tính tự nguyện, tự giác của đối tượng QL được phát huy, họ
làm việc bằng tất cả công sức và trí tuệ của mình, vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm
vụ. Tuy nhiên phương pháp này cũng dễ làm cho đối tượng QL ỷ lại, trông chờ vào tập thể hoặc
đưa ra những yêu sách quá sức đối với tổ chức. Tính hiệu lực không cao, không đảm bảo thực
hiện chắc chắn, nên khi sử dụng vẫn cần phải có kết hợp đi kèm các PP khác. Nó đặt ra yêu cầu
cho nhà QL phải là người có đủ uy tín, có điều kiện và có thời gian quan tâm chăm sóc, động
viên cấp dưới.
Từ những phân tích trên chúng ta thấy rằng trong hoạt động điều hành QL, các PPQL cơ bản
trên luôn có mối liên hệ với nhau. Sự liên hệ ấy bắt nguồn từ đối tượng tác động của PPQL
chính là con người. Mối liên hệ đó được biểu hiện như: PP kinh tế kích thích con người vì thỏa
mãn nhu cầu vật chất nhưng nếu như công việc nhàm chán, không tạo niềm say mê, không có
hứng thú hoặc không nhận được sự quan tâm, công nhận, tôn trọng của người QL, của xã hội
thì lúc đó những lợi ích kinh tế không đủ để lôi cuốn người ta làm việc. Ngược lại nếu người
QL quan tâm gần gủi người lao động, có phong cách và phương thức QL tốt nhưng nếu chỉ áp
dụng biện pháp, cơ chế trả lương cho người lao động theo PP bình quân thì cũng sẽ không
khuyến khích được người lao động toàn tâm, toàn ý vì công việc. Ngoài ra, đối với những con
người quá chú trọng đến lợi ích kinh tế hoặc những người quen dựa dẫm, lười lao động, trình
độ nhận thức và tự giác thấp thì nếu không có PP tổ chức-hành chính thì khó có thể kiểm soát
và điều chỉnh các hoạt động của họ theo đúng định hướng, đúng mục tiêu của tổ chức đề ra.
Ngược lại, nếu chỉ áp dụng đơn thuần PP tổ chức-hành chính thì rõ ràng đối tượng QL chịu sự
cưỡng chế mà không có khuyến khích tinh thần hay vật chất cũng dễ dẫn đến những tiêu cực
trong hoat động.
Từ mối liên hệ trên cho thấy trong các PPQL thì PP kinh tế mang lại hiệu quả nhanh chóng,
nhưng không phải là duy nhất và toàn bộ. Nhà QL thực hiện đồng thời cả 3 PP trong HĐQL,
tuy nhiên tùy theo trường hợp và từng giai đoạn mà sử dụng PP nào là chính.Việc tuyêt đối hoá
một PPQL nào đó trong QL sẽ làm giảm hiệu lực tác động, không phát huy được ưu thế và khắc
phục hạn chế vốn có của mỗi PP. Đó cũng chính là sự tác động toàn diện và ảnh hưởng lẫn
Bài làm: HĐQL chính là sự tác động của chủ thể QL lên đối tượng QL để tạo ra sự chuyển
biến của toàn bộ hệ thống nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức. Trong HĐQL thì mục
tiêu và động lực là hai vấn đề quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của hệ
thống QL.
Mục tiêu của QL là trạng thái tương lai mà chủ thể mong muốn đạt được trong quá trình vận
động của hệ thống tại thời gian và không gian xác định. Nó là tiêu đích mà mọi hoạt động của
hệ thống hướng tới, nó định hướng và chi phối sự vận động của toàn bộ hệ thống QL. Mục tiêu
QL phải được xác định trước để chi phối, dẫn dắt cả chủ thể và đối tượng QL trong toàn bộ quá
trình hoạt động.
Việc xác định mục tiêu trong QL có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của toàn bộ hệ thống QL. Bởi vì nếu xác định mục tiêu sai, mọi hoạt động của hệ thống sẽ
trở thành vô nghĩa, thậm chí gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Vai trò của mục tiêu trong QL
thể hiện hai mặt tĩnh và động. Về mặt tĩnh, khi xác định cụ thể các mục tiêu mà tổ chức theo
đuổi thì nhà QL đặt chúng làm nền tảng của kế hoạch nhằm xây dựng hệ thống QL. Về mặt
động, các mục tiêu QL không phải là những điểm mốc cố định mà là linh hoạt phát triển hướng
đến mục đích lâu dài của tổ chức với những kết quả mong đợi ngày càng cao hơn trên cơ sở
xem xét các nguồn lực hiện có hoặc sẽ có của tổ chức. Mục tiêu của QL phải đảm bảo tính liên
tục và kế thừa của hệ thống; nội dung phải rõ ràng, cụ thể bằng các chỉ tiêu định lượng là chủ
Trang 4
yếu; phải tiên tiến, thể hiện sự phấn đấu của các thành viên, sự phát triển của hệ thống đồng
thời nó cũng phải xác định rõ về mặt thời gian
Mục tiêu QL có nhiều loại, nhiều cấp, nhiều thứ bậc với những khoảng thời gian khác nhau:
Có mục tiêu kinh tế, mục tiêu chính trị và mục tiêu xã hội; có mục tiêu cấp thấp và mục tiêu cấp
cao; mục tiêu lâu dài và mục tiêu trước mắt, mục tiêu chủ yếu và mục tiêu thứ yếu… Vì vậy,
việc cụ thể hóa hệ thống mục tiêu và bảo đảm sự thống nhất của hệ thống mục tiêu là trách
nhiệm của cơ quan QL các cấp nhằm tránh tình trạng rối loạn mục tiêu, mục tiêu cấp thấp và
mục tiêu trung gian sẽ không hướng vào mục tiêu cuối cùng. Trong hệ thống mục tiêu đó, con
người luôn là mục tiêu lớn nhất, bao trùm nhất của tất cả mọi lĩnh vực QL.
Còn động lực trong QL là những yếu tố quyết định sự vận động, phát triển của toàn bộ hệ
thống QL nhằm hướng đến các mục tiêu đã xác định. Động lực là “cái thúc đẩy làm cho biến
con người. Vì con người là tổng hợp các mối quan hệ xã hội nên lợi ích kinh tế con người
không chỉ là lợi ích cá nhân mà còn là lợi ích tập thể và toàn xã hội. Do vậy, phải coi lợi ích
kinh tế không chỉ là động lực mà trước hết nó còn là mục tiêu và mục tiêu cao nhất của công
cuộc xây dựng đất nước là phát triển sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân. Trong HĐQL, lợi
ích kinh tế phải được đặt ra ngay từ khi xác định mục tiêu của chiến lược, kế hoạch, chính sách
và trong toàn bộ quá trình xác định biện pháp, tổ chức thực hiện. Mặt khác, lợi ích kinh tế của
Trang 5
con người, xã hội với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu do vậy HĐQL phải bảo đảm đầy
đủ các nhu cầu của con người từ thấp đến cao về nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã
hội, nhu cầu được tôn trọng và tự thể hiện, thỏa mãn những nhu cầu này chính là từ động lực
hành chính tổ chức và động lực tinh thần. Vì vậy, nhà QL phải hiểu đối tượng QL đang ở cấp
độ nhu cầu nào để đưa ra các giải pháp phù hợp thỏa mãn nhu cầu và tạo động lực cho đối
tượng nhằm đạt đến mục tiêu của hệ thống. Nhất là trong chế độ XHCN thì từ trong bản chất
của mình đã luôn luôn là vì con người, đề cao và phát huy nhân tố con người, vì vậy xác định
mục tiêu và động lực trong QL còn chú trọng đến sự thỏa mãn nhu cầu về tinh thần của con
người, tạo điều kiện cho con người được cống hiến nhiều hơn để được hưởng thụ nhiều hơn,
khuyến khích mọi năng lực sáng tạo của con người, khi đó hiệu quả công việc sẽ được đẩy lên
rất cao. Quan điểm này đã được Đảng ta xác định rõ: “Mục tiêu và động lực chính của sự phát
triển là vì con người, do con người. Chiến lược KT-XH đặt con người vào vị trí trung tâm, giải
phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động và cả của
cộng đồng dân tộc”.
Tóm lại, qua phân tích trên cho thấy: HĐQL là do con người và vì con người, con người vừa
là mục tiêu và vừa là động lực; mục tiêu và động lực là hai vấn đề quan trọng nhất, quyết định
sự vận động và phát triển của hệ thống QL. Nếu không có mục tiêu hoặc xác định mục tiêu sai,
mọi hoạt động của hệ thống QL sẽ trở thành vô nghĩa, không có động lực sẽ không tiếp cận
được mục tiêu và không một hệ thống nào có thể vận động và phát triển. Do đó mục tiêu và
động lực là nội dung cơ bản, là cơ sở tồn tại của HĐQL.
Trên cơ sở lý luận và thực tiển cho thấy rằng trong hệ thống QL hiện nay thì tiền lương và
thu nhập vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cả hệ thống tổ chức cũng như của từng cá nhân
trong hệ thống. Hiện nay trong các đơn vị sản xuất, tiền lương và thu nhập của người lao động
Trước nhất, cần phải có quan niệm đúng về tiền lương và thu nhập: Chi lương là chi cho
đầu tư phát triển. "Việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu tư, tạo động lực để
kinh tế phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch đội ngũ CB, CC
nâng cao hiệu quả hoạt động của BMNN".
Thứ hai là, Phải tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương tinh giản biên chế theo hướng
“vừa tinh, vừa gọn”, giảm bớt đầu mối QL, cấp trung gian trên cơ sở đánh giá đúng vai trò, vị
trí, chức năng của từng cơ quan, từng cấp QLNN và năng lực, phẩm chất của đội ngũ CB, CC.
Mở rộng các loại hình dịch vụ công (Đơn vị sự nghiệp tự cân đối thu chi) ở các lĩnh vực đăng
ký chuyển dịch bất động sản, công chứng, kiểm tra xử lý các vi phạm về xây dựng, vế văn hóa,
trật tự đô thị, … Đồng thời, thực hiện cơ chế khoán biên chế, tổng quỹ tiền lương trong tất cả
các cơ quan QLNN nhằm khắc phục tình trạng người sử dụng lao động không có quyền trả
công xứng đáng cho người lao động có nhiều cống hiến, có trình độ khoa học công nghệ cao.
Thứ ba là, rút bớt số bậc trong các ngạch tạo điều kiện mở rộng khoảng cách giữa các bậc trong ngạch, giảm bớt
tính bình quân trong tiền lương, trong đó chú trọng nâng thêm mức lương trung bình, mức lương thấp có lợi cho số đông
cán bộ, công chức và người hưởng lương nhưng đồng thời cũng phải nâng mức lương tối đa để khuyến khích người
có trình độ chuyên môn cao, nhất là đối với những chuyên gia có trình độ cao về khoa học, công nghệ,
tiền lương chuyên môn phải cao hơn lương người phụ trách đơn vị.
Thứ tư là, cần mở rộng nhiều kênh, nhiều con đường thăng tiến cho mọi người, cho sự phát
triển tài năng, đặc biệt cho lớp trẻ, khuyến khích mọi người học tập, trau dồi kiến thức, làm việc
trong những lĩnh vực phù hợp với khả năng, sở trường của mình, cống hiến ngày càng nhiều để
có mức lương tương xứng với hiệu quả lao động của mình.
Sau cùng, cần có các chính sách vĩ mô đúng đắn, kịp thời kềm chế lạm phát kinh tế, ổn định
giá cả các mặt hàng sinh hoạt tiêu dùng thiết yếu … nhằm bảo đảm tiền lương thực tế ngang
bằng tiền lương danh nghĩa.
Trang 7
Câu 3: “Đổi mới và kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị có ý nghĩa hết sức quan
trọng, quyết định đến việc nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, QL của
nhà nước, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội”. Đồng
chí trình bày nhận thức về luận điểm trên và bằng kiến thức của khoa học QL, hãy phân tích mô
hình CCTC của cơ quan, đơn vị đồng chí đang công tác, nêu giải pháp hoàn thiện nhằm đáp
năng QL được tách riêng do 1 cơ quan hay 1 bộ phận đảm nhiệm, những nhân viên chức năng
phải là người am hiểu chuyên môn, thành thạo nghiệp vụ trong phạm vi QL của mình. Đặc
điểm của cơ cấu QL theo chức năng là các bộ phận QL cấp dưới, người thực hiện quyết định
nhận mệnh lệnh từ bộ phận chức năng giúp việc cho lãnh đạo.
Ba là, các CCTCQL kết hợp. Loại cơ cấu kết hợp được dùng phổ biến gồm có: Cơ cấu trực
tuyến-tham mưu, cơ cấu này dựa trên nguyên tắc QL trực tuyến, nhưng bên cạnh người lảnh
đạo có bộ phận tham mưu (phòng, ban, tổ hoặc cá nhân) để giúp người lảnh đạo ra quyết định.
Trong cơ cấu trực tuyến-tham mưu, người lãnh đạo ra quyết định và chịu trách nhiệm đối với
việc thực hiện quyết định của người thừa hành trực tiếp của mình. Bộ phận tham mưu có nhiệm
vụ chuẩn bị các dự án, các quyết định, đảm bảo luận cứ và chất lượng của quyết định QL và
theo dõi việc thực hiện. Bộ phận tham mưu không có quyền ra quyết định.
Trang 8
CCTC kiểu trực tuyến-chức năng, là kiểu CCTC phối hợp hữu cơ 2 loại cơ cấu trực tuyến và
cơ cấu chức năng. Người lãnh đạo tổ chức được sự giúp sức của các phòng ban chức năng để
chuẩn bị và ra quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện quyết định. Những người lãnh
đạo các tuyến chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động và được toàn quyền quyết định trong đơn
vị mình phụ trách. Những người lãnh đạo chức năng không có quyền ra quyết định trực tiếp cho
những người ở các tuyến. Mô hình này ra đời năm 1930, hiện nay đang được sử dụng rộng rãi
trên thế giới cũng như ở nước ta. Đặc điểm của kiểu CCTC QL trực truyến-chức năng là qhệ
giữa cấp trên và cấp dưới vẫn theo nguyên tắc trực tuyến, nhưng bên cạnh người lãnh đạo
chung có bộ phận chức năng giúp việc, là đội ngũ những chuyên gia giỏi về chuyên môn giúp
người lãnh đạo những luận cứ khoa học trước khi ra các quyết định. Các cơ quan chức năng có
nhiệm vụ giám sát việc thực hiện quyết định ở cấp dưới.
Ngoài hai loại CCTC QL trên, còn có CCTCQL theo chương trình-mục tiêu; theo kiểu ma
trận (bàn cờ). CCTC theo chương trình-mục tiêu, là mô hình CCTC theo nguyên lý hình thành
1 cơ quan liên kết để phối hợp hoạt động của nhiều ngành, nhiều địa phương để hoàn thành
mục tiêu, chương trình cụ thể theo 1 trình tự, thời gian nhất định. Đây là mô hình CCTC hiện
đại, mang tính đặc thù, được rút ra từ thực tế hoạt động QL các chương trình phát triển KT-XH
cụ thể. Đặc điểm của kiểu CCTC này là các ngành có quan hệ đến việc thực hiện chương trình-
mục tiêu liên kết lại và có một tổ chức để QL thống nhất gọi là Ban chủ nhiệm chương trình (đề
được vào trình độ chuyên môn của cán bộ và thời gian dành cho việc nghiên cứu để xây dựng
CCTC QL.
Ở nước ta, hệ thống chính trị (Cơ quan Đảng, NN, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính
trị-xã hội), nhất là BMNN được xây dựng theo CCTC QL kết hợp, nhưng khác các nước khác,
ở VN không phân chia quyền lực (Lập pháp, hành pháp và tư pháp) mà có sự phân công, phối
hợp thực hiện 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và hoạt động theo nguyên tắc TTDC, đồng
thời đề cao vai trò của người đứng đầu từng cấp, từng cơ quan chức năng, tham mưu (Chế độ
thủ trưởng). CCTC QLNN ở TW có CT nước (Nguyên thủ quốc gia), cơ quan QH (Cơ quan lập
pháp), cơ quan hành pháp là CP (Thủ tường các phó thủ tướng, các bộ), cơ quan tư pháp gồm
VKSNDTC và TANDTC; ở địa phương cấp tỉnh có HĐND, UBND và các Sở ngành và các cơ
quan quan hệ dọc (VKSND, TAND …); ở cấp huyện có HĐND, UBND và các Phòng, Ban và
các cơ quan quan hệ dọc (VKSND, TAND …); ở cấp cơ sở có HĐND, UBND và các Ban, bộ
phận. Hiện nay, ở một số nơi đang thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện và
nhất thể hóa chức danh Bí thư-Chủ tịch UBND cấp huyện, xã, phường.
Tại HNTW 4 khóa X (02/2007), Đảng ta đánh giá: Trong những năm qua, việc đổi mới và
kiện toàn tổ chức BM các cơ quan Đảng, NN, MTTQ và các ĐT chính trị-xã hội đã được thực
hiện một bước; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi tổ chức đã được điều chỉnh hợp lý
hơn; tình chủ động, năng động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp được tăng cường;
chất lượng đội ngũ CB, CC nhìn chung được nâng lên cả về trình độ lý luận chính trị, học vấn,
chuyên môn, nghiệp vụ. Tuyệt đại đa số CB, CC giữ gìn phẩm chất chính trị và đạo đức, lối
sống, trung thành với sự nghiệp CM của Đảng, thích ứng dần với cơ chế thị trường định hướng
XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế. Những tiến bộ đó đã góp phần tích cực thực hiện thắng lợi
sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo.
Tuy nhiên, cho đến nay, tổ chức BM các cơ quan Đảng, cơ quan NN, MTTQ và các ĐT
chính trị-xã hội vẫn còn nhiều nhược điểm, chưa đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ mới. CCTC của
các cơ quan Đảng, NN, MTTQ và các ĐT chính trị-xã hội ở các cấp vẫn còn có sự chồng chéo,
trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ; thẩm quyền, trách nhiệm của cá nhân và tổ chức chưa thật sự
rõ ràng; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa được đẩy lùi; kỷ cương, kỷ luật chưa
nghiêm.
Nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế, khuyết điểm trên là do: Nhận thức của các ngành, các
năng của QL là ra quyết định QL. Quyết định QL liên quan đến thành bại, đến hiệu quả cao
thấp của toàn bộ quá trình QL. Quyết định QL được coi là sản phẩm của người lãnh đạo QL,
người lãnh đạo thể hiện tài năng của mình là ở khâu ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết
định QL. Vì vậy, để có quyết định chính xác, đúng đắn, khả thi và hiệu quả, người QL phải
nắm vững các đặc điểm, vài trò và yêu cầu của quyết định QL, phương pháp xây dựng và tổ
chức thực hiện quyết định một cách khoa học. Bằng những kiến thức về khoa học QL, chúng ta
hãy phân tích làm rõ các nội dung trên.
Quyết định QL là hành vi có tính chất chỉ thị do một cơ quan hay một người đưa ra nhằm
định hướng, tổ chức hoạt động của tập thể lao động thực hiện mục tiêu QL. Ra quyết định là
việc lựa chọn các mục tiêu cũng như nguồn lực và đề ra các phương pháp thực hiện để đạt được
mục tiêu đó.
Quyết định QL ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả QL bởi vì một quyết định đúng đắn, kịp thời
sẽ đem lại sự giàu có, phát triển ngược lại nếu quyết định sai và không đúng lúc có thể gây trì
trệ, ách tắt và nhiều khi dẫn đến phá sản. Mặt khác chu kỳ sống của một quyết định QL thường
trải qua 5 giai đoạn, để phát huy tối đa hiệu quả của quyết định, người lãnh đạo QL phải lựa
chọn và ra quyết định kịp thời ngay tại điểm quyết định phát huy tác dụng ở mức cao nhất và
phải thay đổi quyết định khi quyết định thể hiện sự trì trệ, kìm hãm sự phát triển.
Do quyết định QL là sản phẩm của chủ thể QL nên nội dung của nó thường chứa đựng ý chí
chủ quan của người QL chi phối như: Cá tính, quan điểm, trình độ năng lực nhận thức và vận
dụng quy luật của người lãnh đạo QL. Cho nên, để đảm bảo cho các quyết định QL có chất
lượng thì khi đề ra các quyết định phải dựa trên các cơ sở khách quan. Đó là: Yêu cầu của quy
luật khách quan tác động tới đối tượng QL; đặc điểm và xu thế phát triển của đối tượng QL và
điều kiện vật chất và thời gian có thể thực hiện quyết định. Quyết định QL cũng mang những
đặc điểm khác như: Do chủ thể QL ban hành và chỉ đề ra khi các vận đề đã chín muồi, quyết
định hướng trực tiếp vào tổ chức, hoạt động của đối tượng QL và có liên quan trực tiếp tới quá
Trang 11
trình thu nhận, xứ lý thông tin, lựa chọn phương tiện hoạt động và cuối cùng là phải được hình
thành trên cơ sở hiểu biết quy luật và sự vận động của hệ thống QL, ra quyết định.
Vì tính chất quan trọng của quyết định QL nên nội dung của quyết định QL phải đảm bảo
tính khoa học, tính toàn diện, tính khả thi, tính thống nhất, tính kịp thời, tính hiệu quả, tính linh
cho xã hội và bảo đảm văn minh đô thị. Tuy nhiên, về tính khoa học, tính linh hoạt, tính hiệu
quả, tính toàn diện và tính khả thi của quyết định có rất nhiều vấn đề cần phải xem xét.
Thực tiển trong quá trình thực hiện thì chưa đạt yêu cầu, như Chính phủ nhận định: Việc đình
chỉ lưu hành xe 3-4 bánh tự chế và quản lý hoạt động của xe cơ giới 3 bánh đang lưu hành chưa
đạt yêu cầu; một số địa phương đã thực hiện có kết quả, còn phần lớn các địa phương đang lúng
túng, triển khai chưa thống nhất và triệt để … Nguyên nhân được đánh giá là do công tác tuyên
truyền vận động, hướng dẫn thực hiện của các Bộ, ngành và các địa phương chưa đồng bộ và
quyết liệt …”. Cụ thể là ở TP HCM (Qua thông tin báo chí) sau 4 lần tiến hành xây dựng đề án
chuyển đổi xe tự chế đều không được phê duyệt và thời hạn thực hiện NQ 32 phải gia hạn nhiều
lần (lần 1 đến 30/6/2008, lần 2 đến 31/12/2008, lần 3 đến 01/01/2009 và lần 4 là đến
01/01/2010). Có tình trạng đó là do trong quá trình chuẩn bị xây dựng ban hành NQ, các cơ
quan chức năng tham mưu chưa thực hiện khảo sát thực tế về số lượng đối tượng bị tác động,
lợi ích kinh tế (Thu nhập) của họ sẽ thiệt hại cũng như khả năng kinh tế, trình độ học vấn …
Trang 12
của họ khi thực hiện chuyển đổi nghề, chuyển đổi phương tiện (đa số những đối tượng bị tác
động là hộ nghèo hành nghề bằng xe xích lô, ba gác, thu gôm rác…). Đồng thời, cũng chưa có
kết quả khảo sát, số liệu thống kê xác định nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông và ùn tắt giao
thông có phải do các loại phương tiện này gây ra hay không ?. Trong khi thực tế điều kiện kinh
tế còn nhiều khó khăn, những phương tiện này là cứu cánh cho cả chủ phương tiện (các hộ
nghèo) và người sử dụng. Đồng thời, với đặc điểm đường xá nhỏ hẹp của thành phố muốn sắm
bàn, ghế hoặc một vài loại vật tư để sửa chữa nhà cửa; hay vận chuyển rau, cải của nông dân
ngoại thành đến các chợ nội thành … cũng cần đến xe ba gác, xe lam, xích lô, xe lôi … vì nếu
thuê xe tải vừa tốn kém (giá thành tăng lên) lại không vào được hẻm nhỏ, vì vậy không những
việc làm thu nhập của người lao động bị “Đóng sập cửa” mà còn ảnh hưởng đến cuộc sống của
hàng triệu người dân thành phố và hoạt động mua bán của các cửa hàng nhỏ … Mặt khác, đề
chuyển đổi phương tiện tử 35-100 triệu/phương tiện và mỗi tháng phải trả lãi và vốn vay gần 3
triệu (Dự thảo đề án) đây là việc vượt quá khả năng của các hộ nghèo …
Từ những vướng mắc trên cho thấy rằng tính khoa học, tính thống nhất, tính khả thi và tính
toàn diện của NQ về nội dung đình chỉ lưu hành xe 3-4 bánh tự chế và quản lý hoạt động của xe
cơ giới 3 bánh đang lưu hành là rất thấp, không thỏa mãn những mục tiêu đã đề ra cũng như