DANH MỤC NHỮNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Nội dung
1
GDTX
Giáo dục thường xuyên
2
NXB
Nhà xuất bản
3
THPT
Trung học phổ thông
4
GV
Giáo viên
4. CHỦ ĐẦU TƯ TẠO RA SÁNG KIẾN.................................................................3
5. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN ...................................................................3
6. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU HOẶC ÁP DỤNG THỬ...4
7. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN..............................................................4
7.1. Nội dung sáng kiến ..........................................................................................4
MỞ ĐẦU.................................................................................................................5
1. Lý do chọn đề tài..............................................................................................5
2. Mục đích của đề tài ..........................................................................................6
3. Phạm vi nghiên cứu..........................................................................................7
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ....................................7
5. Đối tượng áp dụng ...........................................................................................8
NỘI DUNG ............................................................................................................. 9
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
KIẾN THỨC VĂN HỌC NHẰM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC
SINH TRONG PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM 12 – BAN CƠ BẢN...................9
1. Cơ sở lý luận ....................................................................................................9
2. Cơ sở thực tiễn ...............................................................................................12
CHƯƠNG II: SỬ DỤNG TÀI LIỆU MÔN VĂN HỌC NHẰM TẠO HỨNG
THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
12 – BAN CƠ BẢN. ..........................................................................................13
1. Nội dung chuẩn kiến thức của phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm
2000, lớp 12 – ban cơ bản..................................................................................13
2. Thực trạng dạy và học ở Trung tâm GDTX&DN Yên Lạc...........................15
3. Giải Pháp thực hiện........................................................................................17
4. Kết quả đạt được ............................................................................................26
CHƯƠNG III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ ..........27
ĐỀ XUẤT ..........................................................................................................27
1. Bài học kinh nghiệm ......................................................................................27
lịch sử là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ nền văn hóa nhân loại, được các
nhà sử Hi Lạp khẳng định "Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống", "Lịch sử là bó
đuốc soi đường đi tới tương lai"... Ở nước ta, từ xa xưa bộ môn Lịch sử đã giữ
một vị trí quan trọng trong quá trình đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục
vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay việc dạy học lịch sử ở
trường phổ thông không chỉ trang bị cho học sinh (HS) những kiến thức cơ
bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài
người, mà còn giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, lý tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, rèn luyện năng lực tư duy và thực hành bộ môn.
Hơn nữa, trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang phát triển, trước tác
động ngày càng mạnh của xu thế toàn cầu hóa, chúng ta đang gặp nhiều khó
khăn trở ngại do chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp hơn so với
yêu cầu. Hơn thế nữa khi hòa nhập vào nền kinh tế thế giới thì cũng kéo theo đó
1
có nhiều nền văn hóa du nhập vào nước ta, hơn bao giờ hết chúng ta hiểu rằng
những tinh hoa, văn hóa dân tộc đang bị lung lay khi bản sắc dân tộc đang dần
mất đi. Khi chính những con người Việt Nam lại quên đi nguồn gốc, lịch sử dân
tộc. Đặc biệt là những năm gần đây, khi kết quả thi tốt nghiệp Phổ thông và thi
vào Đại học của môn Lịch sử quá thấp đã đặt ra cho chúng ta một vấn đề là vì
sao lại như vậy? Có lẽ học sinh không thích học môn Lịch sử vì cho rằng đó chỉ
là môn phụ, không quan trọng, nội dung kiến thức quá dài, khó nhớ, nhiều sự
kiện. Và ngay cả ngoài xã hội cũng không xem trọng đối với môn học này. Vậy
thì phải làm sao để thu hút được học sinh có hứng thú và chuyên tâm hơn trong
môn Lịch sử? Việc dạy và học lịch sử đang thu hút sự quan tâm, chú ý của toàn
xã hội. Từ năm 2006 – 2007, Bộ Giáo Dục – Đào Tạo bắt đầu triển khai chương
trình thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học. Vậy mục tiêu của
chương trình đổi mới là gì ? Đó là nhằm thay đổi cách học và học theo hướng
tích cực hóa hoạt động của học sinh mà một trong những phương pháp để tích
đề cập. Tuy nhiên, nghiên cứu và ứng dụng cụ thể vào đề tài: “Sử dụng tài liệu
môn văn học để tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học phần Lịch sử
Việt Nam lớp 12 ở Trung tâm GDTX &DN Yên Lạc ” thì chưa có tác giả nào đề
cập đến. Chính vì vậy, tôi chọn vấn đề này làm hướng nghiên cứu sáng kiến của
mình và giới thiệu đến đồng nghiệp đang giảng dạy bộ môn Lịch sử ở các
trường phổ thông, Trung tâm GDTX trong và ngoài tỉnh.
2. TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG TÀI LIỆU MÔN VĂN HỌC ĐỂ TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12 Ở
TRUNG TÂM GDTX & DN YÊN LẠC
3. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
- Họ và tên: Nguyễn Thị Huyền
- Địa chỉ: 153 Hùng Vương – Tích Sơn – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
- Số điện thoại: 0912821255
- Email:
4. CHỦ ĐẦU TƯ TẠO RA SÁNG KIẾN
Tác giả sáng kiến đồng thời là chủ đầu tư tạo ra sáng kiến.
5. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Sáng kiến được áp dụng trong dạy học nội khóa phần Lịch sử Việt Nam từ
năm 1919 đến năm 2000, lớp 12 - ban cơ bản, có thể áp dụng mở rộng đối với
dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông và Trung tâm GDTX nói chung.
Sáng kiến tập trung giải quyết một số vấn đề cụ thể sau:
- Tìm hiểu vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài, đến việc ứng
dụng kiến thức liên môn nói chung và kiến thức môn văn học nói riêng trong
việc dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 từ năm 1919 đến năm 2000.
- Tìm hiểu chương trình SGK lớp 12 (ban cơ bản), phần “Lịch sử Việt Nam
( từ năm 1919 đến năm 2000)” để xác định vị trí, mục tiêu và khai thác kiến thức
3
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những tri thức kỷ năng cũng
như những kinh nghiệm nhằm chuẩn bị hành trang bước vào cuộc sống, lao
động, sinh hoạt … đây là nhu cầu tất yếu của xã hội loài người đảm bảo sự tồn
tại và phát triển của con người.
Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy
học đổi với môn học lịch sử ở trường THPT nói riêng đều có ý nghĩa quan
trọng vừa là cơ sở lý luận, vừa là cơ sở phương pháp luận cho định hướng đổi
mới phương pháp dạy học, tiếp cận hoạt động nhân cách và là sự vận dụng lí
luận hoạt động giữa thầy và trò, thầy tác động vào nhân cách học sinh, hoạt
động của học sinh là hoạt động chủ đạo. Người giáo viên không còn là người
truyền đạt tri thức một chiều mà là người tổ chức điều khiển hướng dẫn, cố vấn
cho học sinh học tập. Học sinh không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin thụ
động mà chủ động tiếp nhận chiếm lĩnh tri thức một cách tích cực chủ động, học
sinh không chỉ làm việc tích cực riêng lẻ mà phải biết hợp tác tích cực với nhau
trong quá trình học tập.
Đối với môn Lịch sử đã có quan niệm sai lầm cho rằng học lịch sử chỉ cần
học thuộc lòng sách giáo khoa, ghi nhớ các sự kiện - hiện tượng lịch sử là đạt,
không cần phải tư duy - động não, không có bài tập thực hành… Đây là một
trong những nguyên nhân làm suy giảm chất lượng môn học.
Người giáo viên trong dạy học lịch sử đa số chỉ làm nhiệm vụ nói lại nội
dung sách giáo khoa, lại càng khó khăn hơn trong việc phát triển bài giảng được
soạn trên cở sở sách giáo khoa. Như vậy, bài giảng không thể gây hứng thú cho
học sinh học tập, gây nhàm chán trong tâm lý dạy - học của cả giáo viên lẫn học
sinh
Đa số học sinh coi bộ môn lịch sử là “môn phụ”, dễ học. Vì vậy, các em ít
chú ý nghe giảng. Các em ghi chép một cách máy móc những gì giáo viên ghi
trên bảng và chỉ học thuộc lòng những gì đã được ghi trong vở - không biết kết
hợp với sách giáo khoa và lại càng không biết tìm hiểu tại sao các môn học Văn
- Sử - Địa lại liên quan với nhau... Các em lười suy nghĩ, không biết phân tích
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn đề tài : Sử dụng tài liệu môn Văn học
để tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học phần lịch sử Việt Nam
lớp 12 ở Trung tâm GDTX & DN Yên Lạc.
2. Mục đích của đề tài
Sau khi nghiên cứu, thực nghiệm sư phạm và rút kinh nghiệm, hy vọng đề
tài này sẽ tìm ra những giải pháp nhằm phát huy tốt việc sử dụng kiến thức liên
môn mà cụ thể là môn Văn học để nâng cao hiệu quả bài học, chất lượng giảng
dạy môn Lịch sử ở trung tâm GDTX & DN Yên Lạc. Việc áp dụng kiến thức
các môn học khác vào bài giảng là rất quan trọng, nó quyết định đến sự hình
thành tư duy , sự móc nối, liên hệ lịch sử cho học sinh tạo điều kiện cho việc
6
lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng, quan trọng hơn là tạo hứng thú, sự say
mê học tập cho học sinh. Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong
việc tiếp thu kiến thức liên môn. Khôi phục bức tranh quá khứ một cách chính
xác, đồng thời qua đó thế hệ trẻ tự hào về truyền thống dân tộc.Lĩnh hội nền văn
minh nhân loại cũng như lịch sử các nước trên thế giới. Giúp cho học sinh hiểu
và nắm bài nhanh nhất đồng thời tạo hứng thú cho học sinh trong học tập bộ
môn Lịch sử.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài xoay quanh việc nghiên cứu giảng dạy và học tập với việc tạo hứng
thú học tập lịch sử bằng tài liệu văn học trong phần Lịch sử Việt Nam từ năm
1919 đến năm 2000 – Lịch sử 12 (ban cơ bản) theo hướng phát huy tính tích cực
của HS.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở phương pháp luận
- Đề tài đứng trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước về nghiên cứu và dạy học
lịch sử.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
KIẾN THỨC VĂN HỌC NHẰM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC
SINH TRONG PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM 12 – BAN CƠ BẢN.
1. Cơ sở lý luận
1.1. Những yêu cầu chung đối với giáo viên lịch sử:
Trong chương trình giáo dục hiện nay, môn Lịch sử cùng với các môn học
khác trong nhà trường có vai trò góp phần quan trọng tạo ra những con người
phát triển toàn diện. Yêu cầu giáo dục hiện nay đòi hỏi phải đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng "phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành,
lòng say mê học tập và ý chí vươn lên".." phải bồi dưỡng phương pháp tự học,
khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng lý thuyết vào thực
tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh" - (
Luật Giáo Dục - 2005); Lịch sử có chức năng, nhiệm vụ góp phần vào nhiệm vụ
giáo dục thế hệ trẻ nhằm "nâng cao dân trí, đào tạo năng lực, bồi dưỡng nhân
tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực
hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu
nước, yêu chủ nghĩa xã hội". Tác dụng quan trọng của sử học cũng như của bộ
môn lịch sử ở trường phổ thông, là giáo dục trí tuệ , tư tưởng chính trị, tình cảm
đạo đức.
Do vậy, bất cứ giáo viên bộ môn nào đều phải có tư tưởng, tình cảm đúng
đắn lành mạnh, trong sáng, có lòng nhiệt thành đối với nghề nghiệp, có thế giới
khách quan khoa học và nhân sinh quan tiến bộ để góp phần hình thành thế hệ
trẻ theo mục tiêu đào tạo của Đảng.
Không ngừng nâng cao sự hiểu biết kiến thức bộ môn, có phương pháp
dạy tốt, không ngừng hoàn thiện cải tiến phương pháp giảng dạy và nghiệp vụ.
Giảng dạy là đưa đến cho thế hệ trẻ, giúp thế hệ trẻ tiếp nhận những giá trị
quí báu của loài người về phương diện tri thức cũng như về phương diện tình
cảm, tư tưởng góp phần bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho thế hệ trẻ.
Giảng lịch sử là giảng về quá khứ của xã hội loài người, quá khứ của dân
cuộc sống hiện tại của bản thân. Nhưng không như những môn khoa học tự
nhiên (Vật lí, Hóa học,...) là GV hướng dẫn HS tìm hiểu, nghiên cứu “cái hiện
có” và “đang tồn tại”, trong học tập lịch sử, HS phải tìm hiểu cái “đã từng tồn
tại” nhưng nay “không hiện có”. Đây chính là tính quá khứ, điểm khác biệt lớn
nhất giữa việc nhận thức lịch sử so với các sự kiện, hiện tượng của tự nhiên.
Thứ hai, để có thể phản ánh hiện thực khách quan vào óc mình, khi học tập,
HS phải trải qua một quá trình nhận thức tích cực do GV hướng dẫn, điều khiển
“từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực
tiễn”. Đương nhiên, con đường nhận thức của HS cũng vậy, đó là con đường
10
nhận thức đi từ “cảm tính” đến “lí tính”, thông qua một chuỗi kiểm nghiệm từ
thực tiễn để nhận thức được chân lí khách quan.
Con đường hình thành kiến thức lịch sử cho HS bao giờ cũng đi từ cơ sở
ban đầu là “nắm vững các sự kiện lịch sử cụ thể tạo nên những biểu tượng lịch
sử chân thực” - đó là giai đoạn cảm tính. Trên cơ sở này, bằng tư duy trừu
tượng, HS sẽ tự hình thành trong óc những kiến thức trừu tượng, khái quát, đó là
hình thành các khái niệm, nắm vững hệ thống khái niệm lịch sử - giai đoạn nhận
thức lí tính. Ở giai đoạn tiếp theo, HS sẽ học cách vận dụng kiến thức đã học để
tạo ra trong tư duy những mối liên hệ giữa kiến thức cũ (đã biết) với kiến thức
mới (chưa biết), để cuối cùng HS sẽ sử dụng những kiến thức về quá khứ để
hiểu ngày nay, để hành động phù hợp với thực tiễn - giai đoạn vận dụng kiến
thức vào thực tiễn. Quá trình nhận thức của HS trong học tập lịch sử là một quá
trình mang “tính đặc thù”. Chính “tính đặc thù” ấy HS gặp không ít khó khăn
khi ghi nhớ lâu dài để hiểu và vận dụng kiến thức. Quá trình nhận thức của con
người đi từ “gần đến xa”: cái gì càng xảy ra gần chúng ta thì càng nhớ lâu, càng
xa càng nhanh quên. Thế nhưng, chương trình lịch sử ở trường phổ thông từ bậc
THCS đến THPT, Trung tâm GDTX lại được xây dựng theo nguyên tắc “đồng
đem lại được sự nhẹ nhàng, bớt khô cứng trong việc dạy - học lịch sử mà thôi.
Qua giảng dạy môn Lịch sử 12 nhiều năm ở trung tâm GDTX &DN Yên
Lạc, tôi đã rút ra được một kinh nghiệm mà bản thân tôi cho là rất quý. Đó là:
khi sử dụng thơ, văn vào bài giảng lịch sử sẽ gây hứng thú cho học sinh trong
việc tiếp thu bài. Khi tôi đọc thơ minh hoạ, cả lớp chăm chú lắng nghe và tỏ ra
rất thích thú. Những tiết học như vậy lớp học trở nên hấp dẫn hơn, các em có ấn
tượng lâu hơn, nắm bài tốt hơn so với những tiết học không sử dụng thơ, văn
trong bài giảng. Qua thể nghiệm bằng hai cách dạy của bản thân, tôi thấy những
tiết dạy có sử thơ, văn học sinh tập trung chú ý hơn, tâm lí thoải mái hơn, không
khí lớp học cũng nhẹ nhàng hơn và mức độ hiểu cũng như tiếp thu bài tốt hơn.
Thơ, văn Việt Nam qua các giai đoạn 1930 - 1945, 1945 - 1954, 1954 1975 và giai đoạn thời kì đổi mới rất phong phú với nhiều tác phẩm bất hủ và
những tên tuổi nổi tiếng như: Ngô Tất Tố với " Tắt Đèn"..., Nam Cao với " Chí
Phèo, lão Hạc"... , Vũ trọng Phụng với " Số Đỏ"..., Anh Đức " Hòn Đất"... Với
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ các tác giả đã kịp thời đưa những
sự kiện lịch sử của dân tộc lên trang giấy bằng dòng thơ, trang văn bất hủ; đặc
biệt chỉ với hai cây bút là lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu và nhà thơ lớn Tố Hữu
cùng các tập thơ: Từ ấy (1937 - 1946), Việt Bắc (1946 - 1954), Gió Lộng (1955
- 1961), Ra Trận (1962 - 1971), Máu và Hoa (1972 - 1977) ... đủ để giáo viên
lấy dẫn chứng phục vụ cho bài giảng của mình trong chương trình lịch sử 12.
12
CHƯƠNG II: SỬ DỤNG TÀI LIỆU MÔN VĂN HỌC NHẰM TẠO HỨNG
THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT
NAM 12 – BAN CƠ BẢN.
1. Nội dung chuẩn kiến thức của phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1919
đến năm 2000, lớp 12 – ban cơ bản
Nội dung lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000 gồm 16 bài :
Bài 12 : Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ 1919 đến 1925
* Giai đoạn 1919 - 1930: từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến khi
Đảng ra đới năm 1930.
- Sau chiến tranh thế giới I, Pháp làm chuyển biến kinh tế - xã hội Việt
Nam, tạo điều kiện cho phong trào yêu nước tiếp thu luồng tư tưởng cách mạng
vô sản.
- Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đã làm chuyển biến phong trào yêu
nước chống Pháp
- Ba tổ chức Công sản VN ra đời.
- ĐCS VN ra đời 3/2/30 chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối lãnh đạo
phong trào cách mạng Việt Nam.
* Giai đoạn 1930 - 1945: từ sau khi Đảng Cộng sản VN ra đời đến
2/9/1945.
- Tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và “khủng bố trắng“ của
Pháp đã làm bùng nổ phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 –1931. Vận động dân chủ 1936 –1939
- Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi là kết quả của quá trình tập dợt
trong 10 năm từ khi Đảng ra đời.
* Giai đoạn 1945 - 1954: từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến
ngày 21/7/1954.
- Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập,nước ta gặp
muôn vàn khó khăn.
- Cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) tiến hành trong điều kiện đã
độc lập và có chính quyền ; kháng chiến chống Pháp xâm lược.
- Chiến thắng lịch sử Điện biên phủ 1954, Pháp rút khỏi nước ta
* Giai đoạn 1954 - 1975: từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
Pháp năm 1954 đến ngày 30-4-1975.
- Nhiệm vụ cách mạng từng miền và nhiệm vụ chung của cả nước là
“Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”.
- Miền Nam đấu tranh chính trị phát triển lên “Đồng khởi”, rồi chiến
tranh giải phóng.
sinh sẽ nắm chắc kiến thức và hiểu sâu hơn về bản chất của sự kiện, hiện tượng
lịch sử. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên kết hợp và khai thác triệt để các đồ
dùng và phương tiện dạy học như tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ, mô hình, ứng dụng
công nghệ thông tin…
Học sinh có chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu hỏi giáo
viên đặt ra, một số em có chuẩn bị bài mới ở nhà. Học sinh tham gia tích cực
trong việc thảo luận nhóm và đã đưa hiệu quả cao trong quá trình lĩnh hội kiến
15
thức. Học sinh yếu, kém đã và đang nắm bắt kiến thức trọng tâm cơ bản thông
qua các hoạt động như thảo luận nhóm, đọc sách giáo khoa, vấn đáp… các em
đã mạnh dạn trả lời các câu hỏi ghi nhớ các sự kiện, nhân vật.
b. Khó khăn:
Đa phần học sinh Trung tâm GDTX &DN Yên Lạc đầu vào thấp, học lực
trung bình, yếu do vậy ảnh hưởng rất nhiều đến phương pháp của giáo viên.
Nhiều học sinh chưa nắm kiến thức mà chỉ học thuộc một cách máy móc, trả lời
câu hỏi thì nhìn sách giáo khoa hoàn toàn. Học sinh chưa có tinh thần học tập,
một số em vừa học vừa làm, việc tiếp thu bài chậm, đặt câu hỏi phải cụ thể, lặp
lại nhiều lần. Các em chưa xác định được động cơ học tập, học như thế nào? học
cho ai? học để làm gì? Vì thế các em chưa phát huy hết vai trò và trách nhiệm
của người học sinh. Học sinh chưa xác định nội dung của bài học, tiếp thu bài
một cách máy móc, các em luôn có tư tưởng lịch sử là môn phụ nên không cần
thiết.
c. Điều tra cụ thể:
Thực tế, trong quá trình giảng dạy bộ môn Lịch sử 12 nhiều năm ở trung
tâm GDTX &DN Yên Lạc, tôi nhận thấy phần lớn học sinh ít hứng thú, ngại học
môn Lịch sử. Sở dĩ các em có tâm lí ngại học môn Lịch sử là do môn học này có
lượng kiến thức quá lớn, yêu cầu đòi hỏi lại cao mà khả năng ghi nhớ lại không
tốt. Bản thân tôi cảm thấy rất trăn trở và quyết tâm phải làm sao để lôi cuốn
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
21
0
0
7
33,3
11
52,4
0
12A3
19
0
0
7
36,8
10
52,7
2
10,5
0
0
16
3. Giải Pháp thực hiện
3.1. Thực trạng và những mâu thuẫn.
liên hệ, kết hợp nằm ở những phần nào, nên nhiều hay ít ...
17
Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình giảng dạy theo hướng
phát huy tư duy của học sinh và tích hợp liên môn, bản thân tôi cũng luôn cố
gắng tìm tòi, nghiên cứu và dần đúc kết, tổng hợp một số kinh nghiệm trong đề
tài này.
3.2. Một số giải pháp thực tế gây hứng thú học tập lịch sử bằng tài liệu
văn học :
a) Phương pháp sử dụng tài liệu văn học:
Trong thực tiễn dạy học, các tác phẩm văn học dân tộc cũng như thế giới có
vai trò to lớn đối với việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Trước hết các tác
phẩm văn học bằng những hình tượng cụ thể có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng,
tình cảm người đọc, trình bày những nét đặc trưng điển hình của các hiện tượng
kinh tế, chính trị những qui luật của của đời sống xã hội. Trong khi sáng tác một
tác phẩm nhà văn phải nghiên cứu các tài liệu lịch sử, không ít tác phẩm văn học
tự nó là tư liệu lịch sử . Ví dụ như Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi, Lục Vân
Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh…
Trong việc giảng dạy, giáo viên thường sử dụng các loại tài liệu văn học
chủ yếu: văn học dân gian, các tác phẩm ra đời vào thời kì xảy ra sự kiện lịch sử,
truyện, tiểu thuyết, thơ….
Văn học dân gian ra đời sớm với nhiều thể loại như : thần thoại, truyền
thuyết, cổ tích dân ca, ca dao, tuyện trạng, truyện cười…. Đây là tài liệu phản
ánh nhiều sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc. Ví dụ như truyện Thánh
Gióng, qua câu chuyện ta xác định được những yếu tố hiện thực của lịch sử là
thời Hùng Vương thứ 6 (tương ứng với thời nhà Ân ở Trung Quốc), đồ sắt phát
triển với vũ khí công cụ dùng đều bằng sắt (nón sắt, giáp sắt, gậy sắt, ngựa sắt),
đồng thời nêu cao truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ
(cả làng góp gạo thổi cơm cho Gióng ăn) hay Sơn Tinh – Thủy Tinh là biểu
bầy chó để lấy tiền nộp sưu thuế cho chồng và cảnh chị Dậu chạy ra giữa màn
trời đêm tối đen như mực và như cái tiền đồ của chị.
Khi sử dụng tài liệu văn học phải đảm bảo tiêu chuẩn cơ bản là giá trị giáo
dục – giáo dưỡng và giá trị văn học, các tài liệu đó phải giúp học sinh khôi phục
lại bối cảnh lịch sử, hình ảnh các sự kiện, nhân vật của quá khứ để phục vụ được
yêu cầu của nội dung bài học, phù hợp trình độ nhận thức của học sinh, không
làm loãng nội dung bài học lịch sử.
b) Cách sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp
12:
Các tác phẩm văn học với những hình tượng cụ thể có tác động mạnh mẽ
đến tư tưởng, tình cảm của học sinh, nó giúp học sinh tiếp nhận kiến thức và
khắc sâu nó một cách dễ dàng. Để thực hiện hiệu quả của việc vận dụng thơ, văn
trong dạy học lịch sử tôi sử dụng một số phương pháp sau:
19
Thứ nhất: Đưa vào bài giảng một đoạn thơ, một đoạn văn ngắn hay tóm tắt
một đoạn truyện ngắn để minh họa những sự kiện đang học nhằm làm nội dung
bài học phong phú và giờ học thêm sinh động.
Thứ hai: Dùng một đoạn trích để cụ thể hóa sự kiện, nêu ra một kết luận
khái quát nhằm giúp học sinh hiểu sâu hơn về một thời kì, một sự kiện lịch sử.
Thứ ba: Tài liệu thơ, văn có sử liệu được sử dụng để tổ chức những buổi
ngoại khóa như: Theo dòng lịch sử, sinh hoạt đầu giờ chào cờ, trò chơi lịch sử...
Khi đưa thơ, văn có sử liệu vào bài giảng lịch sử cần lưu ý nên đưa vào thời
điểm nào cho hợp lí nhất? có thể sử dụng một số giải pháp sau:
+ Dùng thơ, văn để giới thiệu bài mới;
+ Dùng thơ, văn để kết thúc bài học;
+ Dùng để đánh giá lịch sử;
+ Thời điểm sự kiện lớn có trong bài học.
Thế không chịu nổi liệu bề tính mau
Kìa Bến Thủy đứng đầu dậy trước
Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên
Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên
Anh Sơn, Hà Tĩnh bốn bên dậy rồi
Không có lẽ ta ngồi chịu chết
Phải cùng nhau kiên quyết một phen
Tổng này, xã nọ kết liên
Ta hò, ta hét, thét lên thử nào”
(Bài ca cách mạng - Đặng Chánh Kì)
Đoạn thơ trên sẽ giúp học sinh biết được các sự kiện lịch sử diễn ra theo
trình tự như thế nào? Qua đó yêu cầu học sinh nhận xét về phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh ( 1930 - 1931).
Trong bài 15 "Phong trào dân chủ 1936 – 1939" giáo viên liên hệ đến tác
phẩm “Tinh thần thể dục” của tác giả Nguyễn Công Hoan( Ngữ văn 11) , giáo
viên dạy lịch sử cũng biết và nhắc lại cho học sinh thấy được tính chất bịp bợm
của phong trào này. Bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu là lời tâm nguyện của người
thanh niên yêu nước giác ngộ lí tưởng Đảng.
Bài 16 “ Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng
Tám(1939-1945). Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời”ngiáo viên nhắc lại
trong Sách Ngữ văn 11, học sinh đã học bài “Chiều tối”, “Lai Tân” trích trong
tập “Nhật kí trong tù”. Sách Ngữ văn 12 đã dạy và cho học sinh tìm hiểu về
“Bản tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh – đây là văn kiện lịch sử
quan trọng đánh dấu kỉ nguyên độc lập tự do của nước Việt Nam. Giáo viên dạy
sử trong bài này tốt nhất là cho học sinh nghe lại lời đọc của Bác.
21
Khi giáo viên đọc đoạn trích sau chắc chắn học sinh sẽ nhớ rõ ràng về trình
tự khởi nghĩa và giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945:
Tổng khởi nghĩa! Lệnh truyền đêm trước