Đánh giá tài nguyên nước và các thách thức chủ yếu trong quản lý tài nguyên nước tại địa phương - Pdf 33

Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

Nội dung tiểu luận: Đánh giá tài nguyên nước và các thách thức chủ yếu trong quản lý
tài nguyên nước tại địa phương. Thảo luận về các trở ngại chính khi triển khai
QLTHTNN tại địa phương.

Phần 1: MỞ ĐẦU
1.1 – Cơ sở pháp lý quản lý tài nguyên nước trên địa bàn thành phố hồ chí minh:
-

Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ quy định việc
cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước.

-

Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24 tháng 6 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường hướng dẫn thi hành Nghị định 149/2004/NĐ-CP;

-

Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước;

-

Thông tư số 05/2005/TT-BTNMT ngày 22 tháng 7 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường hướng dẫn thi hành Nghị định số 34/2005/NĐ-CP.

-


Quyết định số 96/2007/QĐ-UBND ngày 23 tháng 07 năm 2007 về ban hành mức thu phí
thẩm định hồ sơ và lệ phí cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả
nước thải vào nguồn nước và hành nghề khoan nước dưới đất.

-

Quyết định số 58/2010/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2010 về việc bãi bỏ các văn bản
của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quy định thủ tục hành chính áp dụng tại Ủy
ban nhân dân quận – huyện, xã – phường – thị trấn trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên
nước.

-

Quyết định số: 729/QĐ-TTg ngày 19 tháng 6 năm 2012 của Thủ Tướng Chính Phủ phê
duyệt Quy hoạch cấp nước thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025.

-

Quyết định số: 24/QĐ - TTg ngày 06/01/2010 Quy hoặch xây dựng nhà máy xử lý nước
thải đến năm 2025.

Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước


Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 2


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

Thành phố Hồ Chí Minh gồm có bốn điểm cực:
Cực Bắc là xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi.
Cực Tây là xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi.
Cực Nam là xã Long Hòa, huyện Cần Giờ.
Cực Đông là xã Thạnh An, huyện Cần Giờ.
1.2.2

Địa chất, thủy văn:

Địa chất:
Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên
bề mặt. Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố. Dưới tác
động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm
đất đặc trưng riêng: đất xám. Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23,4% diện tích thành phố, đất
xám ở Thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và
hiếm hơn là đất xám gley. Trầm tích Holocen ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc:
biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi... hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 3


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

Nhờ trầm tích Pleistocen, khu vực phía Bắc Thành phố Hồ Chí Minh có được lượng nước ngầm
khá phong phú. Nhưng về phía Nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn,
nhiễm mặn. Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự
tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba tầng: 0–20 m, 60–90 m và 170–200 m (tầng trầm tích
Miocen). Tại Quận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào,
thường được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng.
1.2.3

Khí hậu, thời tiết:

Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, Thành phố Hồ Chí Mình có nhiệt độ cao đều trong năm và hai
mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng
12 tới tháng 4 năm sau. Trung bình, Thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng một tháng,
nhiệt độ trung bình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C. Hàng năm, thành phố
có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28 °C. Lượng mưa trung bình của thành phố đạt
1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vào
năm 1958. Một năm, ở thành phố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng
từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9. Trên phạm vi không gian thành phố,
lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc. Các quận nội
thành và các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại.

(90)
(°F)

33
(91)

34
(93)

34
33 (91) 32 (90) 31 (88) 32 (90) 31 (88) 31 (88) 30 (86) 31 (88)
(93)

Trung
bình tối 21
thấp °C (70)
(°F)

22
(72)

23
(73)

24
25 (77) 24 (75) 25 (77) 24 (75) 23 (73) 23 (73) 22 (72) 22 (72)
(75)

Lượng
14

Bắc – Ðông Bắc. Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung bình 3,6 m/s, vào mùa mưa.
Gió Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào mùa khô. Ngoài ra còn
có gió tín phong theo hướng Nam – Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, trung bình
3,7 m/s. Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão. Cũng như lượng mưa,
độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa (80%), và xuống thấp vào mùa khô (74,5%).
Bình quân độ ẩm không khí đạt 79,5%/năm.
1.2.4

Môi trường:

Với tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng chưa kịp quy hoạch nâng cấp tổng thể, ý thức
một số người dân lại chưa tốt trong nhận thức và bảo vệ môi trường chung... Vì vậy, Thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường quá lớn. Hiện
Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 4


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

trạng nước thải không được xử lý đổ thẳng vào hệ thống sông ngòi còn rất phổ biến. Nhiều cơ sở

5.881.511 người, mật độ lên tới 11.906 người/km². Trong khi đó các huyện ngoại thành chỉ có
1.281.353 người, đạt 801 người/km².
1.2.7

Kinh tế

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam. Thành phố chiếm 0,6% diện
tích và 8,34% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất
công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài. Vào năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000
lao động, trong đó 139 nghìn người ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc.
Năm 2010, thu nhập bình quân đầu người ở thành phố đạt 2.800 USD/năm, cao hơn nhiều so với
trung bình cả nước, 1168 USD/năm. Tổng GDP cả năm 2010 đạt 418.053 tỷ đồng (tính theo gía
thực tế khoảng 20,902 tỷ USD), tốc độ tăng trưởng đạt 11.8%.
Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nông
nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính... Cơ cấu kinh tế của thành phố,
khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn
Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 5


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học


1.2.8.1 Giao thông vận tải:
Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao
thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và
còn là một cửa ngõ quốc tế.
Thành phố Hồ Chí Minh kết nối với các tỉnh lân cận bằng hệ thống đường bộ, sôi động nhất là
quốc lộ 51 từ thành phố Hồ Chí Minh đi Vũng Tàu; quốc lộ 1A, tỉnh lộ 50, 824 và 825 đi Long
An; tỉnh lộ 25B, quốc lộ 1A đi Đồng Nai; tỉnh lộ 824 và quốc lộ 13 đi Bình Dương; đường xuyên
Á - quốc lộ 22 hoặc theo đường Trung Lập Hạ đi Tây Ninh.
Mạng lưới đường trong thành phố được phân bố theo dạng hướng tâm gồm 12 trục chính theo các
hướng Đông Bắc - Tây Nam và Tây Bắc - Đông Nam. Chiều dài mạng lưới đường bộ do thành
phố quản lý khoảng 1.521 km. Mạng lưới đường trừ một vài khu có qui hoạch trước, còn đa số
đều phát triển tùy tiện từ kích thước, khổ đường, lộ giới, vĩa hè, nhiều hẻm chỉ còn lại 2m. Một số
đường bị gián đoạn ở các chỗ thắt nút hẹp, các dòng sông chắn ngang, các đầu mối giao thông,
chợ... là những điểm thường xuyên gây cản trở lớn cho giao thông nội bộ thành phố.

Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 6


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học

Ngoài ra còn có khoảng 50 bến đò phục vụ giao thông hành khách. Cảng Sài Gòn là một trong
những cảng lớn nhất Việt Nam, chiếm 25% trong tổng khối lượng hàng hóa thông qua các cảng
biển cả nước. Cảng Bến Nghé nằm phía hạ lưu sông Sài Gòn, rộng 32 ha, tổng chiều dài cầu cảng
528 m, có thể cho tàu có tải trọng từ 15.000 - 20.000 tấn cập bến. Tuy năng lực của các cảng của
Thành phố Hồ Chí Minh lớn nhưng việc chuyển tiếp giữa giao thông đường bộ, đường biển và
đường sông gặp khó khăn.
1.2.8.2 Quy hoạch và kết cấu đô thị:
Tuy nhiên hiện nay thành phố này có dân số kể cả số lượng khách vãng lai là 10 triệu người, kết
cấu đô thị đã quá tải. Sài Gòn từng là thành phố của cây xanh với không gian kiến trúc theo quy
hoạch của Pháp trước đây đã thay đổi với việc thu hẹp không gian xanh để xây dựng nhà cửa,
không gian kiến trúc thành phố này trở nên chật chội với nhiều công trình xây dựng hỗn độn
thiếu tính thống nhất.
Công tác quy hoạch có nhiều bất cập và yếu kém. Đến thời điểm đầu năm 2008 mới chỉ có 23%
khối lượng công tác quy hoạch 1/2000 được thực hiện. Quy hoạch cho hệ thống công trình ngầm
Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 7


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước


đang khai thác. Nước giếng bơm lên một số phải xử lý sắt mới hòa vào lưới phân phối để cung
cấp. Tổng công suất phát nước của hệ thống giếng này khoảng 40.000 m 3/ngày đêm. Ngoài ra còn
một số lượng lớn giếng ngầm của chương trình nước sạch nông thôn do UNICEF tài trợ hiện do
Sở Lao động, Thương binh và Xã hội quản lý và khoảng 100.000 giếng do các đơn vị sản xuất dịch vụ và hộ dân tự khoan đang được sử dụng.
Trạm cấp nước Bình Trị Đông: Công suất 12.000 m3/ngđ, bắt đầu cung cấp nước từ tháng
2/1999.
• Mạng lưới chuyển tải và phân phối:
Mạng lưới chuyển tải nước sạch
Gồm 3 tuyến ống chính:
Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 8


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

Tuyến thứ nhất từ nhà máy nước Thủ Đức về thành phố có đường kính 2000 mm, dài 12,4
km bằng bê tông cốt thép dự ứng lực, có nòng thép. Năm 1991, Công ty Cấp nước đo kiểm định
hệ số dẫn nước C (hệ số HAZEN) chỉ còn 107,4 giảm rất nhiều so với khi mới xây dựng là 140.
Tuy nhiên chưa phát hiện dấu hiệu hư hại, do đó dự đoán khả năng vẫn có thể chuyển tải ở mức
750.000 m3/ngày đêm. Riêng đoạn ống đi ngầm qua đáy sông Sài Gòn ở độ sâu 21 m nên gặp khó

nhỏ cụt làm nhiệm vụ như ống cấp III với tổng chiều dài khoảng 1.800 km. Hiện có khoảng 430
km ống cấp II - III có tuổi thọ trên 80 năm cần được cải tạo để giảm thiểu thất thoát nước, ngăn
ngừa nhiễm bẩn làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước.
1.2.8.4 Thoát nước:
Hệ thống thoát nước đô thị của thành phố cho đến nay đang có thay đổi lớn với các dự án xây
dựng mạng lưới thoát nước lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè và Tàu Hủ - Bến Nghé, nhà máy xử lý
hỗn hợp nước thải sinh hoạt và công nghiệp Bình Hưng Hòa công suất 30.000 m 3/ngđ bằng công
nghệ hồ sinh học, nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt Bình Hưng công suất 141.000 m 3/ngđ. Hệ
thống thoát nước của thành phố là hệ thống thoát nước riêng một nửa, tức là vẫn áp dụng một
mạng lưới thoát nước chung cho cả nước thải sinh hoạt, công nghiệp và nước mưa, nhưng sẽ tách
ra khi mưa lớn. Sự phân cấp quản lý và thực hiện duy tu sửa chữa, xây dựng các công trình thoát
Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 9


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

nước theo địa bàn quản lý vẫn giữ nguyên như thời kỳ trước, chưa có sự thay đổi.
Trên địa bàn thành phố có khoảng 1.200 km kênh rạch, trong đó có 234 km do Công ty Thoát
nước đô thị quản lý dùng cho chức năng thoát nước. Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chịu tác động

và cống hộp đa số mới xây dựng nên chất lượng còn khá tốt.
Tổng số trên toàn tuyến có 65.106 cái hầm ga. Hiện tại, khả năng hoạt động của các hầm ga chỉ
đạt 70 – 80%. Trong năm 1999 đã xây thêm gần 200 hầm ga, làm biển báo cửa xả 122 cái, giải
tỏa và nạo vét 65 cửa xả. Vấn đề tồn tại nghiêm trọng nhất hiện nay đối với thoát nước đô thị là
úng ngập. Có khoảng 28% dân số bị ảnh hưởng thường xuyên do bị ngập trong các mùa mưa.
Các dự án môi trường: (1) Dự án thoát nước và vệ sinh môi trường (lưu vực Nhiêu Lộc – Thị
Nghè, do Ngân hàng Thế giới WB cho vay, (2) Dự án cải thiện vệ sinh và nâng cấp đô thị lưu vực
Tân Hóa – Lò Gốm, do chính phủ Bỉ tài trợ, (3) Dự án cải thiện vệ sinh môi trường nước lưu vực
kênh Tàu Hủ - Bến Nghé, kênh Đôi – Tẻ, do JBIC tài trợ, và (4) Dự án thoát nước Hàng Bàng, do
Ngân hàng Phát triển Châu Á tài trợ, đang làm thay đổi hệ thống thoát nước của Tp.Hồ Chí Minh.

Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 10


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

Phần 2: Nội dung chính của tiểu luận
Đánh giá tài nguyên nước và các thách thức chủ yếu trong quản
lý tài nguyên nước tại Thành phố Hồ Chí Minh.

750.000

750.000

750.000

2 Nhà máy nước Thủ Đức II (BOO)

300.000

300.000

300.000

300.000

300.000

3 Nhà máy nước Thủ Đức III (năm 2012)
4 Nhà máy nước Thủ Đức IV (sau năm 2018)

Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

300.000

300.000

300.000

II Nguồn sông Sài Gòn/Hồ Dầu Tiếng
1 Nhà máy nước Tân Hiệp I
2 Nhà máy nước Tân Hiệp II (2015)
3 Nhà máy nước Tân Hiệp III (2020)

300.000

4 Nhà máy nước Kênh Đông I (năm 2012)

200.000

200.000

150.000

150.000

50.000

50.000

150.000

250.000


8.000

8.000

0

5 Nguồn xã hội hoá (nước ngầm)

3.000

2.000

0

15.000

15.000

+ Cấp cho nội thành
+ Cấp cho Củ Chi
5 Nhà máy nước Kênh Đông II (năm 2015 cấp cho
Củ Chi và Long An)
Tổng công suất
III Nguồn nước ngầm
1 Nhà máy nước Tân Bình

6 Nhà máy nước Bình Hưng
7 Công nghiệp (đã cấp phép)



Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 12


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

Tài nguyên nước Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay có các nguồn sau:
Tài nguyên nước mặt (nước ngọt).
Tài nguyên nước ngầm.
Tài nguyên nước mưa.
Tài nguyên nước lợ (Nước thủy triểu sâm nhập sâu của biển đông).
Tài nguyên nước thải.
2.2.1 - Tài nguyên nước mặt (nước ngọt):
Thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống Sông Đồng Nai và Sông Sài Gòn.
Sông Ðồng Nai Bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực
lớn, khoảng 45.000 km². Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³
nước, sông Đồng Nai trở thành một trong hai nguồn nước ngọt chính của thành phố.
Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản – Bình Phước, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành
phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Sông Sài

thường bị khô kiệt vào cuối mùa khô, giảm khả năng tự làm sạch của các dòng sông nhưng vào
mùa mưa thường xảy ra lũ lụt.
Là vùng tập trung phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ và đô thị hoá mạnh nhất trong số
các vùng kinh tế lớn của Việt Nam mà trọng tâm là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (bao gồm
thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu).
Lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai có hình nan quạt kéo dài từ cuối sườn Tây của dãy Trường
Sơn thuộc Nam Trung Bộ, qua hết vùng Đông Nam Bộ đến giáp vùng Đồng Tháp Mười thuộc
Đồng bằng sông Cửu Long. Dòng chính sông Đồng Nai phân bố theo trục Đông Bắc - Tây Nam
và các nhánh sông lớn quan trọng cùng đổ nước vào dòng chính là sông La Ngà (nằm bên trái
dòng chính theo hướng từ thượng nguồn ra cửa sông), sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ
(nằm bên phải). Toàn bộ hệ thống các sông suối trong lưu vực tập trung về các cửa chính là Gành
Rái và Soài Rạp. Điều kiện địa hình cũng hình thành nên các lưu vực sông ven biển khá độc lập.

Hình 2.2 Hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai
Một Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai (Ủy ban sông Đồng Nai) đã
được thành lập theo Quyết định số 157 ngày 1-12 - 2008 của Thủ tướng Chính phủ, mà nhiệm vụ,
quyền hạn của ủy ban này là điều phối, giải quyết các vấn đề mang tính liên ngành, liên vùng
Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 14



Là vùng mức đô thị hóa cao nhất nước, số lao động trong doanh nghiệp 2,3 triệu người (39,92%).
Mức độ đô thị hóa đạt 53,1%. Riêng 4 tỉnh công nghiệp (Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu, TP.
Hồ Chí Minh) đạt tới 64,7%.
Tình hình khai thác tài nguyên nước (TNN) lưu vực sông Đồng Nai (LVSĐN) phát triển với tốc
độ nhanh mà 2 ngành sử dụng TNN nhiều nhất là thủy điện và thủy lợi đã đạt đến mức định hình
Hiện nay có 7 nhà máy thủy điện đã vận hành với công suất 1300MW và đạt sản lượng 5.500
GWH (54,5% tiềm năng) và đến năm 2010 căn bản hoàn thành bậc thang sông Đồng Nai với 12
nhà máy thủy điện đạt công suất 2150 MW và 8.500 GWH (86% tiềm năng). Tạo dung tích điều
tiết 6,3 tỷ m3 nước, trong đó chuyển gần 1 tỷ m3 nước ra ngoài lưu vực sang vùng khô hạn ven
biển Bình Thuận, Ninh Thuận.
Về tưới đạt 250 ngàn ha. Hồ Dầu Tiếng Tây Ninh có dung tích 1,5 tỷ m3 nước tưới cho 70 ngàn
ha, các hồ chứa lớn và vừa theo quy hoạch căn bản đã được xây dựng, các cánh đồng lớn đều
được tưới.
Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 15


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

Cấp nước sinh hoạt đô thị và công nghiệp bước đầu đáp ứng được yêu cầu phát triển hiện nay,

Khan hiếm nước lại đặt trong bối cảnh vùng động lực phát triển lớn nhất cả nước, yêu cầu nước
sinh hoạt và công nghiệp ngày càng tăng nhanh, chiếm tỷ trọng dùng nước lớn.
Nông nghiệp là ngành dùng nước lớn nhất nhưng vẫn duy trì kỹ thuật lạc hậu với các biện pháp
công trình và mức tưới rất tốn kém nước. Vận hành thủy điện theo yêu cầu điện chưa tính đến
điều tiết trên toàn lưu vực để đáp ứng lại các yêu cầu khác, môi trường nước biến động mạnh
nhất là vào các giai đoạn cực trị (lũ, hạn hán).
Đặc biệt là nhận thức của cộng đồng chưa thấy hết thực trạng và nguy cơ khan hiếm nước trong
lưu vực sông, hành động và sự phối hợp của chính quyền địa phương còn phụ thuộc, chưua có bộ
máy đủ hiệu lực để quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông quan trọng này.
Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 16


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

Vấn đề Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (QLTHTNN) lưu vực sông Đồng Nai đã trở nên cấp
bách, khẳng định rằng thành quả đã đạt được về thủy điện và thủy lợi trên lưu vực sông Đồng Nai
là cơ hội để đẩy tới QLTHTNN lưu vực sông mặc dù còn có nhiều trở ngại, tạo tiền đề cho các
yêu cầu dùng nước khác phát triển lưu vực sông để tối ưu hóa đảm bảo hợp lý các lợi ích và công
bằng xã hội, bảo vệ tính bền vững các hệ sinh thái thiết yếu.

Tiếng; Xây dựng kênh chính và các kênh cấp 1, 2, 3 để tưới cho các khu tưới Tân Biên, Đức Hòa;
xây dựng các công trình phục vụ quản lý vận hành để thực hiện các nhiệm vụ:
- Cấp 38,0 m3/s nước thô cho nhu cầu công nghiệp và dân sinh, gồm cấp cho Bình Dương
15,0 m3/s, Bình Phước 5,0 m3/s, Long An 4,0 m3/s và cấp bổ sung cho Tây Ninh 3,5 m 3/s,
Thành phố Hồ Chí Minh 10,5m3/s;
Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 17


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

- Tưới cho 29.980 ha đất nông nghiệp mới mở (khu tưới Tân Biên 11.520 ha, khu tưới Đức
Hoà 17.560 ha, khu tưới Thái Mỹ huyện Củ Chi 900 ha);
- Cấp nước cho nhu cầu tưới của Bình Dương 1.950 ha, cho 7.064 ha khu tưới mở rộng (dự
kiến) của Tây Ninh và cấp hỗ trợ để tưới cho 21.000 ha thiếu nước của khu tưới Dầu
Tiếng cũ;
- Xả cho hạ du sông Bé tối thiểu 14m 3/s, sông Sài Gòn tối thiểu 16,1 m3/s, góp phần đẩy
mặn, hỗ trợ tạo nguồn tưới cho 28.800 ha ven sông Sài Gòn và 32.317 ha ven sông Vàm
Cỏ Đông.
- Cải thiện môi trường và chất lượng nguồn nước vùng hạ du 2 sông Sài Gòn và Vàm Cỏ

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 18


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

Tại Quận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào, thường
được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng.
Hiện nay, tổng trữ lượng khai thác nước ngầm của thành phố đạt trên 2,5 triệu m3/ngày. trữ
lượng khai thác an toàn là 800.000 m3/ngày.
Để bảo vệ tầng nước ngầm và tránh sụt lún nền đất thì theo quy hoạch thành phố sẽ không cấp
phép cho khai thác nước ngầm từ năm 2015 và tới năm 2025, tất cả các giếng khoan khai thác
nước ngầm của các khu công nghiệp và kể cả của các hộ gia đình sẽ phải ngưng hoại động. Trên
địa bàn thành phố chỉ khai thác nước ngầm cho sinh hoạt với công tổng cộng 100.000 m3/ng.đ tại
ba nhà máy: Nhà máy nước Tân Bình 75.000 m3/ng.đ, Nhà máy nước Gò Vấp 10.000 m3/ng.đ,
Nhà máy nước Bình Hưng 15.000 m3/ng.đ.
Theo thống kê của Sở Tài nguyên & Môi trường (TNMT) TPHCM, hiện nay trong 10 năm qua,
số giếng khoan không ngừng tăng. (Nguồn Sở Tài nguyên & Môi trường TPHCM).
Tính đến cuối năm 2010, số giếng khoan tại TPHCM đã tăng gần 7 lần so với năm 2000
với tổng lưu lượng khai thác lên tới 550.000 - 600.000 m3/ngày, trong đó lưu lượng khai
thác được cấp phép chỉ chiếm khoảng 320.000 m3/ngày.
Theo các chuyên gia Sở TNMT, tuy lưu lượng khai thác hiện nay vẫn nằm trong giới hạn

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 19


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

Kết quả nghiên cứu về chất lượng nước ngầm ở TP HCM của Đại học Quốc gia thành phố cho
thấy: hàm lượng arsen ở khu vực Bình Mỹ (huyện Củ Chi) và một vài khu vực khác khá cao, với
tỉ lệ 30,74 – 43,1ppb (mức cho phép là 10ppb). Ngoài ra cũng tại khu vực Bình Mỹ (Củ Chi), bãi
rác Đông Thạnh nguồn nước ngầm cũng bị nhiễm chì ở nồng độ cao.
Một nghiên cứu khác của Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên TP HCM phát hiện thành phần
hóa học của nước ngầm ở một số điểm ngẫu nhiên được lấy mẫu vượt quá tiêu chuẩn nước ăn
uống, sinh hoạt theo quy định của nước ta. Hầu hết các giếng đều bị ô nhiễm vi sinh trầm trọng
như khu vực nghĩa trang Phú Thọ, bãi rác Đông Thạnh, khu dân cư Tân Thới Hiệp (Hóc Môn).
Những cuộc khảo sát độc lập của Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn
TPHCM cũng cho thấy, nước ngầm tại nhiều nơi ở các quận 9, Thủ Đức, Hóc Môn, Củ Chi, Nhà
Bè, Bình Chánh đã bị nhiễm vi sinh nặng nề.
Kết quả thu được từ các cuộc thăm dò, khảo sát vừa được Sở TN-MT tiến hành cho thấy chất
lượng nước ngầm, chính xác là nước ở tầng nước ngầm thứ hai trên địa bàn thành phố đã có biểu
hiện suy giảm đáng ngại. Tại nhiều vị trí khảo sát, hàm lượng nitơ (NO 3- ) hiện diện ở mức cao
đột ngột, đặc biệt nước ngầm ở các khu vực các quận 9, 10, 11, 12, các quận Gò Vấp, Thủ Đức,
Tân Bình, Bình Tân, Bình Phú… Trong số này, mức độ suy giảm nước ngầm khu vực quận Gò
Vấp hàm lượng amoniac là 9,5mg/l (tiêu chuẩn phải nhỏ hơn 1,5mg/l), các chất hữu cơ, nitrat
xuất hiện ngày càng nhiều ở khu vực gần bãi rác, nghĩa địa.
Các nguyên tố vi lượng trong nước ngầm ở một số khu vực vượt chuẩn cho phép như: có hàm
lượng Mn (mangan) lên đến 9,84mg/l (hàm lượng tiêu chuẩn 0,5mg/l), Hàm lượng Nitơ (Ni)

Trang 20


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

nhân dân, các doanh nghiệp khai thác sử dụng nước ngầm biết cách thu gom lưu trữ, sử dụng
nước mưa cho mục đích sinh hoạt sản xuất của mình và dùng các giếng khoan hiện có để bổ sung
nước mưa trong mùa mưa cho trữ lượng nguồn nước ngầm.
2.2.4 - Tài nguyên nước lợ (Nước thủy triểu):
Thành Phố Hồ Chí Minh có địa hình tương đối thấp. Vùng cao nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và
một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét. Vùng trũng nằm ở phía Nam - Tây Nam và Ðông
Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét.
Đồng thời Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủy
triều thâm nhập sâu vào trong đất liền. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường
thủy nội địa và các vùng lân cận và xây dựng các bến cảng nằm sâu trong nội địa, cũng như góp
phần pha loãng và tự làm sạch một phần lớn nước thải trên các Sông Rạch nội thành. Ngược lại
đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu
vực nội thành cũng như làm mất an toàn các điểm lấy nước của nhà máy cấp nước.
Theo thông tin số liệu quan trắc trong các năm gần đây, do biến đổi khí hậu, mùa khô khi lượng
nước trên sông Sài Gòn ở thượng lưu chảy về ít thì mặn đã sâm nhập lên tới khu vực Hóc Môn,
nơi có nhà máy nước Tân Hiệp công suất giai đoạn I: 300.000 m3/ng.đ . (Ngày 21-3, lãnh đạo
Nhà máy nước Tân Hiệp cho biết trong mấy ngày qua, độ mặn tại khu vực lấy nước thô trên sông
Sài Gòn diễn biến phức tạp. Đã có lúc, độ mặn vượt ngưỡng 250mg/lít nên nhà máy buộc phải
ngưng lấy nước, chuyển sang sử dụng nguồn nước dự trữ. Để cứu nguy cho nhà máy, hồ Dầu
Tiếng đã xả nước xuống sông Sài Gòn, nhằm đẩy mặn ra khỏi khu vực lấy nước – Nguồn báo
tuổi trẻ ngày 22.03.2011).
Việc xâm nhập mặn cũng dẫn tới trong quy hoặch cấp nước của thành phố tới năm 2025 phải
nghiên cứu sử dụng nguồn nước trực tiếp từ các hồ Dầu Tiếng, Trị An, Phước Hoà đáp ứng yêu
cầu sản xuất và cấp nước an toàn, hiệu quả cho thành phố. Các dự án ưu tiên về nguồn nước thô

Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

2025, thành phố sẽ hoàn tất xây dựng 12 nhà máy xử lý nước thải với quy mô công suất xử lý đạt
2.930.000 m3/ng.đ (Đây là một nguồn nước rất lớn mà có thể khai thác tái sử dụng tại chỗ, không
tốn kém nhiều chi phí xây dựng tuyến ống chuyển tải và năng lượng vận chuyển).
Bảng 2.2: QUY HOẠCH XÂY DỰNG NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI ĐẾN 2025
(Theo QĐ số 24/QĐ-TTg ngày 06/01/2010)
Stt

LƯU VỰC

1

Lưu vực 1 (Tàu Hủ Bến Nghé – Đôi – Tẻ)

2

Lưu vực 2 (Tây Sài
Gòn)

3

Địa bàn QuậnHuyện

HT thu gom

C/s NMáy
(m3/n.đ)

Vị trí nhà máy


300.000

Xã Tân Nhựt,
H.Bình Chánh

4

Lưu vực 4 (Nam Sài
Gòn)

Quận 7, Nhà Bè

Cống riêng

200.000

Xã Phước Kiển,
Nhà Bè

5

Lưu vực 5 (Đông Sài
Gòn)

Quận 2, Thủ Thiêm

Cống riêng

350.000


8

Lưu vực 8 (Tham
Lương Bến Cát)

250.000

P. An Phú Đông,
Quận 12

12, Bình Thạnh, Gò Cống chung và
Vấp
riêng

9

1,3,10,Bình Thạnh,
Lưu vực 9 (Nhiêu Lộc
Gò Vấp, P. Nhuận,
– Thị Nghè)
TBình

Cống chung

500.000

Xã Nhơn Đức,
Huyện Nhà Bè


Củ Chi, Hóc Môn

Cống riêng

130.000

Cạnh Kênh Xáng

2.3 Các thách thức chủ yếu trong quản lý tài nguyên nước tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 22


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

Như các số liệu về tài nguyên nước phần trên chúng ta nhận thấy rằng hiện nay Thành phố Hồ
Chí Minh đang khai thác hai nguồn nước: Nước mặt (nước ngọt) và nước ngầm cho các nhu cầu
sinh hoạt, sản xuất, chăn nuôi và tưới tiêu nông nghiệp. Nguồn nước mặt trong đó bao gồm cả
nước lợ thì phục vụ cho giao thông thủy, du lịch, nuôi trồng thủy sản…

quản lý về chất lượng nước ngầm càng khó khăn đối với công tác quản lý nhà nước.
Việc khai thác nước ngầm với lưu lượng lớn, mà việc bổ cập nguồn nước không kịp do bê tông
hóa mặt phủ, thành phố không có các hồ chứa nước mưa để lưu trữ bổ cập cho nước ngầm, dẫn
tới nền đất sẽ bị sụt lún. Trước đây vùng trũng nằm ở phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành
phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét bao gồm các quận 2, quận 7,
huyện nhà bè, cần giờ là khu vực lưu trữ thoát nước mưa và thủy triều dâng, hiện nay do áp lực
về quỹ đất cho đô thị hóa, các khu vực này đã hình thành lên các đô thị và không còn là nơi tiêu
thoát lưu trữ nước của thành phố. Thời điểm hiện tại, đỉnh triều cường khi cao nhất đã lên tới
1,55 mét, với diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu dự đoán đến cuối thế kỷ 21 thủy triều có thể
Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 23


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

dâng cao thêm 0,75 mét, việc này kết hợp với khai thác nước ngầm làm cho nền đất sụt lún thì sẽ
trở thành thảm họa với thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai. Vấn đề này trở thành một thách
thức rất lớn đối với việc quản lý đô thị của thành phố Hồ Chí Minh.
Nhận thức được nguy cơ của việc khai thác nước ngầm tùy tiện trên địa bàn, UBND TPHCM đã
ban hành Quyết định số 69/2007/QĐ-UBND quy định khá chi tiết về việc hạn chế và tiến tới cấm

Đề án Bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai đã được phê duyệt theo quyết định
187/2007/QĐ-TTg ngày 03-12-2007. Ủy ban này bao gồm các ủy viên là Lãnh đạo UBND của
12 tỉnh thành (là chủ tịch luân phiên 2 năm/nhiệm kỳ; nhiệm kỳ đầu tiên 3 năm) và các Bộ ngành
liên quan.
Việc quản lý tài nguyên nước trên hai lưu vực của dòng sông trở thành một thách thức liên vùng:

Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 24


Trường Đại Học Xây Dựng – Khoa Sau Đại Học
Môn học: Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Nước

Thách thức về quyền lợi và nhu cầu dùng nước cho các ngành nghề, của tầng tỉnh thành
tăng cao: Thủy điện, thủy lợi tưới tiêu, nước cho nuôi trồng thủy sản, nước cho hệ sinh
thái…
Thách thức về môi trường do phát triển đô thị, công nghiệp, tưới tiêu, sản xuất nông
nghiệp, khai thác khoáng sản bouxit trên cao nguyên ở Lâm Đồng, Đắc Nông… mà việc xử
lý về môi trường không đáp ứng được.
Thách thức về vấn đề kinh tế do phải tạo ra các vùng rừng hệ sinh thái đầu nguồn lưu vực
để dự trữ nước vào mùa mưa và bổ sung cho các dòng sông, các hồ chứa vào mùa khô.

: TS. Trần Thị Việt Nga

Học viên thực hiện

: Phạm Đăng Khôi

Lớp 11CT001 Cao học Ngành Cấp Thoát Nước

Trang 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status