Đề cương ôn thi môn lý luận văn hóa học có đáp án - Pdf 33

1

Câu 1: Các giai đoạn hình thành văn hóa học và tình hình phát triển văn hóa học hiện
nay?
*Các giai đoạn hình thành văn hóa học:
Giai đoạn
Thời gian
Không gian
Tiền khoa Từ trCN đến Phương Đông
học
giữa TK XIX và
Phương
Tây
I
Từ giữa TK Châu Âu (đặc
XIX đến đầu biệt là Đức)
TK XX

II

III

Từ
đầu
những năm
1980 của TK
XX
Từ
những
năm 90 của
TK XX đến

văn hóa, Khoa văn hóa so sánh, khoa Văn hóa học và giao tiếp xuyên văn hóa…)
+ Bộ môn Văn hoá học (Department of Cultural Studies): Cực kỳ phong phú và đa dạng
(Còn có các tên là Bộ môn văn hoá so sánh; Bộ môn văn hoá học và truyền thông; Bộ môn
văn hoá học và lịch sử nghệ thuật…)
+ Ngoài ra còn có các hội văn hóa (học)
-Ở Việt Nam:
+ Tình hình nghiên cứu: Những nghiên cứu về văn hoá ở Việt Nam đã xuất hiện từ lâu
với những công trình như “Dư địa chí” (tk.15) của Nguyễn Trãi, “Ô châu cận lục” (tk.16) của
Dương Văn An…Song thực sự mang tính văn hoá học lý luận thì phải đợi những ảnh hưởng
của khoa học phương Tây. Và công trình đầu tiên theo hướng này là “Việt Nam văn hoá sử
cương” của Đào Duy Anh xuất bản năm 1938. Sau năm 1975, hàng loạt công trình nghiên cứu
quan trọng về văn hóa đã lần lượt ra đời. Sách về văn hoá thế giới đã được dịch và biên soạn
khá nhiều. Các tạp chí Văn hoá - nghệ thuật, Văn hoá dân gian... từ lâu đã là cơ quan ngôn


2

luận thường trực về các vấn đề văn hoá và văn hoá học ở Việt Nam. Hàng loạt sách nghiên
cứu, giáo trình và sách công cụ (như từ điển) về văn hoá học của nước ngoài đã được dịch và
xuất bản.
+ Tình hình đào tạo: Năm 1990, lần đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra chương
trình đào tạo môn Cơ sở văn hóa Việt Nam dành cho sinh viên các ngành ngoại ngữ do Trần
Ngọc Thêm biên soạn. Năm 1991 ra đời bản Cơ sở văn hóa Việt Nam đầu tiên của Trần Ngọc
Thêm (2 tập, Trường đại học ngoại ngữ Hà Nội, 1991, lưu hành nội bộ). Từ đó đến nay, liên
tiếp xuất hiện hàng loạt sách giáo trình về Cơ sở văn hóa Việt Nam của các tác giả khác: Trần
Quốc Vượng (chủ biên) năm 1996, Chu Xuân Diên năm 1998... Những bài giảng về văn hoá
học của Đoàn Văn Chúc, Hoàng Vinh... đã từng đọc trước đó ở Trường Đại học Văn hoá Hà
Nội cũng lần lượt được ra mắt. Giáo trình về lịch sử văn hoá Việt Nam cũng có thêm một số
cuốn. Giáo trình về văn hoá thế giới khá nhiều. Tuy nhiên, việc đào tạo văn hoá học với tư
cách là một chuyên ngành thì triển khai hết sức chậm chạp.

+ Định nghĩa NÊU ĐẶC TRƯNG thì có thể gặp ba khuynh hướng lớn:
 Khuynh hướng thứ nhất coi văn hóa là những SẢN PHẨM nhất định. Đó có thể là
những giá trị, những truyền thống, những nếp sống, những chuẩn mực, những tư
tưởng, những thiết chế xã hội, những biểu trưng, ký hiệu, những thông tin… mà một
cộng đồng đã kế thừa, sáng tạo, và tích luỹ.
 Khuynh hướng thứ hai xem văn hóa như những QUÁ TRÌNH. Đó có thể là những
hoạt động sáng tạo, những công nghệ, những quy trình, những phương thức tồn tại,
sinh sống và phát triển, cách thức thích ứng với môi trường, phương thức ứng xử
của con người…
 Khuynh hướng thứ ba xem văn hóa như những QUAN HỆ, những CẤU TRÚC…
giữa các giá trị, giữa con người với đồng loại và muôn loài.
+ Ưu: Tính khái quát cao, ngắn gọn, luôn phù hợp với đối tượng thay đổi.
+ Nhược: Tính chính xác kém. Kiểu định nghĩa này thích hợp với những đối tượng
phức tạp và không ổn định
*Định nghĩa Trần Ngọc Thêm:
- Định nghĩa 1: Văn hoá là một hệ thống hữu cơ của các giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi
trường tự nhiên và xã hội của mình.
- Định nghĩa 2: Văn hóa là một hệ thống biểu tượng do con người sáng tạo và tích luỹ
qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của
mình.
- Định nghĩa 3 (chính, tổng quát): Văn hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng
do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi
trường tự nhiên và xã hội của mình.
*Ý nghĩa của định nghĩa văn hóa:
Văn hóa là một khái niệm phức tạp, lại không hoàn toàn ổn định. Vì thế, nên dùng định
nghĩa nêu đặc trưng. Yêu cầu: ngắn gọn và phân biệt được khái niệm đang định nghĩa với các
khái niệm liên quan. Đây chính là định nghĩa để làm việc.
Câu 3: Văn hoá như một hệ giá trị và như một hệ biểu tượng?
*Văn hoá như một hệ giá trị:

người vào thì sẽ được nhận thức khác đi (được biểu trưng hoá) và trở thành một giá trị văn
hoá.
Nhờ có mối liên hệ với cái được biểu hiện và cùng với nó mà cái biểu hiện trởthành
biểu tượng. Nhờ có mối liên hệ với ý nghĩa và cùng với nó mà một sự vật trở thành giá trị văn
hóa. Mọi giá trị do con người sáng tạo ra đều là kết quả của những lựa chọn mang tính biểu
trưng và đều là những biểu tượng.
Ví dụ: + Hoa Anh Đào -> Quốc hoa Nhật -> Biểu tượng phẩm chất người Nhật là
tính tập thể.
+ Trái tim, bông hồng đỏ…-> Biểu tượng tình yêu
Mọi biểu tượng do con người sáng tạo ra đều là kết quả của việc định giá thông qua lựa
chọn và đều là những giá trị.
VH là 1 hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo và tích lũy qua
quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và XH của mình.
Tóm lại:“Biểu tượng” và “giá trị” thực chất là hai khái niệm tương đồng, chúng
thểhiện cùng một đối tượng từ hai góc độ khác nhau. Khi dùng khái niệm “biểu tượng” là ta
muốn chỉ ra phương thức cấu tạo của đơn vị văn hóa; còn khi dùng khái niệm “giá trị” là ta
muốn nói đến tính sản phẩm của đơn vị văn hóa đó.


5

Khi dùng khái niệm biểu tượng là ta muốn chỉ ra phương thức cấu tạo và sử dụng của đơn
vị văn hóa. Còn khi dùng khái niệm giá trị là ta muốn nói đến tính sản phẩm của đơn vị văn
hóa đó.
Câu 4: Mối quan hệ giữa văn hóa với tự nhiên và vấn đề tính văn hóa của các hiện tượng
tự nhiên?
Văn hóa là sản phẩm của con người. Con người, chất con người – đúng hơn là chất hoạt
động của con người (= tính nhân sinh) – là đặc trưng cho phép phân biệt văn hoá với tự nhiên.
TỰ NHIÊN là cái có trước, tự nhiên quy định văn hóa. Không có tự nhiên thì sẽ không
có văn hóa vì 3 điều.Thứ nhất, tự nhiên tạo nên con người; con người tạo nên văn hóa; văn hóa

Tính nhân sinh gán cho sự vật (hiện tượng) những giá trị nằm ngoài bản thân chúng, tạo
nên biểu trưng. Tính nhân sinh, thông qua tính biểu trưng, là một đặc trưng định tính cho
phép nhận biết giá trị văn hoá của một sự vật (hiện tượng).
Mặt khác, không phải cứ có tính nhân sinh là đã đủ để xếp một sự vật / hiện tượng vào
văn hoá. Nhiều thứ thoạt nhìn cứ tưởng là văn hóa, nhưng xét kỹ thì vẫn chỉ là tự nhiên. Ví
dụ, vịnh Hạ Long và hòn Vọng Phu đều được con người gán cho một truyền thuyết, đặt cho
một tên gọi. Nhưng nếu so sánh mức độ tỷ lệ giữa “chất con người” và “chất tự nhiên” trong
mỗi đối tượng thì sẽ thấy chúng khác nhau. Nếu tính nhân sinh hơn 50 % (>50%)  văn hóa.
Ngược lại: Nếu tính nhân sinh nhỏ 50 % (
thể
10 vạn Trung
Người khôn ngoan: Sống
năm
kỳ
Châu
Phi, thành tập thể, biết dựng lều ở,
trước
thời
châu Á, châu hình thành ngôn ngữ với lời
đồ đá Âu
nói chia thành âm tiết, biết
cũ
chôn người chết có đồ tùy
táng kèm theo
4
vạn Hậu
Người khôn ngoan hiện đại:
năm
kỳ
Tạo nên các bức vẽ hang
trước
thời
động, các pho tượng đất sét
đồ đá
cũ
1
vạn Đồ đá
Xuất hiện nghề trồng trọt lúa
năm

năm trCN), sông Hoàng Hà
(2000 năm trCN)

Hình thành xã
hội. Xuất hiện
ngôn ngữ, tín
ngưỡng
Giá
trị
tinh
Xuất hiện nghệ thần
thuật

thành
VĂN
HÓA

Xuất hiện trồng
trọt và chăn
nuôi
Hình thành
những
Xuất hiện đô thị thành tựu
quan trọng
của VĂN
Xuất hiện văn tự MINH, văn
hóa được
hoàn thiện
Xuất hiện các
nền văn minh cổ

Tự nhiên + yếu tố con người
Văn minh + yếu tố thời gian
Phi VH + q.hệ với tọa độ gốc
Tập hợp giá trị + quan hệ với nhau

= VĂN HÓA

- Các loại văn hóa:
+ Văn hóa xét theo chủ thể (Cá nhân ->Tổ chức ->Tộc người ->Dân tộc ->Quốc gia ->Khu vực
->Nhân loại)
+ Văn hóa xét theo không gian, thời gian, đối tượng (không gian -> biến thể không gian, thời
gian -> biến thể thời gian, đối tượng -> thành tố văn hóa)
Câu 8: Thế nào là Văn hoá học và Nghiên cứu văn hoá? Khu biệt văn hóa học với các
khoa học có liên quan?
NGHIÊN CỨU VĂN HÓA là tập hợp tất cả các nghiên cứu liên quan đến văn hóa
trong mọi ngành khoa học.
VĂN HÓA HỌC là một ngành khoa học nhân văn giáp ranh với khoa học xã hội, có đối
tượng nghiên cứu là văn hóa với tư cách một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng, bằng hệ
phương pháp lý luận định tính mang tính liên ngành với độ bao quát rộng các sự kiện và tính
khái quát cao trong yêu cầu khảo cứu.
*Khu biệt với các khoa học liên quan:
- Với nhân loại học và xã hội học:
Tiêu chí
Đối tượng
Mục tiêu

Văn hóa học
Văn hóa
Văn hóa là mục đích


VH như 1 đối tượng khách quan là có ngoại diện rộng, nó bao trùm lên cả văn chương,
nghệ thuật, xã hội, tư tưởng, tôn giáo…
Nhưng VHH như 1 khoa học thì hoàn toàn không trùm và không thể trùm lên bất cứ 1
ngành khoa học nào.
VHH xem xét các hiện tượng này trong tính tổng thể mà không đi sâu vào chi tiết (giống
như khu vực học).
Câu 9:Vị trí của văn hóa học và nhận diện văn hoá học?
* Vị trí của văn hóa học
Văn hoá học là một khoa học chuyên ngành đặc biệt. Cái đặc biệt là ở độ bao quát rộng
các sự kiện và tính khái quát cao trong yêu cầu khảo cứu. Trong số các khoa học chuyên
ngành, có ba ngành có tính cách đặc biệt như thế - đó là toán học, văn hoá học và triết học. Cả
ba đều là những khoa học lý thuyết, chúng không đòi hỏi tư liệu thực nghiệm, điều tra, điền
dã..., nhưng đều đòi hỏi phải tổng hợp và khái quát hoá ở mức cao. Cả ba đều liên quan đến
nhiều khoa học.
Toán học là sự tổng hợp và khái quát hoá cả thế giới tự nhiên lẫn con người về mặt định
lượng. Xét về nội dung, toán học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên; xét về đối tượng, toán học
liên quan đến mọi ngành khoa học.
Văn hóa học là sự tổng hợp và khái quát hoá thế giới con người về mặt định tính. Nó
đối lập rõ rệt với các khoa học tự nhiên. Xét về đối tượng, văn hoá học liên quan đến mọi
ngành khoa học xã hội và nhân văn; xét về nội dung, văn hoá học thuộc lĩnh vực khoa học
nhân văn giáp ranh với khoa học xã hội.Văn hóa có thể là sản phẩm của một cá nhân, nhưng
thường là sản phẩm của một tộc người, một dân tộc – dưới góc độ này, nó là một khoa học xã
hội.
Triết học là sự tổng hợp và khái quát hoá cả thế giới tự nhiên lẫn con người về mặt định
tính và định lượng. Với thế giới con người, triết học vừa có quan hệ trực tiếp, vừa gián tiếp
thông qua văn hóa học. Xét về nội dung, triết học thuộc lĩnh vực khoa học nhân văn; xét về đối
tượng, triết học liên quan đến mọi ngành khoa học – không phải ngẫu nhiên mà trong lịch sử


10

nhu cầu văn hoá tinh hoa là những nhu cầu văn hoá tương đối. Như vậy, hai cặp đối lập “nhu
cầu văn hoá tuyệt đối / tương đối” và “nhu cầu văn hoá tinh hoa / đời thường” không trùng
nhau hoàn toàn.
*Chức năng của văn hoá
- Chức năng tổ chức xã hội (cơ sở là tính hệ thống)
- Chức năng điều chỉnh xã hội (tính giá trị)
- Chức năng giao tiếp (tính nhân sinh)
- Chức năng giáo dục (tính lịch sử)


11

->Bốn chức năng cơ bản hình thành chức năng đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội.
Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu và động lực phát triển xã hội
xuyên suốt thời gian và không gian.
Câu 11:Về bản sắc văn hoá?
“Bản sắc” là những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, lâu bền, được biểu hiện ra ngoài. Nếu
văn minh chỉ ra trình độ phát triển của một xã hội, thì bản sắc văn hóa chỉ ra độ ổn định của
một dân tộc: đó là những giá trị tồn tại lâu bền hơn cả ởmột nền văn hoá.
Nhưng thực ra bản sắc văn hóa không nằm ở các giá trị vật chất. Các công trình vật chất
luôn thể hiện cái tinh thần (các Pharaông, tôn giáo,…). Cái tinh thần được vật chất hóa mới trở
thành sức mạnh. Bản sắc văn hoá là cái ổn định, tĩnh tại trong một khoảng thời gian dài.
Cùng với thời gian thì vật chất sẽ bị huỷ hoại, cho nên cái vật chất chỉ ổn định trong
thời gian tồn tại của chất liệu tạo nên vật thể ấy mà thôi. Còn cái tinh thần nào đã tồn tại được
với thời gian thì sẽ mang tính ổn định rất cao, khó mà thay đổi được (vd, tính cách dân tộc thì
vô cùng bền vững).
Như vậy, có thể diễn đạt một cách ngắn gọn là “vật chất thì tĩnh ngắn động dài, còn
tinh thần thì động ngắn tĩnh dài”.
 Có thể định nghĩa bản sắc văn hóa (cultural identity) của một dân tộc là một hệ thống
các giá trị tinh thần ổn định tồn tại tương đối lâu bền hơn cả trong truyền thống văn

Văn hóa vật chất thường được xem là bao gồm những sản phẩm do họat động sản xuất vật
chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh họat hàng ngày, công cụ sản
xuất, phương tiện đi lại…
Văn hóa tinh thần thường được xem là bao gồm tòan bộ những sản phẩm do họat động sản
xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng – tôn giáo, nghệ thuật, phong tục, lễ
hội, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương…
Câu 13: Các biến thể của cấu trúc văn hóa hai thành phần?
a. Văn hóa vật chất – tinh thần – xã hội: Từ những khó khăn trong việc xếp các giá
trị vào lưỡng phân “ VHVC- VHTT” một số nhà nghiên cứu bổ sung thêm thành tố thứ ba.
- Lê Văn Lan:
+ Văn hóa vật chất :cư trú, trang phục, ăn uống, đồ dùng
+ Văn hóa tinh thần: mỹ thuật, âm nhạc, múa, truyện kể, hội lễ và tín ngưỡng
+ Văn hóa xã hội: hôn nhân, tang ma và một số phong tục khác
- Chu Xuân Diên:
+ Văn hóa vật chất: nghề nông, ăn, mặc, ở, đi lại
+ Văn hóa tinh thần: tôn giáo – tín ngưỡng và nghi lễ phong tục, ngôn ngữ và văn học nghệ
thuật, tư tưởng và học thuật
+ Văn hóa xã hội: gia đình – gia tộc, làng xã, quốc gia, đô thị
b. Văn hóa vật chất – tinh thần – nghệ thuật:
- M.S. Kagan:
+ Văn hóa vật chất : cơ thể con người, đồ vật kĩ thuật, tổ chức xã hội
+ Văn hóa tinh thần: tri thức, giá trị, đề án
+ Văn hóa nghệ thuật: hình tượng nghệ thuật
c. Văn hóa vật chất – tinh thần – thể chất: Yu.V.Rozhdestvenski
d. Văn hóa vật thể - phi vật thể - tâm linh: Nguyễn Tri Nguyên
Câu 14: Cấu trúc văn hóa ba thành phần xét theo hoạt động và theo hệ toạ độ?
• Xét theo hoạt động:
- Dưới góc độ hoạt động, các giá trị văn hóa chia làm 3 loại là văn hóa nhận thức, văn hóa
tổ chức và văn hóa ứng xử với môi trường:


Có thể xem xét qua bảng tổng hợp:
CẤU TRÚC VĂN HÓA THEO TỌA ĐỘ BA CHIỀU

Văn hóa nhìn từ chủ thể

CẤU TRÚC VĂN HÓA

Văn hóa nhìn từ dân tộc

Văn hóa nhìn từ xã hội

Văn hóa nhìn từ con người

VH nhận thức cảm tính (tín
ngưỡng , tôn giáo, tri thức dân
gian, tri thức đạo học)
VH nhận thức lý tính ( khoa
học kĩ thuật truyền thống)
Tính cách dân tộc
Văn hóa giao tiếp
Văn hóa tổ chức (nông thôn,
quốc gia, đô thị…)
Văn hóa nghệ thuật
Văn hóa thể chất
Văn hóa giới


14
Văn hóa nhìn trong không
gian

nơi khác bằng cách mô phỏng hoặc theo những cuộc thiên di của các dân tộc. Có lan tỏa tòan
bộ hoặc lan tỏa bộ phận; lan tỏa tiên phát (trực tiếp từ nơi phát sinh) hoặc lan tỏa thứ sinh.
Thuyết này đã bị thực dân lợi dụng để đề cao dân tộc này và khinh rẻ các dân tộc khác,
biện minh cho hành động của mình đi chiếm đất đai, cướp bóc tài nguyên.
b. Thuyết vùng văn hóa
Đầu thế kỉ XX, từ những ý kiến của F. Boas, các nhà nhân loại học Mỹ C.L.Wisler và
A.L.Koeber đã phản đối thuyết khuếch tán văn hóa và đề xuất thuyết vùng văn hóa.
Trên cơ sở nghiên cứu văn hóa của các dân tộc da đỏ Mĩ, các tác giả này đã khẳng định sự
tồn tại của nhiều dân tộc trên cùng một vùng lãnh thổ mà văn hóa của họ có những điểm
chung.
c. Thuyết loại hình kinh tế - văn hóa
Từ cách tiếp cận vùng văn hóa, C.L. Wisler và một số tác giả về sau đã lựa chọn một tập
hợp những đặc trưng, tạo nên type, hay loại hình văn hóa vùng. Trên cơ sở đó, từ những năm


15

30, trong dân tộc Xô – viết đã hình thành thuyết loại hình kinh tế - văn hóa mà đại biểu là N.N.
Cheboksarov và những người khác.
Theo đó trong lịch sử văn hóa nhân loại từng tồn tại 3 loại hình kinh tế - văn hóa:
- LH kinh tế văn hóa săn bắt, hái lượm và đánh cá
- LH kinh tế văn hóa nông nghiệp dùng cuốc và chăn nuôi
- LH kinh tế văn hóa nông nghiệp dùng cày với sức kéo động vật.
Câu 16: Từ hai vùng văn hóa đến hai loại hình văn hóa?
Theo thuyết vùng văn hoá thì các nền văn hoá gần gũi và giao lưu với nhau sẽ tạo nên
những vùng văn hoá. Và nói đến sự khác biệt văn hoá, người ta thường nhắc đến sự khác biệt
giữa 2 vùng văn hoá: phương Đông và phương Tây.
Phương Đông và phương Tây dưới góc độ văn hoá được hình thành trong khu vực cựu lục
địa Á-Âu.
+ Phương Đông = Đông Nam: khí hậu nóng ẩm, địa hình phức tạp, kinh tế chủ yếu là trồng

Phương Tây
Coi thường, tham vọng chế ngự tự
nhiên
Thiên về phân tích và yếu tố;
khách quan, lý tính và thực
nghiệm


16

thức

Chuẩn
giá trị
Tính
VH tổ chức cách
cộng đồng Cách
thức

Thiên về tinh thần, nội dung, định
tính (phúc, lộc, thọ)
Thiên về Âm: ưa ổn định, trọng tình,
trọng đức
Linh hoạt. Trọng cộng đồng, nghĩa
vụ. Trong Danh hơn Lợi
Dung hợp trong tiếp nhận. Hiếu hòa
VH ứng xử với MT trong đối phó (ưa dàn xếp, thích kín
đáo, tế nhị)
xã hội
Tiêu chí

VH ứng xử với MT Tôn trọng, ước vọng sống hòa hợp
tự nhiên
với tự nhiên
Lối tư Tổng hợp kết hợp với phân tích; trọng quan hệ kết hợp với trọng yếu tố,
cảm tính kết hợp với lý tính
VH nhận duy
thức
Chuẩn Thiên về tinh thần, nội dung, định
giá trị tính (phúc, lộc, thọ)
Tính
Âm Dương kết hợp: ổn định bên
trong và phát triển bên ngoài, trọng
VH tổ chức cách
tình kết hợp với trọng sức mạnh,
cộng đồng
trọng pháp
Tổ
Linh hoạt. Trọng cộng đồng, nghĩa Đồng thời trọng nguyên tắc
chức
vụ.
xã hội Trọng cả Danh lẫn Lợi
Dung hợp trong tiếp nhận.
Khá cứng thẳng trong đối phó
VH ứng xử với MT
xã hội


17

Tiêu chí

+ Hoạt động bài tiết : chất thải là một hành vi cần thiết, bắt buộc phải làm trong chu
trình tiêu hóa của con người. Sản phẩm của việc bài tiết lại là những chất thải mà con người
muốn lánh xa, bài tiết là hoạt động đặc biệt, là nơi gặp gỡ giữa cái buồn bực và cái sung
sướng, ranh giới giữa vô văn hóa và văn hóa rất mỏng manh. Thái độ của các nền văn hóa rất
khác nhau đối với việc bài tiết tạo nên tính dân tộc của việc bài tiết (phương Đông – chấp
nhận, phương Tây – tránh né, người Việt – rất coi trọng, một trong “tứ khoái”)
+ Phân loại bài tiết : Thể hiện sự khác biệt về dân tộc tính trong các nền văn hóa
(Người Trung Hoa chia hoạt động bài tiết thành 3 dạng chính, tiểu-trung-đại tiện riêng người
VN thì trong ba dạng bài tiết thì trung tiện là 1nhóm, còn lại là 1 nhóm. Dựa vào nhận thức 3
loại vật chất bài tiết là dạng hơi-lỏng-rắn).
+ Tư thế : Nhận thức sự khác về giới


18

+ Cách ứng xử với «sản phẩm» bài tiết : Như một tiến trình phát triển của văn minh,
qua đó thấy sự hình thành vai trò cá nhân (sự hình thành những ý thức về cái tôi như một con
người cá nhân)
- Về đối phó: Con người học cách kiềm chế và khoanh vùng giới hạn bài tiết trong
CKT, đồng thời sáng tạo ra hàng loạt các biện pháp để đối phó thể hiện cách ứng xử với bài
tiết là giá trị văn hóa quan trọng.
*Khoanh vùng giới hạn :
+ Chủ thể: Trong phạm vi cá nhân, không phiền đến người khác. Từ đó hình thành phản
ứng văn hóa: cảm giác mắc cỡ, xấu hổ khi có người phát hiện Để duy trì ứng xử văn hóa
này, con người tập kìm chế khi bài tiết.
+ Không gian: Không gian vệ sinh di động (đưa không gian vệ sinh đến với con người)
và không gian vệ sinh cố định (đưa con người đến với không gian vệ sinh). Không gian vệ
sinh cố định có không gian tự nhiên và không gian nhân tạo.
Việc sử dụng không gian vệ sinh tự nhiên (ruộng đồng, ao hồ, cầu cá, cầu trên sông,…)
là sản phẩm của văn hóa sông nước và văn hóa thực vật.

+ Phương Tây dùng cụm từ “break wind” thay thế cho từ fart (rắm).
+ Tiếng Việt dùng các từ gốc Hán Việt để tiểu tiện, trung tiện, đại tiện thay thế cho từ
thuần Việt.
+ Có những tên gọi, ám hiệu, tiếng lóng: Tiếng Anh “W.C” chỉ nhà vệ sinh thì người ta
nói “đi Washington City”, đại tiện thì người ta gọi là đi ngoài.
- Trong văn chương nghệ thuật: Lợi ích của việc trung tiện “Một cái rắm bằng nắm
thuốc tiêu, bằng liều thuốc gió, bằng lọ thuốc viên”, so sánh tình cảm trai gái “em như..”, …;
Phân giả bằng nhựa để đùa nghịch.
Câu 21: Tính giá trị và tính biểu tượng trong hoạt động bảo tồn nòi giống?
* Văn hóa BTNG và trang phục:
- Trang phục: sáng tạo giúp cho sự nghiệp BTNG của con người được nâng lên tầm cao
VH rõ rệt nhất.
- Trang phục che giấu kỹ lưỡng những chỗ quý nhất, quan trọng nhất, tốt nhất và đẹp nhất
(bộ phận sinh dục)  giá trị văn hóa khu biệt con người với động vật.
- Che giấu chỗ kín sẽ hạn chế những họat động của nó để đến khi đựơc thực hiện thì việc
đó sẽ trở nên thiêng liêng ý nghĩa và có nhiều giá trị hơn. Khi được che giấu thì sẽ kích thích
trí trò mò, tưởng tựơng và ham muốn khám phá. Tùy mỗi giới, mỗi độ tuổi mỗi đối tượng mà
sẽ có suy nghĩ và tưởng tượng khác nhau  đời sống tinh thần phong phú  họat động duy trì
nòi giống trở nên hấp dẫn và quyến rũ hơn.
- Ngoài ra giờ phút trút bỏ trang phục trước đối tượng khác giới sẽ nảy sinh ý nghĩ và hành
động tình dục  con người chủ động trong quan hệ tình dục chứ không như con vật chỉ hành
động theo bản năng và theo mùa.
- Ăn mặc hở hang và kín đạo nên xét theo hệ tọa độ KCT. Trong lịch sử nhân lọai có 2
khuynh hướng trang phục khác nhau về chỗ kín (phương Đông – kín, không nổi; phương Tây
– hở, nổi).
 Hai xu hứơng trên tuy biểu hiện trái ngược nhau nhưng đem đến hiệu quả giống nhau: có
tác dụng kịch thích trí tò mò và tưởng tượng  cách của phương Tây có hiệu quả và tác dụng
mạnh hơn.
- Cơ chế xấu hổ (mắc cỡ):nhằm làm giảm bớt sự tò mò khi chưa cần thiết về quá trình
bảo tồn nòi giống. Nếu không có cơ chế “xấu hổ”, nếu người lớn không sớm nói cho trẻ nhỏ

qua con đường thị giác  phát triển truyền thống hội họa điêu khắc miêu tả cái đẹp cơ thể và
các hành vì tình dục của con người. Phương Đông thiên về tinh thần nên chú trọng hơn đến
khoái cảm thính giác và giáo dục tình dục qua con đường thính giác-> vô số chuyện tiếu lâm
bàn về tình dục, nhiều từ ngữ để chỉ việc làm tình: ăn ở, ăn nằm, chăn gối, mây mưa, tòm tèm,
mèo mỡ … )
- Ấn Độ và Trung Hoa nằm trong lọai hình văn hóa chuyển tiếp nên văn hóa tình dục ở
khu vực này có nhiều nét đặc thù riêng.
+ VHTD Ấn Độ : Một mặt rất vật chất: các tranh tượng miêu tả nhiều tư thế, hình ảnh
phồn thự, Một mặt rất tâm linh, gắn liền với tôn giáo. Phần lớn tranh tượng về các tư thế làm
tình đều thông qua hình ảnh các vị thần và đều là sở hữu linh thiêng của các đền thờ.
+ VHTD Trung Hoa gắn với sức khỏe: Mục đích sức khỏe được chủ động đưa lên vị trí
nổi trội thay cho mục đích bảo tồn nòi giống và khoái cảm. Tuy nhiên đây lại thể hiện rõ sự
cực đoan của văn hóa Trung Hoa: đạo tôn thờ tự nhiên nhưng lại ham muốn sống bất tử, dùng
lý trí đè nén cảm xúc để kiềm kinh bế tính là những hành động đi ngược quy luật tự nhiên.
*Tính biểu tượng:


21

- Qua ngôn ngữ: Sử dụng nhiều lối nói khác nhau biểu thị hoạt động BTNG
- Qua văn chương nghệ thuật: Truyện tiếu lâm, hình vẽ, tranh tượng…
Câu 22: Tính giá trị và tính biểu tượng của nước như một hiện tượng văn hoá?
*Tính giá trị:
- Về nhận thức:
+ Nước là vật chất đặc biệt tồn tại không thể thiếu trong cấu trúc của cả động và thực vật.
+ Là điều kiện đầu tiên để xác định sự tồn tại của sự sống ->không có sự sống không có
văn minh, văn hóa.
+ Nước là hiện tượng tự nhiên điển hình nhưng quan hệ mật thiết với văn hóa là hiện
tượng xã hội điển hình -> Văn hóa nước
- Tận dụng:

- Kích thích sáng tạo văn hóa (nghệ sĩ sáng tác; xuất bản, điện ảnh, du lịch… phát triển)
*Cái hại của toàn cầu hóa và văn hóa:
- Làm giảm tính đa dạng về văn hóa (bị chi phối bởi các nước tư bản phát triển và các tập
đoàn kinh tế xuyên quốc gia) và là mối đe dọa cho nghiêm trọng cho môi trường văn hóa
- Văn hóa đại chúng làm hạ chất lượng văn hóa cho phù hợp nhu cầu đại chúng (mốt hóa,
đồng loạt hóa đời sống văn hóa, bóp chết sức sáng tạo nghệ thuật. Văn hóa đại chúng (văn
hóa thương mại) không từ chối bất kỳ mặt hàng nào (bạo lực, nghiện ngập, tình dục) nhằm
mục đích thu lợi cao
- Tạo ra xã hội nhanh: cuốn hút con người vào cơn lốc kinh tế
*Tương lai của toàn cầu hóa và văn hóa:
- Từ những năm 90 trở lại đây, thế giới đang có dấu hiệu bước sang một giai đoạn mới được
gọi tên là giai đoạn kinh tế tế tri thức, hoặc văn minh hậu công nghiệp, hoặc văn hóa thông tin,
văn hóa màn hình. Sự phát triển vượt bậc của công nghiệp, máy tính sẽ giúp nối dài sức mạnh
trí tuệ, tối ưu hóa điều kiện làm việc và sống của con người trên toàn cầu.
- Sự bá quyền của các quốc gia sẽ được khống chế và khắc phục nhờ tiến trình dân chủ hóa.
- Máy tính giúp phát triển óc tưởng tượng và trí tuệ con người.
Câu 24: Giới thiệu cuốn “Văn hoá học” của Đoàn Văn Chúc
Cuốn sách gồm 177 trang, được bố cục thành 13 tiểu mục. Trong đó 11 tiểu mục đi vào
nội dung chính (từ 1 ->11) là:
1. Văn hóa học là môn học liên ngành
2. Nhu cầu và nhu cầu văn hóa
3. Biểu tượng
4. Văn hóa dân gian
5. Lễ - Tết - Hội
6. Giá thú
7. Tang
8. Trò chơi và đời sống
9. Thời kiểu
10. Trường văn hóa
11. Văn hóa và phát triển văn hóa

mối liên hệ gắn bó các nhóm lại với nhau; giải phóng xung cảm bị kìm hãm trong đời sống
đơn điệu hàng ngày, nhắc nhở sự trật tự mực thước hàng ngày); vấn đề kế thừa lễ - tết – hội
(qua kịch bản lý thuyết và một số công việc trong kế thừa); những yếu tố văn hóa “lạc hậu”
trong lễ - tết – hội cổ truyền (sự thờ phượng, sự ăn uống linh đình)
6. Giá thú: Đi sâu vào tìm hiểu các hình thức hứa giá thú (khi chỉ còn bà con xa, khi xa
nhà), nghi lễ giá thú (đính hôn, thành hôn) cùng các vấn đề liên quan như đồ lễ, tục lệ, sự tồn
tại nghi thức hôn nhân xưa trong xã hội nay.
7. Tang: Giải quyết các vấn đề liên quan từ khái niệm lễ tang, tang chế (chế độ để tang
của mỗi thành viên), các nghi thức tang lễ, một số phụ tùng trong lễ tang (nhà táng, phường
bát âm, gậy chống của con trai, bát cơm quả trứng) và 1 phần phụ lục những quan điểm đạo
đức trong tang lễ cổ truyền.
8. Trò chơi và đời sống: Chia làm 2 phần.
+ Phần 1: Nêu ý niệm (giải quyết nhu cầu giải trí với chức năng phản ánh và điều chỉnh
các quan hệ xã hội), đặc thù của trò chơi (rèn luyện trí tuệ, thể chất, là 1 phần luân lý cho sự


24

lao động con người theo phương pháp thẩm mỹ), đồ chơi (đồ dùng, vật dụng hỏng, yếu tố tự
nhiên như gió, ánh sáng,..).
+ Phần 2: Tìm hiểu sự chơi ở người lớn (phụ thuộc vào thời gian rỗi), sự chơi ở trẻ em
(phụ thuộc đồ chơi, chỗ chơi, người quản lý địa điểm chơi, kinh phí), trò chơi truyền thống và
hiện đại (biến đổi theo sự biến đổi của xã hội)
9. Thời kiểu (tạm hiểu là mốt phù hợp 1 thời điểm nào đó): Các vấn đề được phân tích
là đối tượng của thời kiểu (y phục, một số bộ phận cơ thể con người như tóc, móng tay, da…,
đồ trang sức, ngôn ngữ), phân biệt thời kiểu và kiểu lối (cách sắp xếp các hình thái biểu thị),
cội nguồn kiểu lối và nguyên nhân biến đổi (sức sản xuất và quan hệ sản xuất biến đổi),
chức năng của kiểu lối (thẩm mỹ, văn hóa, kinh tế), sự truyền bá thời kiểu (liên quan chính
trị, xã hội, văn hóa), vấn đề thời kiểu hiện nay.
C. Vấn đề văn hóa (mục 10, 11):

+ Sự phát triển cao nhất của dân tộc chí và dân tộc học
+ Kết quả giao thoa với xã hội học
+ Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc - chức năng các hiện tượng xã hội và văn hóa
với tư cách là những sự kiện xã hội tổng thể.
+ Đối tượng khảo sát: Các sự kiện xã hội và văn hóa trong các xã hội cổ truyền
bao gồm cả xã hội bán khai, cổ sơ…)
+ Phương pháp luận nghiên cứu: Xem xét các sự kiện xã hội và văn hóa ấy trong
mối tương quan với chủ thể của chúng
+ Phương pháp chủ đạo: Tham dự và tái dựng mô hình
* Các hướng nghiên cứu:
+ Văn hóa trong quá trình tiến hóa của nhân loại
+ Văn hóa trong mối quan hệ với lịch sử; xã hội;với sự hình thành và phát triển nhân
cách; với môi trường (địa lý nhân văn, sinh thái)
b. Tâm lý học:
* Các ngành của tâm lý học
+ Tâm lý học nhóm, tâm lý học xã hội trong nghiên cứu văn hóa
+ Phân tâm học trong nghiên cứu văn hóa
* Các hướng nghiên cứu:
+ Nghiên cứu các hình thái tôn giáo
+ Nghiên cứu nghệ thuật
c. Xã hội học:
* Ngành: Xã hội học văn hóa khảo cứu trên hai bình diện: Cấu trúc - chức năng xã hội
của những hình thái biều thị giá trị xã hội (tĩnh) và quá trình xã hội của hoạt động sản
xuất, phân phối, bảo quản, tiêu thụ các hình thái biểu thị xã hội ấy và mối quan hệ biện
chứng giữa các khâu với nhau (động)
* Các hướng nghiên cứu: Tôn giáo; nghệ thuật; truyền thông đại chúng; hành vi
3. Tình hình nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam:
- Tập trung làm rõ vấn đề lý luận và lịch sử văn hóa (tác giả Đào Duy Anh, Trường
Chinh, Tô Ngọc Thanh, Ngô Đức Thịnh.. với nhiều bài báo và công trình tiêu biểu như
Văn hóa học, Cơ sở văn hóa Việt Nam,…)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status