báo cáo thực tập quản trị kinh doanh tại tại công ty trách nhiệm hữu hạn hoàng thành - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là một yêu cầu bắt buộc đối với sinh viên trường Đại
học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên trước khi kết thúc quá trình học tại trường.
một mặt là yêu cầu, nhưng mặt khác đây cũng là một giai đoạn hết sức ý
nghĩa, giúp sinh viên tập làm quen với công việc thực tế.
Để chúng em có thể nắm vững kiến thức tiếp cận với thực tế nhà trường đã
tạo điều kiện cho chúng em thực tập và làm khóa luận tốt nghiệp. Ý thức
được tầm quan trọng và mong muốn được tìm hiểu sâu hơn, em đã mạnh dạn
đăng kí thực tập tại Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Hoàng Thành.
Với bản thân là một sinh viên chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, mục tiêu
quá trình thực tập của em là học hỏivà bổ sung thêm những kinh nghiệm thực
tế đồng thời được trực tiếp tìm hiểu những công việc liên quan đến chuyên
ngành đã học. Dưới sự tìm hiểu của mình, và sự đồng ý của nhà trường em đã
được thực tập tại đây. Trong quá trình thực tập, em đã được tìm hiểu về một
số nội dung về hoạt động kinh doanh chung của Công ty và công tác tổ chức
lao động cũng như quá trình tuyển chọn, quản lý nhân lực tại đơn vị .
Trong thời gian tìm hiểu hoạt động thực tế của Công ty em đã có cơ hội
trau dồi kiến thức các môn học chuyên ngành cũng như bước đầu làm quen
với việc phân tích đánh giá tình hình kinh doanh thực tiễn.
Thời gian 5 tuần đến thực tập tại Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Hoàng
Thành là một khoảng thời gian ngắn đối với một sinh viên để có thể nắm bắt
tất cả các nội dung tổng hợp và chuyên sâu về những lĩnh vực quản trị kinh
doanh ở cơ sở.Tuy nhiên, được sự giúp đỡ tạo điều kiện của Công ty, em đã
thực hiện tốt nhiệm vụ của đợt thực tập và hoàn thành “ Báo cáo thực tập tốt
nghiệp”.

1


MỤC LỤC


Phần I: Giới thiệu công tác tổ chức và quản lý của doanh nghiệp
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp
Tên công ty, hình thức, Vốn điều lệ
*Tên công ty
Công ty TNHH Hoàng Thành
-

Tên viết tắt:

-

Tên giao dịch quốc tế
*Hình thức
Công ty TNHH Hoàng Thành có tư cách pháp nhân và con dấu riêng, hạch
toán kinh tế độc lập, có tài khoản bằng tiền Việt Nam tại ngân hàng.
Công ty TNHH Hoàng Thành được tổ chức hoạt động theo Luật doanh
nghiệp do Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số
60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 và điều lệ công ty.
*Vốn điều lệ

-

Vốn điều lệ của công ty: 2.500.000.000 đồng ( Hai tỷ, lăm trăm bốn
mươi triệu đồng chẵn)
*Trụ sở công ty - Điện thoại
- Trụ sở công ty: An Châu- Đạo Lý- Lý Nhân- Hà Nam
- Điện thoại:
1.1.2 Lịch sử phát triển của doanh nghiệp
Công ty TNHH Hoàng Thành có giấy phép hoạt động sản xuất kinh doanh

xây dựng. Nguyên vật liệu xây dựng được vận chuyển, bốc dỡ bằng máy cẩu,
máy vận thăng hoặc bằng thủ công đới với vị trí máy móc không vào được.
-Giai đoạn 3: Thực hiện gia công xây lắp tại công trường xây dựng.
Máy trộn bê tông: Gia công hỗn hợp đá – cát vàng- xi măng- theo cấp phối
thiết kế để tạo thành vữa bê tông.
Máy hàn, máy cắt, máy cưa: Chuyển gạch, vữa xây, vữa bê tông đến nơi cấu
kiện xây dựng.
5


-Giai đoạn 4: Hoàn thiện, tiến hành nghiệm thu, kiểm tra bằng các thiết bị đo
lường.
Công tác tổ chức sản xuất của công ty được thực hiện trên cơ sở công nghệ thi
công xây dựng. Các công việc được tiến hành ở đội thi công cùng với sự phối
hợp nhịp nhàng giữa các tổ đội chuyên môn khác trong công ty.
1.2. Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
1.2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY TNHH HOÀNG THÀNH

(Nguồn: Phòng tài chính- kế toán)

1.2.2. Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận.
* Hội đồng thành viên
Hội đồng thành viên quyết định mức lương, thưởng và lợi ích khác đối với
Chủ tịch HĐTV, Tổng giám đốc, kế tóan trưởng, thành viên Ban kiểm sóat
6


HĐTV và thù lao các thành viên khác (nếu có phân công nhiệm vụ cụ thể).
Chủ tịch HĐTV do HĐTV bầu và nhiệm kỳ không quá 3 năm, Chủ tịch



- Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty;
- Ban hành quy chế quản lý nội bộ công ty;
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty, trừ
các chức danh thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên;
- Ký kết hợp đồng nhân danh công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của
Chủ tịch Hội đồng thành viên;
- Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức công ty;
- Trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên Hội đồng thành viên.
*Phòng hành chính kế toán
Đảm nhận và chịu trách nhiệm trước Công ty về lĩnh vực tài chính kế toán.
Phòng có chức năng xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính hàng
năm; Tổ chức công tác hạch toán kế toán, lập báo cáo tài chính theo quy định
và các báo cáo quản trị theo yêu cầu của Công ty; Thực hiện thu tiền bán
hàng, quản lý kho quỹ; Chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc lập
hóa đơn chứng từ ban đầu cho công tác hạch toán kế toán; hướng dẫn, tổng
hợp báo cáo thống kê.
*Phòng tư vấn giám sát thiết kế
- Tham gia lập hồ sơ dự thầu, tổ chức mọi công việc về giám sát thi công khi
đã được trúng thầu các dự án đến kết thúc công tác giám sát thi công bàn giao
hồ sơ và thanh ký hợp đồng với chủ đầu tư;
- Tổ chức ban quản lý dự án các công tr ình xây dựng từ việc nhận thầu, thành
lập ban quản lý, lập kế hoạch triển khai các biện pháp để thực hiện to àn bộ
các giai đoạn từ lập kế hoạch, thiết kế, đấu thầu, thi công, kết thúc công tr ình
bàn giao cho chủ đầu tư;
- Trưởng phòng hoặc người đại diện (do trưởng phòng ủy quyền) được quyền
thay mặt phòng để tham dự và đóng góp ý kiến tại các cuộc họp về hoạt động
sản xuất kinh doanh của Công ty đồng thời đề xuất và kiến nghị những công
việc có liên quan đến chức năng nhiệm vụ của phòng Tư vấn giám sát thi



1.3. Hình thức tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.
1.3.1 Hình thức tổ chức sản xuất.
Loại hình sản xuất là sự mô tả cách sử dụng những phương tiện nhân lực và
vật chất để biến nguyên vật liệu thành sản phẩm cuối cùng.
Sản phẩm của Công ty được sản xuất theo phương pháp đơn chiếc, nơi thi
công là nơi nghiệm thu sản phẩm theo đơn đặt hàng chủ đầu tư thông qua
hình thức chọn thầu. Việc sản xuất theo đơn đặt hàng này rất có lợi vì Công ty
không phải dự trữ thành phẩm, không bị phí tồn mất giá do không tốn chi phí
lưu kho.
Đặc điểm sản xuất của Công ty mang đặc điểm của ngành sản xuất xây
dựng. Sản xuất xây dựng lại mang đặc thù của sản xuất công nghiệp. Bởi vậy,
nó cũng có những đặc điểm của sản xuất công nghiệp: quá trình biến đổi, kết
hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm với giá trị và giá trị sử dụng mới.
Tuy nhiên, nếu xuất phát từ tính chất của sản phẩm xây dựng, sản xuất trong
xây dựng mang những đặc điểm chủ yếu sau:
-

Sản xuất xây dựng thiếu tính ổn định, có tính lưu động cao theo lãnh
thổ vì trong quá trình xây dựng, con người và công cụ lao động luôn
phải di chuyển từ công trường này đến công trường khác, còn sản
phẩm xây dựng thì hình thành và đứng yên tại chỗ. Đặc điểm này
kéo theo các tác động như:

+ Các phương án công nghệ và tổ chức xây dựng phải luôn biến đổi cho phù
hợp với thời gian, địa điểm xây dựng, do đó gây khó khăn cho việc tổ chức
sản xuất, cải thiện điều kiện lao động và làm nẩy sinh nhiều chi phí cho khâu
di chuyển lực lượng sản xuất cũng như các công trình tạm phục vụ thi công
xây dựng.

cơ giới xây dựng…
+ Phải chú ý cải thiện điều kiện lao động cho người làm công việc xây dựng;
+ Phải đảm bảo độ bền chắc và độ tin cậy của các thiết bị, máy móc xây
dựng;
+ Phải chú ý tới nhân tố rủi ro do thời tiết gây nên;
+ Phải phát triển phương pháp xây dựng trong điều kiện khí hậu nhiệt đới.
11


1.3.2 Kết cấu sản phẩm của doanh nghiệp
* Bộ phận sản xuất chính
Bộ phận sản xuất chính trong Công ty là hoạt động xây dựng, nhận thầu
các công trình nằm trong số các ngành nghề kinh doanh ghi trong giấy đăng
kí hoạt động kinhdoanh của Công ty (đã trình bầy ở phần trước). Các đội xây
dựnglà các đơn vị trực tiếp thực hiện công việc sản xuất chính.
* Bộ phận sản xuất phụ
Đó là các hoạt động kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn, buôn bán vật tư, cho
thuê mặt bằng…Những hoạt động này do các phòng, ban trong Công ty phụ
trách.
* Các xưởng sản xuất phụ trợ
Do thi công các công trình xây dựng lớn, Công ty có các xưởng sản xuất và
phụtrợ như: Xưởng gia công gỗ, xưởng gia công thép, cơ khí sửa chữa,...
Công ty đặt ra nguyên tắc chung cho việc thiết kế như sau:
- Các xưởng sản xuất và phụ trợ được bố trí ở ngoài diện tích đã quy định để
xây dựng các công trình, không gây cản trở đến quá trình xây dựng, hoặc phải
phá đi làm lại nhiều lần.
- Các xưởng sản xuất và phụ trợ nếu có điều kiện nên tập trung vào một khu
để tiện quản lý và cung cấp các dịch vụ như điện, nước,... khu này càng gần
công trình xây dựng càng tốt để giảm các chi phí vận chuyển.
- Các xưởng sản xuất và phụ trợ nên hợp khối theo tính năng công nghệ và

+ Bảo quản tốt vật liệu, đủ khối lượng cung cấp theo yêu cầu.
+ Kết cấu đơn giản, gọn nhẹ, dễ dựng lắp.
+ Dễ dỡ ra di chuyển đến nơi khác để tiếp tục sử dụng hoặc thanh lý thu hồi.
+ Giá thành rẻ, tận dụng nguyên liệu địa phương.
- Công ty thiết kế kho bãi theo nguyên tắc:
+ Kho bãi vật liệu trên công trường được bố trí dọc đường giao thông để tiện
lợi cho việc vận chuyển, bốc, xếp vào kho và xuất kho.
+ Kho bãi ở các vị trí đã được hợp khối theo dây chuyền sản xuất với các
xưởng để tiện trong việc quản lý và chủ động trong sản xuất.

13


+ Nếu mặt bằng cho phép, Công ty sẽ bố trí tất cả các kho vào cùng một khu
vực để tiện quản lý, trừ các loại kho đặc biệt như: xăng, dầu...
- Kết cấu kho bãi bảo đảm được các chức năng:
+ An toàn cho công trình và bảo vệ được tài sản công trường.
+ Sử dụng tối đa những công trình có sẵn, xây dựng trước, hoặc khai thác
từng phần đã xây dựng để làm các kho bãi công trường
b. Nhà tạm trên công trường
Nhà tạm trên công trường bao gồm các nhà phục vụ cho việc điều hành sản
xuất, như: nhà ban chỉ huy công trường, phòng kỹ thuật,... Thông thường nhà
tạm trên công trường, sau khi xây dựng xong công trình sẽ phải phá dỡ đi, vì
vậy cần phải nghiên cứu, để có giải pháp hợp lý về nhiều mặt, như về thời
gian sử dụng, về kinh tế và an toàn,...
Do đó Công ty có các giải pháp:
- Tận dụng tối đa các ngôi nhà có sẵn, trong diện tích công trường, hoặc gần
công trường, có thể dùng làm nhà tạm, nhằm hạn chế việc xây dựng các nhà
tạm.
- Có kế hoạch xây dựng trước một vài hạng mục hoặc khai thác từng phần

* Đặc điểm quy trình công nghệ
Chu kỳ sản xuất trong ngành xây dựng mang tính chất đặc thù, không
giống với các ngành sản xuất khác. Chu kỳ sản xuất lúc ngắn lúc dài, ohuj
thuộc vào nhiều yếu tố như: nguồn vốn, khả năng cung cấp nguyên vật liệu….
Quy trình công nghệ sản xuất khá phức tạp, tùy thuộc vào từng lĩnh vực,
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.
Sản phẩm của Công ty TNHH Hoàng Thành có tính đơn chiếc nơi thi công
là nơi nghiệm thu sản phẩm, mỗi sản phẩm làm ra theo thiết kế kỹ thuật, yêu
cầu kỹ thuật, giá cả riêng biệt. Thanh toán bên giao thầu cho Công ty chỉ
thanh toán theo giai đoạn, điểm dừng tạm ứng… Thanh toán toàn bộ khi có
biên bản nghiệm thu, bàn giao và thanh toán công trình trừ đi chi phí bảo
hành tùy theo dự án. Những đặc điểm đó đòi hỏi phải có quy trình riêng phù
hợp theo trình tự sau:
15


- Nhận thầu thông qua hình thức đấu thầu hoặc chỉ định thầu.
- Hợp đồng giao nhận thầu xây dựng với chủ đầu tư công trình.
- Trên cơ sở hồ sơ thiết kế và hợp đồng xây dựng đã được ký kết, Công ty tổ
chức quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm.
Công trình được hoàn thành với sự giám sát của chủ đầu tư công trình về kỹ
thuật và tiến độ thi công. Bàn giao công trình hoàn thành và quyết toán hợp
đồng xây dựng.
*Quy trình xây dựng một công trình xây dựng
Để hoàn thành một công trình xây dựng hoàn chỉnh và đưa vào sử dụng phải
trải qua rất nhiều bước công việc xây dựng. Các bước này được quy định như
sau
+Bước 1: Thu thập thông tin về nhu cầu xây dựng. Việc thu thập thông tin về
nhu cầu xây dựng có thể qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ đề nghị
của chủ đầu tư.

căn cứ vào tiến độ thi công và nhu cầu nguyên vật liệu để tiến hành tập kết vật
tư. Trong vấn đề tập kết vật liệu, không được tập kết nhiều quá và cũng không
được tập kết quá ít (hay thiếu). Phải mua vật liệu sao cho đảm bảo các giai
đoạn tiếp theo. Nguyên vật liệu phải đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng và
phải được sự đồng ý của chủ đầu tư.Ví dụ như : Thép phải mang đi thí
nghiệm trước khi đưa vào sử dụng công trình.
+Bước 9: Thực hiện xây lắp
Trong quá trình thi công, phải đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh môi
trường, tiếp đó biện pháp thi công phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật hiện hànhvà
phải được chủ đầu tư nghiệm thu từng phần, từng công tác.
+Bước 10: Nghiệm thu chủ đầu tư, đơn vị tư vấn giám sát và đơn vị thi
công tiến hành nghiệm thu từng phần của công việc, từng giai đoạn của công
việc. Nếu các hạng mục của công việc chưa đảm bảo, nhà thầu phải tiến hành
làm lại sao cho đảm bảo yêu cầu kỹ thuật về chất lượng.
+Bước 11: Lập hồ sơ hoàn công và hồ sơ quyết toán công trình.
*Quản lý chất lượng công trình xây dựng

17


- Thực chất quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp các hoạt động
từ đó đề ra các yêu cầu, quy định và thực hiện các yêu càu và quy định đó
bằng các biện pháp như kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng, cải tiến
chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống. Hoạt động quản lý chất lượng công
trình xây dựng chủ yếu là công tác giám sát và tự giám sát của chủ đầu tư và
các

chủ

thể

nội dung công tác giám sát và tự giám sát của các chủ thể có thể thay đổi tuỳ
theo nội dung của hoạt động xây dựng mà nó phục vụ.
1.5. Nhận xét chung về tình hình quản trị sản xuất và chất lượng tại
doanh nghiệp
Những tồn tại trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng của
công ty.Bên cạnh những thành tựu đạt được, công ty vẫn còn tồn tại một số
bất cập trong tác quản lý chất lượng công trình xây dựng. Công ty mới chỉ tập
trung chú trọng tới lĩnh vực đảm bảo tới chất lượng công trình chứ chưa chú
trọng tới cải tiến chất lượng. Có lẽ đây là một đặc thù của ngành xây dựng.Do
gặp khó khăn về trao đổi thông tin nên việc theo dõi phản hồi khách hàng
chưa được cập nhật và thông suốt từ lãnh đạo đến các đội xây dựng. Việc sử
lý phản hồi của khách hàng và việc đánh giá sự thoả mạn chưa được diễn ra
liên tục mà mới mang tính chất riêng lẻ tại các đội xây dựng.Hành động khắc
phục, phòng ngừa, cải tiến của các đội xây dựng chưa diễn ra theo thủ tục
chung mà phụ thuộc cách thức từng đội xây dựng.
Nhận thức của các thành viên trong công ty về chất lượng và công tác quản lý
chất lượng còn hạn chế, phần lớn họ chưa thực hiện, làm đúng quy trình mà
chỉ quan niệm chất lượng xây dựng theo nghĩa của họ. Đội ngũ cán bộ, nhóm
công tác chất lượng hiện nay chưa đủ để đáp ứng nhu cầu.

19


Phần II: Tìm hiểu đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
2.1. Phân tích hoạt động tiêu thụ và hoạt động Marketing
2.1.1. Ngành nghề kinh doanh, sản phẩm, loại hàng hoá.
*Đặc điểm về sản phẩm
- Tình hình và điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luôn biến
đổi theo địa điểm xây dựng. cụ thể làtrong xây dựng con người và công cụ lao
động luôn phải di chuyển từ công trình này đến công trình khác, còn sản

Bảng 2-1: Các sản phẩm của công ty
STT
1

Sản phẩm
Công trình dân dụng

Bao gồm
- Công trình văn hóa
- Công trình giáo dục
- Công trình y tế
- Trung tâm thương mại
- Khách sạn, nhà hàng
- Chung cư, cao ốc, kí

2

Công trình công nghiệp

túc xá
- Nhà máy
- Nhà xưởng
- Công trình xây dựng
chủ thể và tiếp địa chống
sét

3

- ...
Công trình giao thông, thủy lợi, - Đường tỉnh lộ

dựng) trong quá trình xây dựng (trừ trường hợp chủ thầu xây dựng muốn
được thắng thầu đã tự nguyện tạm ứng vốn trước) đồng thời đóng vai trò
quyết định trong việc lựa chọn người bán (tổ chức xây dựng) và trong việc
định giá bán.
2.1.3. Chính sách về sản phẩm và thị trường tiêu thụ
Chính sách sản phẩm là tổng thể các quyết định và hành động liên quan đến
sản xuất và kinh doanh sản phẩm, nhằm vào những mục tiêu nhất định để sử
dụng tốt nhất các khả năng và nguồn lực của tổ chức đồng thời thích ứng với
những cơ hội và thách thức bên ngoài.
Vai trò của chính sách sản phẩm trong chiến lược marketing

22


Chính sách sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của một chiến
lược marketing.
Chính sách sản phẩm là xương sống của chiến lược marketing, trình độ sản
xuất càng cao, cạnh tranh càng gay gắt thì vai trò của chính sách sản phẩm
càng trở nên quan trọng hơn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Chính sách sản phẩm không tốt thì chiến lược Marketing không thể có hiệu q
uả. Nó là tiền đề để kế hoạch định chính sách giá, chính sách phân phối, chính
sách xúc tiến. Chính sách sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với các chính
sách giá, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến thương mại.
Thị trường tiêu thụ: Do đây là loại sản phẩm hàng hóa sản xuất để đáp ứng
cho ngành nông nghiệp trong tỉnh do vậy mà thị trường tiêu thụ hàng hóa chủ
yếu là các huyện ở trong tỉnh. Bên cạnh đó công ty cũng phát huy tiềm năng
sẵn có của mình để đáp ứng cho các tỉnh bạn như công trình xây dựng An
Cảnh tỉnh Hà Tây… Công ty có thị trường tương đối rộng lớn, các hạng mục
nằm rải rác ở nhiều nơi nên điều này cũng gây khó khăn cho công tác quản lý

- Dựa trên việc tính toán các chi phí sản xuất của sản phẩm.
Chính sách giá: Với mỗi sản phẩm hay dịch vụ được đưa ra thị trường ở mức
giá mà về lâu dài sẽ sinh ra một khoản lãi tối ưu. Có rất nhiều các phương
pháp định giá khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mục tiêu Marketing,
mục tiêu về lợi nhuận, chi phí sản xuất, chi phí Marketing, sự khác biệt trong
sản phẩm và dịch vụ, sự nổi tiếng của nhãn hiệu, nhu cầu trên thị trường, các
sản phẩm và nguyên liệu thay thế, sự khác biệt trong sản phẩm hay giá cả của
các đối thủ cạnh tranh... Tuy nhiên mối quan tâm cơ bản cho hầu hết tất cả
các doanh nghiệp nh là xác định mức giá nào để có thể tối đa doanh số và lợi
nhuận mà vẫn trang trải hết được các chi phí sản xuất, chi phí hành chính và
marketing.
2.1.5. Chính sách phân phối
Quản lý kênh phân phối là hoạt động Marketing của công ty, chính sách sản
phẩm có thể ảnh hưởng tới quyết định về phân phối. Để một sản phẩm mới có
thể được khách hang chấp nhận khi tung ra thị trường thì đòi hỏi nó phải có
khả năng bán. Có như vậy thì các nhà phân phối mới tin tưởng vào sản phẩm
hơn so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Một chính sách sản phẩm hoàn
thiện sẽ đáp ứng được nhu cầu nói trên và mở ra cho các nhà phân phối khả
năng lợi nhuận và phát triển.
Đồng thời, với hệ thống kênh phân phối khác nhau công ty sẽ sử dụng
những tuyến sản phẩm khác nhau sao cho phù hợp với hệ thống kênh phân
phối đó và phát huy được tối đa hiệu quả, hiệu lực giữa kênh phân phối và
việc tiêu thụ sản phẩm…

24


Hiện tại Công ty thi công các công trình tại tỉnh Hà Nam và một số tỉnh
thành khác như. Thái Bình, Ninh Thuận, Hà Nam ....
Khi đã nhận thấy nhu cầu cần thiết phải có quyết định thiết kế kênh người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status