BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỌI
•
■■
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
■*■•
PHẠM THUÝ HỢP
Sưu tập chuông thời Nguyễn tàng trữ tại Viện bảo tàng lịch
sử Việt Nam
•
•••
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam Mã số: 5.03.15
LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH sử
Người hướng dẫn khoa học:
V- MỊ&
HÀ NỘI 1998
[ ĐAi MỌC CiUÒC GIA HA ĩ ' i ộ i j
ĨRỨNGTÂM THÕĨ4G TIN TK I / V Í Ệ Ỉ ;
N
o
Hà Nội
H
Height
KCH
Khảo cổ học
KHXH
Khoa học xã hội
NXB
Nhà xuất bản
NPHM
Những phát hiện mới về khảo cổ học
NCLS
Nghiên cứu Lich sử
nt
Như trên
ш......................................................................................................................... 20
sưu tập chuông tại VBTLS
25
2.1.1. Khảo tả nghệ thuật trang trí
trên một số quả chuông tiêu biểu
25
2.1.1.1. Chuông đời Gia Long
25
2.1.1.2. Chuông đời Minh Mệnh
26
2.1.1.3. Chuông đời Thiệu Trị và Tự Đức
30
2.1.1.4. Chuông đời Thành Thái và Duy Tân
33
2.1.1.5. Chuông đời Khải Định và Bảo Đại
34
35
2.1.1.6. Về những quả chuông chưa rõ niên đại
2.1 Nghệ thuật trang trí trên chuông đồng thời Nguyễn qua2.1.2. Vài nhận xét
về nghệ thuật trang trí chuông đồng
thời Nguyễn qua sưu tập chuông đồng tại VBTLSVN 37
Sưu tập chuông thời Nguyễn tàng trữ tại Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam...........1
V- MỊ&....................................................1
MỎ ĐẨU................................................3
Luyện (28:374-376). ".......................................................................................... 6
CHƯƠNG HAI...........................................27
Hà Nội (1797)( BV2-5). Chuông màu xám , vai gần vuông , đỉnh bằng,
ш......................................................................................................................... 20
MỎ ĐẨU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TẢI :
Chuông đồng là loại hình di vật cổ gắn liền với các di tích tôn giáo tín
ngưỡng như chùa , đình , đền , quán. Chuông thường ghi niên đại tuyệt đối ,nội
dung minh văn khắc hoặc đúc trên chuông là tài liệu chân thực phản ánh nhiều
mặt về lịch sử chính trị , kinh tế , xã hội , tôn giáo , địa danh, nhân danh ...Mỗi
quả chuông ià một tác phẩm nghệ thuật , từ dáng vóc , trang trí đến nét chữ
khắc trên chuông phản ánh trình độ kỹ thuật đúc đồng truyền thống ờ Việt
nam . Bởi vậy khai thác những thông tin trên chuông đồng chính là thu thập
nguồn tư liệu lịch sử , khảo cổ , mỹ thuật độc đáo đáng tin cậy .
Phật giáo , Đạo giáo , Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ đầu công
nguyên , cũng từ đây các ngôi chùa , đền , miếu , quán dần dần mọc lên. Trong
các lễ nghi tôn giáo ở các di tích trên đều cần đến tiếng chuông ,nhưng cho đến
nay những quả chuông chỉ còn lại rất ít .Nghiên cứu chuông đồng từ xuất xứ ,
kỹ thuật đúc cho đến kiểu dáng , hoa văn trang trí , nội dung minh văn là việc
làm cần thiết để tìm hiểu thêm về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của từng
3
thời kỳ lịch sử nói chung , về tôn giáo tín ngưỡng nói riêng của Việt Nam.
Số lượng chuông đồng thời Nguyễn còn lại đến ngày nay còn tương đối
nhiều. Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về
chuông Nguyễn một cách có hệ thống.Riêng sưu tập chuông đồng thời Nguyễn
tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam hiện có 30 quả, nhưng vẫn chưa được chú
ý nghiên cứu, (chỉ mới có một quả chuông trong số này được công bố). VI thế,
chuông trống chiếm đến nửa phần so với dân cư”(29). Song chuông đồng thời
Lý , Trần còn đến ngày nay với số lượng không nhiều. Quả chuông Thôns
Thánh Quán ở Bạch Hạc ( Phú Thọ ) nay chỉ còn thác bản dập lưu trữ ở thư viện
Viện Hán Nôm, “chuông Thông Thánh Quấn và một số vấn đề lịch sử thời
Trần” công bố năm 1966(49). Quả chuông chùa Vân Bản ở Đồ Sơn - Hải
4
Phòng được phát hiện năm 1958 và công bố vào năm 1963 “Oi/ả chuông nằm
700 năm dưới đáy biển ’ đăng trên báo Tổ Quốc số 3(2:26-27). Quả chuông
chùa Bình Lâm đức năm 1296 được coi là một phát hiện mới về Khảo cổ học
năm 1078 (6:32-45) ; Chuồng chùa Rối ( Hà Tĩnh ) có nhắc đến họ tên Phạm
Sư Mạnh( nhà thơ sống vào thời Trần)của Đoàn Văn Nam , trong NPHM... năm
1991 (38:ỉ63) .Cả bốn bài viết này đều nói về chuông thời Trần.
Thời Lê Sơ thế kv 15 , đến nay chúng ta chưa thấv nhắc đến một quả
chuông
nào
9
d-,
5
6. LICH SỬ NGHIÊN cửu VẤN ĐỂ
Thời Mạc thê kỷ 16 , cũng còn rất ít chuông đồng tồn tại đến ngày nay chỉ có
thời Nguyễn để góp phần nhận ra những đặcđiểm về mỹ thuật trang trí và kỹ thuật đúc đồng
thời Nguyễn .
3.3. Trên cơ sở đó xác định niên đại của những quả chuông không có niên đại cụ thể .
3.4. Bước đầu công bố và khai thác nội dung của các minh văn , góp phần tìm hiểu giá trị
lịch sử , văn hoá ,kinh tế... đặc biệt là tình hình Phật giáo thời Nguyễn.
3.5. Việc làm rõ giá tộ của sưu tập chuông thời Nguyễn tại Viện Bảo tàng Lịch sử sẽ góp
8. LICH SỬ NGHIÊN cửu VẤN ĐỂ
phần vào việc lập hồ sơ khoa học ,nghiên cứu và trưng bày tại Viện
4. PHAM VI NGHIÊN cứu VÀ NHỮNG VẤN ĐỂ CẮN GĩẤi QUYẾT TRONG LUÂN ÁN
4.1.
ĐỔI
TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Lần đầu tiên luận án tập hợp tài liệu công bố về sưu tập 30 quả chuông thời Nguyễn
hiện tàng trữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
Luận án tham khảo một số chuông đồng các thời khác: thời
Trần, Lê ,Tây
Sơn.Đối chiếu chuông thời Nguyễn tại Ban quản lý di tích và danh thắng ở Hà Nội .Đồng
thời tìm hiểu những hiện vật khác thuộc chất liệu đồng thời Nguyễn tại Viện Bảo tàng Lich
sử Viêt Nam.
C7 •
nhau hoặc so sánh cùng một đời để rút ra những điểm chính,điểm giống , khác nhau, đi đến
những kết luận từng phần.
Do đặc thù của đề tài nghiên cứu ,luận án có sử dụng phương pháp văn bản học , kỹ
thuật học để tìm hiểu giá trị lịch sử văn hoá ,trình độ kỹ thuật và nghệ thuật trang trí
chuông thời Nguyễn.
Phương pháp trình bày từng bài minh đan xen với trình bày về tình hình văn hoá , xã
hội, kinh tế thời Nguyễn mang tính lịch sử để luận án vừa bảo đảm tính khoa học vừa giữ
được tính chân thực .
Từng phần ,mục đều có ảnh chụp, bản dập ,hình vẽ minh hoạ về chi tiết trang trí và
minh văn trên chuông.
6.
ĐỎNG GÓP CỦA LUÂN ÁN
Luận án cung cấp một cách có hệ thống về tư liệu chuông đồng thời Nguyễn thuộc
sưu tập hiện vật của Viện Bảo tàng Lịch sử , góp phần bổ sung cho việc nghiên cứu đề tài
chuông đồng cổ ở Việt nam .
Luận án góp phần làm rõ xuất xứ và giá trị chuông đồng thời Nguyễn thông qua
việc thống kê , phân loại khảo tả chi tiết loại hình , hoa văn của 30 quả chuồng đồng thời
Nguyễn.
Từ kết quả phân tích , tổng hợp các đặc trưng loại hình, hoa văn của những qua chuồng
đông có niên đại , luận án lấy kết quả đó làm cơ sở để giám định niên đại cho những quả
chuông đồng khác không rõ niên đại trong khoảng thế kỷ 19 - 20.
Luận án cung cấp kết quả khai thác bước đầu về nội dung các bài minh văn đã phản
ánh tình hình kinh tế xã hội, văn học ,tôn giáo thời Nguyễn , họ tên và địa chỉ các thiện nam tín
nữ đã đóng góp tiền của để đúc chuông ...
Luận án góp phần nâng cao hiêủ biết và hoàn thiện hệ thống tài liệu lưu trữ ,nghiên cứu
về chuông đồng ở Viện bảo tàng Lịch sử .Đồng thời mở ra hướng so sánh , giám định cho hiện
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam khi nào Phật giáo phát triển thì khi ấy chùa được xây dựng , tu
bổ và chuông đồng được đúc nhiều.Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên và
càng ngày càng được mở rộng. Phật giáo phát triển mạnh trong thời Tuỳ (581-618) và Đường
(618-907) ,lúc này , ồ Việt Nam đã có khá nhiều chùa tháp . Thời kỳ độc lập ,Phật giáo trở
thành tôn giáo chính thống , Triềư Lý dựa hẳn vào Phật giáo để cầm quyền ,vì thế thời này
nhiều chùa tháp được mọc lên, riêng thái hậu Linh Nhân (Ỷ Lan) đã cho dựng hơn 100 ngôi
chùa (48:48) .Trong thời Trần , phật giáo tiếp tục phát triển rực rỡ , tuy Nho giáo dần dần
chiếm được vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần cũng như trong thiết chế chính trị - xã
11. LICH SỬ NGHIÊN cửu VẤN ĐỂ
hội, nhưng Phật giáo cho đến giữa thế kỷ 14 vẫn giữ được sự thinh vượng của nó .
Thời Lý - Trần có những quả chuông đã trở thành nổi tiếng , đi vào sử sách như chuông
chùa Ậại Giáo , đúc năm 1010, chuông chùa Hưng Thiện đúc năm 1014 . Năm 1033 , đúc
chuông để ở chùa Long Trì ; chuông chùa Trùng Quang( trên núi Tiên Du , Tiên Sơn , Bắc
Ninh) với trọng lượng 6000 cân đồng . Năm 1056 làm xong chùa Sùng Khánh Báo Thiên ,
phát 12000 cân đồng để đúc chuông lớn , vua thân làm bài minh . Đến đời Trần , năm 1256
“tháng 3 nhuận , đúc 330 quả chuông”( 29:243).
Thời Lê nho giáo là quốc giáo , song cả vua lẫn chúa nhiều người vẫn sùng Phật .Thế
kỷ 17 là một thời kỳ mà chùa tháp được xây dựng trên quy mô to lớn và tốc độ ào ạt .Ở Đàng
ngoài , phần lớn các công trình tu tạo đều được sự bảo trợ của chúa Trịnh hay các vương phi
trong phủ chúa .Đầu thế kỷ 17 đến giáp đời Tây Sơn, chúng ta phát hiện được 15 quả chuông
với niên đại sớm nhất năm 1611 và muộn nhất là năm 1768( tuy số lượng chuông thời Lê còn
khá nhiều trong các chùa đình ... nhưng hiện chưa có điều kiện điều tra tổng thể), ở đằng trong
các chúa Nguyễn cũng rất sùng Phật. Chỉ riêng chúa nguyễn Phúc Chu( 1692-1726) đã cho
xây nhiều chùa và chùa nào cũng đúc chuông. Nổi tiếng nhất là chuông chùa Thiên Mụ đúc
vào năm Canh Dần 1710 với trọng lượng 3.285 cân đồng . Chuông được đặt vào trong toà lầu
vuông lớn của khuôn viên chùa Thiên Mụ. Chúa tự soạn bài ký của chuông và vẫn dùng niên
hiệu Vĩnh Thinh của vua Lê( 42:72).
Quai chuông đúc hình hai rồng đấu lưng vào nhau tạo thành một vòng cung hoặc hai
cành mai ( giai đoạn sau), làm chỗ xỏ then treo .
Thân chuông có những nhóm gân ngang và gân dọc tạo thành 4 ô hình thang ở phía
trên ( hay gọi là 4 ô thân trên) và 4 ô chữ nhật nằm ngang ồ phía dưới (gọi là 4 ô thân dưới) .
Đặt chính giữa 4 ô thân trên là 4 đại tự được đúc nổi hoặc khắc chìm , 4 chữ này cho biết
chuông thuộc về chùa đình hay miếu nào , bao quanh chữ đại tự có nhiều loại hoa văn trang trí
nổi khác nhau . Minh văn thường được khắc chìm trong 4 ô thân này , ghi thời gian , địa điểm
và lý do đúc chuông , ca ngợi việc đúc chuông , ca ngợi cảnh đẹp ngôi chùa , đình hay miếu ,
sau đó kê tên người tổ chức và đóng góp công của vào việc đúc chuông , có bài minh dài phải
khắc chìm trong cả 4 ô chữ nhật ở thân dưới, có chuông 4 ô dưới được trang trí hoa văn hoặc
bộ tứ linh , đây là đề tài phổ biến ở thời Nguyễn, cũng có chuông 4 ô thân dưới để
trơn không trang trí. ở những điểm giao nhau giữa những nhóm gân ngang và gân dọc , ngăn
cách giữa 4 ô trên và 4 ô dưới có đường gờ nổi vòng quanh chuông, trên có những núm gõ lồi
tròn , viền ngoài núm gõ là đai chuông có trang trí nhiều loại hoa văn khác nhau.
Miệng chuông ở dưới cùng thường loe ra và dầy hơn thân chuông, có chuông được
13. LICH SỬ NGHIÊN cửu VẤN ĐỂ
trang trí một vòng hoa văn , có chuông để trơn .
BV8 : CẤU TẠO MỘT QUẢ CHUÔNG
1.2. SƯU TẬP CHUÔNG ở VIỆT NAM.
Trong 10 thế kỷ đầu công nguyên, chúng ta mới chỉ biết đến quả chuông Thanh Mai
( Hà Tây ) đúc năm Trinh nguyên thứ 14 (798), quả chuông Nhật Tảo ở đình Nhật Tảo , xã
Đông Ngạc huyện Từ Liêm (Hà Nội) đúc năm 948, thời Lý có quả Thiên Phúc tự chung ở chùa
Thầy hiện nay chỉ còn lại bản dập bài minh lưu trữ
8
Niên đại
Gia Long
Minh Mênh
Thiêu Tri
Tư Đức
Thành Thái
Duy Tân
Khải Đinh
Bảo Đai
2
Số lượng
19
37
20
33
16
7
12
22
166
Tỷ lệ %
nhất là trong thời kỳ cải cách mộng đất , chuông được đưa từ các chùa , đình , đền , miếu vể
Bảo tàng. Từ những năm 1990 trở lại đây , sưu tập này được bổ sung thêm chủ yếu từ bên
ngành Công an và Tổng cục Hải quan bàn giao qua việc tịch thu mua bán đồ cổ và đưa đồ cổ
ra nước ngoài. Năm 1986 : Bảo tàng tiếp nhận 4 quả chuông:
-Chuông do Tổng cục Hải quan bàn giao mang ký hiệu LSb 21462
- Chuồng do câu lạc bộ quốc tế Hà Nội bàn giao mang ký hiệu LSb 21464 -Chuông do công
an quận Hai Bà Trưng bàn giao mang ký hiệu LSb 21460, 21461 và 21463.
Năm 1987 : ông Nguyên Xuân Bình ồ số 4 , khu tập thể Vĩnh Tuy tặng Viện Bảo tàng
1 quả chuông mang ký hiệu LSb 21645
Năm 1988 : Tổng cục Hải quan tịch thu ở nhà máy giấy Bãi Bằng và bàn giao cho
Bảo tàng 1 quả chuông, mang ký hiệu LSb 22214.
Tất cả những quả chuông này đều có kích thước nhỏ và không có minh văn. Với số
lượng 45 quả , nhưng cho đến nay sưu tập này vẫn chưa được đăng ký , kiểm kê một cách
đầy đủ và có hệ thống, vì thế hầu hết các hiện vật này đều chưa được công bố trừ quả
chuông đời Gia Long được công bố vào năm 1996(25:480).
Bảng 2: SƯU TẬP CHUÔNG TẠI VIỆN BTLSVN
SỐ
Niên đại
Số lượng
Tỷ lệ
Ghi chú
%
TT
Trần
Chuông Vân Bản
1
1
2,2
TT chuông
ký
cao
đường
cao
quai
kính
toàn
miệng
bô
LSb
23
47,5
1 Tối
Gia Long 85,5
1 ( 1802)
Linh
từ 23140
chung
»TI A
2
20
12
21
3
22
4
miếu
-23158
Bồng Lai -23142
Vọng
tự chung
Phổ
Hương
tiên -23150
từQuang tự
- 21463
chung
Lễ
Thiện
Linh
tâmTiên -23141
tựphụng
chung
-23160
Nguyệt
Đường tự
chung
-23143
-23159
ViênPhật
Quang
Giáng tự
tự
chùng
chung
- 20080
tư
tựLâm
chung
chung
Dư Duệ -23146
Kim
tự chung -23154
Quang tự
chung
Na Lai tự
An
chung
Duyên
đinh
chung
Long
Tập
MônHội
tự
cung
chung
tiến
Linh
Hội
Thông
tự
đồng
chung
(1822)Thái
12 ( 1900)
Minh
Mệnh 3
(1822)
Tư
Đức
Ngày 14
-6
8(1855)
Minh
Mệnh
8
Tư
Đức
( 1*827)
3Ỏ
Ngày8-3
(1877)
Minh
Mệnh 10
(1829)
Tháng
Ngày 12 -5
11
Minh
Thành 12
Mệnh
Thái 6
(1831)
24
21,5
46
39
57,5
61
19
30
120
30
64
86
21
41
95
102
29,5
35
48,5
10
68
12,6
9,5
17
39
46
12,5
13,1
25,5
15
39,5
58,1
19,5
27
55,5
39
83
74,5
26
Hoài Đức, tỉnh Hà Nôi
Thôn
Mộc, huyện
Thôn Cồn
Đông,xã
Năng
Nghi
Thôn
Mông
Xuân,Mỹ
Trường,
phủ
Đức
xã
Tĩnh, huyện
Lộc,tỉnh
Đạm
Xuyên, huyện Yên
Quang
Nam Đinh
Lãng, phủ Vĩnh Tường,
tỉnh Sơn Tây
Xã Pháp
Bạch Kiệt,
Trữ, tổng
tổngThuận
Bạch
Trữ,
huyện
Xuyên,
Nam Định
trấn Sơn
Tây
Xã Đặng Xã, tổng Cao
Đường, huyện Thượng
Nguyên Nam Đinh
Thôn Điện Tiền, xã Đề
Thôn
, xã Đồng
,tổng
Cầu ,Hậu
huyện
Siêu Loại,
An
Thuận Cự,
An, xứhuyện
Bắc NinhVụ
Bản,phủ Nghĩa Hưng,
tỉnh Nam Đinh
Thôn Liên Cúc, xã Hưng
Xã
Duyên,
Tín
Lục An
huyện
An tổng
Lạc phủ
An
Thượng
Vĩnh, huyện
Tỷ lệ %
7
Khảivua
Đinh
10
Gia
18
12
BảoLong
Đai
105
Minh Mênh
40
2£
820
100
3
Thiêu Tri
5
1
4
Tư Đức
4
20
5
Thành Thái
5
1
Ghi chú
trưng và các hộ biệt nạp . Theo chủ trương này thì nhà nước cấp vốn cho người sản xuất , số
tiền sẽ tuỳ theo thời giá mà tăng ....(43: 107) . Để khuyến khích dân lãnh tiền công bản , triều
đình còn quy định chế độ thu mua hai giá : nếu dân tự bỏ vốn riêng sản xuất thì nhà nước trả 8
lạng bạc cho 100 cân đồng , còn nếu lãnh vốn công mà khai thác thì trả 7 lạng 5 đồng cân(43:
77,244) .Bản thân Minh Mệnh tuy theo Nho giáo , hạn chế Phật giáo , nhưng thực tế lệnh hạn
chế đó chỉ nằm trên giấy . Dưới triều Minh Mệnh , Phật giáo vẫn được tự do hoạt động , chùa
chiền tiếp tục được củng cố và xây dựng thêm(dựng chùa Khải Tường) , bản thân Minh Mệnh
cũng từng tham gia những buổi hành lễ , cầu siêu tại ngôi chùa Quốc Tự Thiên Mụ . Năm
Minh Mệnh thứ 13 ngự xem đàn chay ở chùa Thiên Mụ , Minh Mệnh bảo quan hầu : “ nhà
Phật dùng thần học để dậy đời , còn đạo Khổng thì chỉ dạy luân thường là món dùng hằng
ngày , song chung quy đều dạy người ta làm điều thiện mà thôi” (18:504).CÓ lẽ vì thế mà số
lượng chuông đồng đời Minh Mệnh hiện có trong Bảo tàng Lịch sử chiếm tỷ lệ tương đối lớn
(8 quả).
Năm 1841 Thiệu Trị lên ngôi vua đã tiếp thu những cải cách của vua cha . Thiệu Trị tuy
sống ít mà đặt đàn nhiều , Thiệu Trị nói : “ đạo ta lấy điều thiện làm báu , nhà Phật cũng lấy
điều thiện để mà khuyên đời”. Thiệu Trị tích cực trong việc xây dựng chùa tháp , tô tượng, đúc
chuông, năm 1844 Thiệu Trị cho xây tháp Từ Nhân. Trong đời Thiệu Trị , một quyển sách nhỏ
ra đời, bênh vực Phật giáo , tuyên truyền Phật lý , quyển “ Đạo giáo nguyên lưu”( 18: 505).
Nhưng cuộc đời của Thiệu Trị quả ngắn ngủi ( 1841 - 1847) .Có lẽ chính vì thế mà số lượng
chuông đời này ít.
Tự Đức trở lại phép hạn chế đạo phật của Gia Long , tán thành lời Trần Văn Ý xin để
cho mỗi chùa công tại kinh sư có 5 , 6 sư được cấp lương , chùa của dân thì mỗi chùa chỉ được
một sư thôi, còn bao nhiêu sư tăng “đuổi về làm dân chịu sai dịch” . Chùa cũ phải đợi đổ mới
được sửa lại; chùa mới , tượng mới , chuông mới đều cấm đúc cấm xây . Song phép vua thua
lệ làng , hiệu nghiệm của chỉ dụ Tự Đức
chẳng hơn gì chỉ dụ của Gia Long, rồi đâu vẫn hoàn đó . ở vùng đồng bằng , không làng nào là
>