Sưu tập hiện vật văn hóa Hạ Long tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Pdf 25


®¹i häc quèc gia hµ néi
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

******** ĐINH NGỌC TRIỂN
SƯU TẬP HIỆN VẬT VĂN HÓA HẠ LONG TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ
VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

cổ rồi nền văn hiến Đại Việt làm cho vùng Hạ Long có một vị trí đặc biệt
trong tiến trình lịch sử dân tộc.
1.2. Là một vùng biển đảo, vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều giá trị mang
tính quốc tế nhƣ giá trị thắng cảnh, giá trị địa chất, địa mạo, giá trị đa dạng
sinh học, giá trị lịch sử văn hóa. Vịnh Hạ Long đã hai lần đƣợc công nhận là
di sản thế giới. Trong vùng đất ấy, các nhà khảo cổ học đã phát hiện, khai
quật nhiều di tích khảo cổ từ tiền sử đến lịch sử. Song, do nhiều ngƣời, nhiều 2 cơ quan tiến hành, ở vào các thời điểm khác nhau, mức độ nghiên cứu và
công bố tƣ liệu cũng khác nhau, cho nên hiểu biết của chúng ta về văn hoá Hạ
Long mới chỉ đƣợc phác thảo những nét sơ lƣợc nhất và còn thiếu hệ thống.
Công việc của những nhà khảo cổ học và những ngƣời quản lý di tích Hạ
Long là vừa bảo tồn tốt những di chỉ đã biết, điều tra khám phá các di chỉ
mới, đồng thời nghiên cứu thấu đáo nội hàm văn hoá Hạ Long trong bối cảnh
rộng hơn. Hy vọng với những cơ sở khoa học lịch sử ở khu vực Hạ Long nói
chung, chúng ta sẽ có một hồ sơ khoa học đầy đủ, thuyết phục để sớm trình
Hội đồng di sản thế giới UNESCO công nhận vịnh Hạ Long là di sản thế giới
lần thứ 3 với tiêu chí là di sản văn hóa thế giới.
1.3. Thông qua việc tập hợp, nghiên cứu 11 sƣu tập hiện vật văn hóa
Hạ Long tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, kết hợp với việc đối chiếu, tham
khảo với những tài liệu khảo cổ và tài liệu thƣ tịch khác, chúng tôi thấy có thể
công bố sƣu tập hiện vật văn hóa Hạ Long hiện lƣu giữ tại Bảo tàng Lịch sử
Việt Nam một cách có hệ thống. Nhóm hiện vật này của Bảo tàng Lịch sử
Việt Nam không những nhiều về số lƣợng, đầy đủ về loại hình di vật mà còn
thuộc nhiều di chỉ ở các giai đoạn sớm, muộn khác nhau, đem lại một cái nhìn
khá toàn diện về nền văn hóa này.

3. Đối tƣợng, phạm vi và nội dung các vấn đề cơ bản cần giải quyết.
3.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu chính của luận văn.
Luận văn tập hợp 11 sƣu tập hiện vật văn hóa Hạ Long hiện tàng trữ
trong kho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
Luận văn tham khảo các tài liệu về văn hóa Hạ Long đã đƣợc công bố
trong các hội nghị khoa học, các tập san chuyên ngành ở Việt Nam và một số
tài liệu do nƣớc ngoài công bố có liên quan, đặc biệt là các nhật ký khai quật
của J.G. Anderson và M. Colani mà tác giả có điều kiện tham khảo.
3.2. Những vấn đề cơ bản cần giải quyết trong luận văn. 4 Luận văn công bố lần đầu tiên một cách có hệ thống sƣu tập hiện vật
văn hóa Hạ Long tàng trữ tại kho hiện vật Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
Luận văn tham chiếu những kết quả nghiên cứu về văn hóa Hạ Long
của ngành khảo cổ học Việt Nam trong những thập niên gần đây, luận văn
cũng tiến hành phân loại, xác định niên đại, xác định đặc trƣng loại hình hiện
vật, nghiên cứu các mối quan hệ văn hóa nhằm nhận thức khoa học hơn bộ
sƣu tập trong kho của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
4. Các phƣơng pháp nghiên cứu.
4.1. Luận văn sử dụng phƣơng pháp khảo cổ học là chính trong nghiên
cứu các sƣu tập hiện vật nhƣ phân loại loại hình, miêu tả, đo vẽ, chụp ảnh,
dập hoa văn. Đây là phƣơng pháp chủ đạo trong việc hệ thống hóa, xử lý tƣ
liệu.
4.2. Phƣơng pháp phân loại và thống kê theo niên đại và loại hình.
4.3. Do đặc thù của đề tài, luận văn vận dụng phƣơng pháp nghiên cứu
bảo tàng học trong việc lập hồ sơ và khảo tả hiện vật, thể hiện toàn bộ các đặc
điểm hiện vật. Phần mô tả có hai loại: Mô tả định tính và mô tả định lƣợng.

Chƣơng 2: Sƣu tập hiện vật văn hóa Hạ Long tại Bảo tàng Lịch sử Việt
Nam.
Chƣơng 3: Một số vấn đề rút ra từ sƣu tập hiện vật văn hóa Hạ Long tại
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
Luận văn có phần phụ lục:
- Bản đồ.
- Sơ đồ mặt bằng một số di chỉ khảo cổ học.
- Bản vẽ một số loại hình hiện vật tiêu biểu.
- Bản dập hoa văn gốm. 6 - Bản ảnh chụp hiện vật tiêu biểu (loại hình và đặc trƣng kỹ thuật) từ số
1 đến 43.
- Các biểu bảng thống kê theo loại hình và chất liệu, bảng ghi chú tên gọi
khác của di chỉ, danh mục bảng biểu thống kê, tài liệu tham khảo.

7
CHƢƠNG 1
NGUỒN GỐC SƢU TẬP HIỆN VẬT VĂN HÓA HẠ LONG TẠI
BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là cơ quan có chức năng có sƣu tầm và bảo
quản nhiều sƣu tập hiện vật có giá trị, thuộc nhiều nền văn hóa khảo cổ và các
giai đoạn lịch sử khác nhau của dân tộc. Các sƣu tập hiện vật đó đƣợc hình
thành từ trƣớc đây hơn một thế kỷ, với việc ra đời của Viện Viễn Đông Bác
cổ Pháp (EFEO) và không ngừng đƣợc bổ sung trong ngót nửa thế kỷ nay.
Trong số rất nhiều sƣu tập hiện vật tiền sử thuộc kho A (kho đá tiền sử), sƣu

Cùng trong thời gian này, M. Colani còn phát hiện ra một loạt di chỉ
khác nhƣ Quất Đông Nam, Gò Miếu (Móng Cái), Đồng Mang (Hà Khẩu, Cái
Lân, thành phố Hạ Long), Làng Bang (Hoành Bồ), Xóm Nam, Xóm Đông,
Xóm Kèo (đảo Tuần Châu), Cái Bèo (Hải Phòng), Cái Dăm (Bãi Cháy), đảo
Arènes. Tại những địa điểm trên, M. Colani đã tìm đƣợc nhiều rìu mài toàn
thân cùng những mảnh gốm tiền sử [11, 93-96; 13, 12-19]. Phần lớn các địa
điểm đó, sau này đƣợc chúng ta xếp vào văn hóa Hạ Long.
Trong hai năm 1937-1938, tổng cộng 5717 hiện vật phát hiện ở 7 di chỉ
trong số này đƣợc M. Colani đƣa về lƣu giữ ở Bảo tàng Louis Finot (Bảo tàng
Lịch sử Việt Nam ngày nay),
2
chiếm 70,4 % tổng số hiện vật trong sƣu tập
(Bảng 1:stt 3,5,6,7,9,10,11).
Ngày 15 tháng 1 năm 1938, nhà địa chất - khảo cổ học Thuỵ Điển, J.G.
Anderson đến Hạ Long khảo sát một số hang động và một loạt di chỉ ngoài
trời.
Trong hai ngày 19-20 tháng 2 năm 1938, J.G. Anderson và một họa sĩ
của Trƣờng Viễn Đông Bác cổ là Nguyễn Ngọc Trân đã đến hang Đục đào 2
hố thám sát. Một hố ở giữa hang và một hố ở cửa hang. Diện tích mỗi hố là 4
m
2
. Tầng văn hóa hang Đục có một lớp đất dày, mà ông gọi là lớp tro bếp,
toàn bằng vỏ ốc, bên dƣới là lớp đất thó (terre glaise) màu đỏ không chứa
hiện vật. Sau đó, ông còn cho đào thêm 1 hố dài 24 m, rộng 5 m. Ngoài số 9 công cụ thu đƣợc từ các hố đào này, Anderson còn nhặt đƣợc một số hiện vật
10 còn các di tích ngoài trời vắng mặt đồ xƣơng, đồ sừng, do bị tan rữa trong cát
bởi lớp trầm tích, nhƣng lại nhiều mảnh gốm hơn.
Cũng trong chuyến khảo sát này, J.G.Anderson còn phát hiện thêm
nhiều di chỉ khảo cổ khác nhƣ hang trên đảo đá Sinh Đôi (Des Jumeaux),
hang Ốc, hang Yên Ngựa (La Selle), hang Chữ Thập, hang Hàu… Ông đặc
biệt lƣu ý đến những nhóm cƣ dân tiền sử chuyên khai thác nhuyễn thể nƣớc
ngọt trƣớc lúc biển tiến [1, 1-19].
Cũng trong tháng 3 năm 1938, ông đã khảo sát di chỉ Đồng Mang (còn
viết là Dong Mau, Đồng Mô). Theo dấu hiệu do M. Colani đánh trên bản đồ
[11, 96], di chỉ Đồng Mang nằm ở phía Bắc phƣờng Hà Khẩu, bên bờ vịnh
Cái Lân thuộc thành phố Hạ Long ngày nay (Bản đồ 2).
Tại đây, J.G. Anderson khai quật ba hố nhƣng không công bố về di vật
[1, 39-42]. Hiện nay, sƣu tập hiện vật di chỉ Đồng Mang trong kho BTLSVN
do ông đƣa về gồm 4095 hiện vật đá, gốm của các loại hình công cụ sản xuất,
đồ dùng sinh hoạt và một ít đồ trang sức bằng đá. Anderson cho rằng đây là
một trong số những di chỉ quan trọng nhất của vùng này (Bảng 19:stt 7).
Sau khi đã sắp xếp xong công việc khai quật ở Đồng Mang, ngày 22-3-
1938, giáo sƣ Anderson đã cùng cô Dorf và một số ngƣời nữa tới Xích Thổ
(Xích Thổ hiện nay là thôn I, xã Thống Nhất, huyện Hoành Bồ). Di chỉ này
đƣợc coi là "Di chỉ thứ 3 của văn hóa Danh Do La" (tiếp theo phát hiện Ngọc
Vừng và Đồng Mang). Ngày hôm sau, ông đã tiến hành nghiên cứu một cách
hệ thống di chỉ này. Cuộc khai quật đã thu đƣợc hàng nghìn hiện vật bằng đá
gồm các loại rìu có vai, bôn tứ giác, bôn tứ giác có nấc, bôn có vai có nấc, bàn
mài rãnh, bàn mài lõm lòng chảo, hòn kê, chày nghiền, mảnh vòng… Trong
các hố thám sát L

tàng Hải Phòng.
Trong tổng số 8119 hiện vật thuộc 11 di chỉ tiền Hạ Long và văn hóa
Hạ Long có 4797 hiện vật đƣợc Bảo tàng Louis Finot quản lý bằng hệ thống
số kiểm kê Inventaire (Số I) của Bảo tàng. Trên cơ sở đó, năm 1970 và 1971,
Viện BTLSVN đã tiến hành kiểm kê, phân loại và đánh số lại cho 4797 hiện
vật tiền sử trên bằng hệ thống số đăng ký LSa. Số hiện vật này chủ yếu là đồ
đá và một số công cụ xƣơng, sừng. Trong qúa trình kiểm kê, nhận bàn giao 12 kho, chúng tôi phát hiện số hiện vật còn lại gồm 3322 mảnh gốm đƣợc xếp
trong 126 hộp gỗ vuông. Kích thƣớc hộp lớn 25 x 25 cm, hộp nhỏ 15 x 15 cm
(Ba 1:1,2). Các mảnh gốm này ở 2 địa điểm Ngọc Vừng và Đồng Mang do
J.G. Anderson và M. Colani khai quật năm 1937-1938. Các mảnh gốm đã
đƣợc viết số khai quật bằng mực màu xanh đen và sắp xếp cẩn thận trong các
hộp gỗ theo từng lô (lot), giữa các lô ngăn cách bằng lớp báo cũ và bông gòn.
Thông tin chung nhƣ tên di chỉ, số lô và chất liệu và số lƣợng hiện vật đƣợc
ghi bằng bút chì ở mặt trƣớc mỗi hộp. Mỗi lô kèm theo một mảnh giấy nhỏ
ghi thông tin chi tiết nhƣ ngày khai quật, địa điểm, số lô và số mảnh gốm
trong từng lô (Ba 1:3,4). Chúng tôi cho rằng toàn bộ số hiện vật này còn
nguyên hiện trạng từ khi đƣợc đƣa về Bảo tàng Louis Finot.
Tổng cộng có 126 hộp gỗ, trong đó 45 hộp thuộc di chỉ Ngọc Vừng
(gồm 1088 mảnh gốm) và 81 hộp thuộc di chỉ Đồng Mang (gồm 2234 mảnh
gốm) (Bảng 1:stt 6,7).
Chúng tôi cố gắng tìm kiếm trong các tài liệu đã công bố của Anderson
và Colani thông tin về hiện vật cũng nhƣ cố gắng xác định các lô (lot) này
thuộc vị trí hay lớp văn hóa nào trong di chỉ, tuy nhiên báo cáo khai quật và
nhật ký của hai nhà khoa học hoàn toàn không đề cập tới điều này. Hơn nữa,

tàng. Sƣu tập hiện vật này không những nhiều về số lƣợng, đầy đủ về loại
hình di vật mà còn thuộc 11 di chỉ ở các giai đoạn sớm, muộn khác nhau,
đem lại một cái nhìn khá toàn diện về văn hóa Hạ Long.
Sƣu tập hiện vật văn hóa Hạ Long là nguồn tƣ liệu có giá trị phục vụ
nghiên cứu về tiền sử Hạ Long và xây dựng hệ thống trƣng bày chính của
Bảo tàng. Hiện nay bộ sƣu tập này đang đƣợc quản lý theo từng di chỉ, sắp
xếp theo địa hình các ô, kệ trong kho (Ba 1:5). Thông tin về sƣu tập và từng
hiện vật đƣợc quản lý bằng hệ thống sổ đăng ký và phần mềm chƣơng trình
quản lý hiện vật bảo tàng, thuận tiện cho việc quản lý và tra cứu thông tin
một cách nhanh chóng, chính xác. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục
chỉnh lý và đƣa các tiêu bản gốm chọn lọc vào hệ thống quản lý LSa của Bảo
tàng. 14 Cho đến nay đã có hơn 30 di chỉ thuộc văn hoá Hạ Long đƣợc phát
hiện và nghiên cứu. Có thể thấy rằng các nhà khảo cổ học nƣớc ngoài là
ngƣời có công đầu trong việc phát hiện ra những di chỉ văn hoá Hạ Long,
nhƣng chính các nhà khảo cổ học Việt Nam mới là ngƣời làm sáng tỏ và tôn
vinh giá trị lịch sử và văn hoá của nền văn hoá này. Đã có những cuộc điều
tra, khai quật khá quy mô và thu đƣợc một số lƣợng lớn di vật. Hiểu biết của
chúng ta về khảo cổ học tiền sử vùng Đông Bắc ngày càng hoàn thiện, đầy đủ
hơn. Nhiều giai đoạn, thời đại văn hóa đã đƣợc làm sáng tỏ và lấp đầy các
khoảng trống phát triển văn hóa. Đây là cơ sở khoa học thuyết phục để chúng
ta đệ trình Hội đồng di sản thế giới UNESCO công nhận vịnh Hạ Long là di
sản thế giới lần thứ 3 với tiêu chí là Di sản văn hóa thế giới.
Tuy nhiên, do nhiều ngƣời, nhiều cơ quan tiến hành, ở vào các thời điểm
khác nhau, mức độ nghiên cứu và công bố tƣ liệu cũng khác nhau, cho nên

Hang Đục
41
6

47
2
Hang Thiên Tinh
4 4
3
Hà Giắt
78 78
4
Quất Đông Nam
871
6143
8
Xích Thổ
183 183
9
Cái Dăm
13

3
16
10
Tuần Châu
34

2
36
11

đƣa tới và đều bị nƣớc biển chiếm lĩnh. Các đảo vùng Hòn Gai đều có hƣớng
kéo dài Tây Bắc - Đông Nam. Chúng bị chặn lại ở đầu Tây Bắc bởi núi Bài
Thơ và hòn Cặp Bè (Bản đồ 2).
Nhà địa chất - khảo cổ học Thụy Điển Anderson là một trong số những
ngƣời chú ý nhiều nhất tới môi trƣờng sống của ngƣời tiền sử khu vực vịnh
Hạ Long và Bái Tử Long. Theo ông, lịch sử của qúa trình kiến tạo địa chất ấy
bao gồm một số nhân tố quy định môi trƣờng sống của ngƣời tiền sử nơi đây:
- Sự nâng lên của toàn vùng và các hoạt động cắt xẻ của các thung lũng
sông xuống tới độ sâu -30 m so với mực nƣớc biển hiện tại. Sự hủy hoại của
bình nguyên đá vôi và sự phát triển của các cánh đồng Karst.
- Những thay đổi thứ sinh của mực nƣớc biển lên tới độ cao 30 m so
với mực nƣớc hiện tại và sự cắt xẻ thành hệ thống hang động cổ từ độ cao 30
m xuống tới độ cao của mực nƣớc biển hiện tại. 17 - Các hang cổ bị lấp đầy bởi các trầm tích giăm kết. Qúa trình hình
thành hệ thống hang động trẻ thông qua sự chuyển rời từng phần lƣợng giăm
kết này [1, 25].
Nhƣ vậy, những kết luận của Anderson về địa chất khu vực vịnh Hạ
Long gắn liền với vai trò của biển, đặc biệt là sự thay đổi của mực nƣớc đại
dƣơng trong tiến trình hàng trăm triệu năm để tạo nên những môi trƣờng sống
khác nhau cho qúa trình phát triển của xã hội tiền sử khu vực này, nhất là vào
giai đoạn Holocène, đƣờng bờ biển còn cách xa ngoài đƣờng bờ biển hiện tại.
Ở Việt Nam, H. Fontaine và G. Dilibrias cho rằng mực nƣớc biển
Holocène cao nhất 4 m vào 4500 năm và hạ thấp dần cho đến hiện nay [20,
42]. Gần đây, Trần Đức Thạnh đã tổng hợp tài liệu hiện có về địa mạo, địa
tầng - tƣớng trầm tích và tham khảo một số niên đại C

Kho hiện vật tại BTLSVN hiện nay gồm 11 sƣu tập hiện vật về Hạ
Long, gồm 8119 hiện vật thuộc nhiều chất liệu và loại hình công cụ. Trong đó
3 sƣu tập hiện vật tiền văn hóa Hạ Long có niên đại sơ kỳ đá mới (Hang Đục,
hang Thiên Tinh, Hà Giắt); 9 sƣu tập hiện vật thuộc văn hóa Hạ Long.
Căn cứ vào tổng thể các yếu tố, cho đến nay hầu hết các nhà nghiên cứu
đều coi văn hóa Hạ Long là văn hóa hậu kỳ đá mới, phát triển qua hai giai
đoạn sớm và muộn. Giai đoạn sớm điển hình là các địa điểm phân bố ở phía
Bắc phạm vi của văn hóa này, chủ yếu ở địa bàn huyện Hải Ninh (tiêu biểu là
di chỉ Quất Đông Nam). So với giai đoạn muộn thì số lƣợng di chỉ giai đoạn
sớm ít hơn. Trong giai đoạn này, tính liên tục của truyền thống khu vực thể
hiện rất rõ ở sự tồn tại của nhóm công cụ ghè đẽo, các công cụ đƣợc sử dụng
từ những hòn cuội không qua khâu chế tác, và các công cụ mài chƣa hết vết
ghè điển hình của văn hóa Bắc Sơn. Ngƣợc lại, giai đoạn muộn thể hiện rất rõ
những phát triển mới trong kỹ thuật chế tác đá, chế tạo đồ gốm và thể hiện rất
đặc trƣng các yếu tố của văn hóa Hạ Long, kể cả những yếu tố văn hóa là kết
quả của qúa trình giao lƣu, trao đổi. Tiêu biểu cho giai đoạn này là các di chỉ
phân bố ở khu vực vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, thuộc các huyện Cẩm
Phả, Vân Đồn, Hoành Bồ và thành phố Hạ Long. Riêng di chỉ Cát Bà hiện
nay thuộc thành phố Hải Phòng.
Dƣới đây chúng ta sẽ xem xét các giai đoạn đó thông qua các sƣu tập
hiện vật thuộc những địa điểm khảo cổ học cụ thể. 19 1. SƢU TẬP HIỆN VẬT DI CHỈ HANG ĐỘNG.
Anderson là một trong số những chú ý nhiều nhất tới việc hình thành
các hang động - một trong những môi trƣờng sống quan trọng nhất của ngƣời
tiền sử trên các đảo thuộc vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Theo ông, những

ngoài vào, nền hang dốc nhẹ vào phía trong cho tới gần các cột nhũ đá ở
khoảng giữa, có độ cao so với mực nƣớc biển 1 m. Sở dĩ ngoài cửa hang có
độ cao khoảng 3 m so với mực nƣớc biển là nhờ các tích tụ một khối lƣợng
lớn các tảng đá vôi khá to và góc cạnh rơi từ trên các vách đá xuống. Điều
đáng chú ý nhất là trầm tích nhuyễn thể không kết khối phủ khắp bề mặt phía
ngoài thuộc phần hang đƣợc chiếu sáng nhiều, vào tới tận các cột nhũ đá ở
giữa hang. Điều này hoàn toàn khác với hiện tƣợng trầm tích nhuyễn thể kết
khối xi măng rắn chắc tìm thấy ở hầu hết các hang trong văn hóa Hạ Long,
mà hang Thiên Tinh là một điển hình. Ở hang Đục, một khối lƣợng vỏ nhuyễn
thể lớn nhất (dài 45 m, rộng 28 m) đã đƣợc phát hiện so với các đảo ở khu
vực này. Trầm tích phân bố dày nhất ở ngoài cửa hang, nơi đây có một rãnh
lớn, sâu 1,8 m gồm vỏ nhuyễn thể trộn lẫn các mảnh đá vôi lớn. Sâu vào phía
trong hang, độ dày trầm tích giảm xuống từ 0,8-0,6 m và xuống tới 0,1 m ở
phía gần nhũ đá giữa hang. Có thể cửa hang là nơi ngƣời tiền sử ƣa thích ngồi
ăn loài nhuyễn thể này (Sơ đồ 1).
Trong khu vực phân bố trầm tích nhuyễn thể, có khoảng 10 hố gần hình
tròn, sâu khoảng 0,5 m. Có 2 cách lý giải về hiện tƣợng này:
- Mỗi hố có thể là một cái bếp mà ngƣời tiền sử đã tập trung xung
quanh nấu nƣớng, ăn uống.
- Trong các hố lại có những đồ vật hiện đại (vòng tay thủy tinh bị vỡ),
khiến J.G. Anderson cho là những cái hố này do những ngƣời đi tìm báu vật
tạo ra, ngẫu nhiên mà họ đánh rơi cả đồ trang sức trong khi đào bới [1, 34-
39]. 21 Chiếm số lƣợng ƣu thế trong trầm tích nhuyễn thể ở hang Đục là ốc
nƣớc ngọt. Anderson gọi chúng là "La Coquille du Grotte" (Ốc hang). Bên

2.
Rìu
4
9,8
Gồm 2 rìu ngắn, 1 rìu tứ
giác, 1 rìu có vai
3.
Bôn tứ giác
2
4,8
22 4.
Hòn kê và chày
4
9,8
Gồm 1 hòn kê, 3 chày
5.
Mảnh bàn mài rãnh
1
2,4

6.
Mảnh công cụ
3
7,3

Gồm 4 chiếc, chiếm 9,8 % tổng số công cụ đá. Căn cứ vào hình dáng,
chia làm 3 nhóm:
a. Rìu ngắn.
Gồm 2 rìu ngắn đốc phẳng, đƣợc gia công 2 mặt, tƣơng tự công cụ
cùng loại trong văn hóa Hòa Bình:
- Rìu ngắn (Bv 1:1, Ba 2:2) làm từ đá cuội, màu xám đen. Đốc hơi xiên.
2 mặt mài chƣa hết vết ghè đẽo. Các vết ghè từ 2 mặt tạo
rìa tác dụng sắc. Kỹ thuật chế tác hiện vật này cũng thấy ở
rìu ngắn di chỉ Hòn Ngò (Bản vẽ) - một di chỉ đƣợc xếp
vào giai đoạn sớm của văn hóa Hạ Long.
7
D: 2,5 cm, R:
2,7 cm, Dy: 2,1 cm.
- Rìu ngắn (Ba 2:3) gần hình bán nguyệt, bằng cuội
granite, màu xám nâu. Đốc thẳng. 2 mặt có nhiều vết ghè
đẽo sơ sài tạo đốc cầm và rìa tác dụng. Rìa tác dụng cong
lồi, 2 bên có vết mài mòn, giữa có nhiều vết vỡ mẻ. D: 8,1
cm, R: 18,9 cm, Dy: 4 cm.
b. Rìu tứ giác: 1 chiếc (Ba 2:4) bằng đá màu xám, mặt
cắt ngang thân hình chữ nhật. Đốc hơi cong lồi và có vết vỡ
do sử dụng. Vết mài có ở thân nhƣng mài tập trung ở lƣỡi.
Lƣỡi mài vát 2 bên khá cân đối và hơi xiên. D: 12,6 cm, R:
6,6 cm, Dy: 3 cm.

24
c. Rìu có vai: 1 chiếc (Bv 1:2, Ba 2:5) bằng đá màu xám
nhạt. Mặt cắt ngang thân hình thoi. Đốc thẳng. Vai rất mờ nhạt,
chỉ là vết ghè lõm vào 2 rìa cạnh. Thân mài chƣa hết các vết
ghè. Lƣỡi mài vát 2 bên, rìa lƣỡi cong lồi. D: 9,8 cm, R: 8,4
cm, Dy: 2,3 cm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status