TÌM HIỂU BỘ SƯU TẬP HIỆN VẬT VĂN HÓA SA HUỲNH
TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM
Bảo tàng lịch sử quốc gia được thành lập theo Quyết định số 1674/QĐTTg ngày 26/09/2011 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam trên cơ sở sáp nhập
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Cách mạng Việt Nam; Bảo tàng Lịch
sử quốc gia là một công trình văn hóa tọa lạc ngay tại quận Hoàn Kiếm, trung
tâm của Thủ đô Hà Nội, gần với khu quần thể di tích linh thiêng của Thủ đô
như Tháp Rùa- Hồ Gươm; Cầu Thê Húc- Đền Ngọc Sơn- Bút tháp và nhiều
công trình văn hóa nổi tiếng khác như Nhà hát lớn…Đây là Bảo tàng lưu giữ,
trưng bày, giới thiệu lịch sử Việt Nam từ thời Tiền sử đến ngày nay một cách
tổng hợp, phong phú, liên tục và toàn diện nhất.
Bảo tàng Lịch sử quốc gia là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đứng đầu hệ thống các bảo tàng lịch sử- xã hội
Việt Nam; có chức năng nghiên cứu khoa học, khai quật khảo cổ học, sưu
tầm, lưu giữ, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, giới thiệu, phát huy giá trị tài liệu,
hiện vật về tiến trình lịch sử Việt Nam;
Bảo
tàng
Lịch
sử
quốc
gia hiện đang
lưu
giữ
văn hóa Đồng Nai ở Đông Nam Bộ, tương ứng với thời kỳ các vua Hùng
dựng nước Văn Lang, An Dương Vương lập nước Âu Lạc… Văn hóa Sa
Huỳnh là một trong 3 nền văn hóa lớn trong thời đại kim khí của nước ta, văn
hóa Sa Huỳnh đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển lịch sử
dân tộc, cho nên văn hóa Sa Huỳnh được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan
tâm. Cách đây hơn 100 năm, năm 1909 những dấu vết đầu tiên của văn hóa
Sa Huỳnh được biết đến với gần ngàn mộ chum với nhiều đồ tùy táng được
đưa lên khỏi lòng đất Sa Huỳnh. Sự hiểu biết về văn hóa Sa Huỳnh chỉ được
thực sự mở rộng, đẩy mạnh và nâng cao sau ngày đất nước thống nhất, cho
đến nay chúng ta đã có trong tay khối tư liệu đồ sộ của ít nhất trên 60 di tích
Sa Huỳnh hay dạng Sa Huỳnh hoặc có gắn bó với văn hóa Sa Huỳnh, qua đó
ta có thể khái quát và gợi ra nhiều vấn đề dẫn tới việc hiểu biết khá toàn diện
về nền văn hóa nổi tiếng này.
Số di tích thuộc phổ hệ văn hóa Sa Huỳnh phân bố trong một không
gian rộng lớn trên mọi địa hình khác nhau từ đồng bằng lên cao nguyên, từ
đảo biển đến núi rừng. Tuy nhiên nếu xem xét kĩ ta sẽ thấy phần lớn các di
tích đều tập trung ở các ven sông, bên các đầm hồ nước ngọt (điều này được
quy định bởi các phương thức sống chủ yếu và nh cầu sống của con người
thời đó) các di tích sớm với số lượng nhiều thường phân bố rộng nhưng tập
trung ở vùng bờ biển, đối với các di tích Sa Huỳnh cổ điển ( Sa Huỳnh sắt) thì
các di tích sớm thường phân bố ở vùng ven biển có xu thế lan tỏa sâu vào nội
địavà lan đến khu vực miền núi tây nguyên và xa hơn, các khu di tích Sa
Huỳnh được phân bố thành cụm quanh các vùng có vị trí địa lí thuận lợi và có
tiềm năng phát triển kinh tế, mở rộng như Hội An, Cần Giờ, Xuân Lộc...
Qua nhiều ý kiến nhận xét đánh giá về sự phát triển của văn hóa Sa
Huỳnh thỳ các nhà nghiê cứu đều cho rằng văn hóa Sa Huỳnh thuộc thời đại
kim khí, đầu thời kì đồ sắt. Tuy nhiên, còn nhiều ý kiến cho rằng nó thuộc
thời đại đồng thau. Và Bảo tàng lịch sử quốc gia đã có cuộc hội thảo về văn
văn hóa Sa Huỳnh, loại hình hiện vật gốm được tìm thấy nhiều nhất nó
chiếm vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của cư dân
văn hóa Sa Huỳnh.
Những hiện vật gốm văn hóa Sa Huỳnh chủ yếu được phát hiện trong các
di tích mộ táng, chúng là những đồ tùy táng, được chôn cất theo khi người
Sa Huỳnh mất.
Do loại hình hiện vật gốm là chủ yếu trong các di tích, di chỉ thuộc vă hóa
Sa Huỳnh, nên phòng trưng bày đã trưng bày một số lượng lớn những loại
hình hiện vật gốm, bao gồm:Lọ hoa, nồi gốm, nồi minh khí, đèn gốm, bát
chân cao, bình gốm, đồ đựng, các loại chân đế, chum mai táng... Đây là
những hiện vật và sưu tâp gốm tiêu biểu về văn hóa Sa Huỳnh.
a, Nồi gốm ở phòng trưng bày
Có 4 loại tiêu biểu:
+ Nồi gốm ở Phú Nhuận, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (chất liệu thô
chắc, màu vàng xám có tô ánh chì, có đáy tròn, bụng phình miệng loe
xiên, cổ ngắn, bản miệng hơi bẻ ra, cao 11,5 cm, đường kính đáy 15,5
cm, dày 0,6 cm, đường kính miệng 12cm, đường kính bụng 49cm).
Nồi gốm này có đáy tròn, bụng phình miệng loe xiên, cổ ngắn, bản miệng
hơi bẻ ra. Từ mép ra hết phần cổ nồi được miết nhẵn và tô ánh chì, thân
có 4 đường vạch gần như song song chạy quanh thân nồi tròn, nền vặn
thừng. Bên trong đường vạch đơn có đường vạch xiên héo, có chỗ tạo ô
trám. Phần đáy có vặn thừng đập chéo cắt nhau tạo lên độ bền chắc.
+ Nồi gốm ở Bình Châu ( là những nồi gốm có miệng loe, cổ thắt,
thân hình cầu phình rộng, đôi khi tạo thành gờ nổi, đáy tròn nhọn.
Được chia làm 4 loại:
Loại 1: Nồi có miệng lọc bên ngoài có gờ nổi. Trên thành miệng
tô màu đen ánh chì. Bên ngoài, phía trên gờ nổi ở miệng có băng
hoa tô mầu đen ánh chì. Trừ phần vai đến phần rộng nhất ở thân nồi
miệng bằng hoặc lõm hình lòng máng, thân hình cầu, đáy tròn hay
chân đế thấp. Trên bản miệng trang trí những đường rạch ngắn song
song, trên vai nồi thường trang trí hoa văn khắc vạch.
Nồi đã xuất hiện trang trí vẽ màu, trên miệng (cả bên trong và bên
ngoài) và trong cổ nồi tô màu đỏ thổ hoàng. Trên nền tô màu thổ
hoàng, bên ngoài rồi từ miệng đến đáy có trang trí các băng hoa văn tô
màu đen ánh chì và khắc vạch xen kẽ nhau. Trong miệng, phần lõm
hình lòng máng trang trí băng tô đen ánh chì và băng khắc vạch chéo
-
nhau. ở phần cổ trang trí như bên ngoài nồi.
Loại 2: Nồi có thành miệng thấp, loe cong, bụng nở, đáy tròn, không
-
có hoa văn trang trí.
Loai 3: Nồi có thành miệng cao, cổ thắt, thân phình rộng, có gờ gãy
góc, đáy tròn nhọn. Từ dưới thành miệng đến cổ trang trí tô màu đen,
ánh chì. Bài trên gờ mổi ở chân trang trí hoa văn thừng. Bài dưới gờ
-
nổi đến đáy không trang trí hoa văn.
Loại 4: nồi có thành miệng thấp, loe cong, thân phình rộng, có gờ gãy
góc, đáy tròn dẹt. Trên gờ gãy góc ở thân nồi có băng trang trí hoa văn
khắc vạch họa tiết chữ S nối nhau và tam giác đệm. Trong họa tiết S tô
màu đen ánh chì và bên ngoài họa tiết S in mép vỏ sò.
vạch song song, có 4 đến 13 nhóm, mỗi nhóm kiểu 2 đến 4 vạch, đối xứng
nhau từng đôi một. Giữa các đường song song có văn trám đầu que chạy xiên
thuộc mưa rào, giữa các đường cong là các vạch tạo hình tam giác. Vàn ngoài
miệng có hai hàng văn. Đầu que tròn. Mặt dưới vành ngoài có từng nhóm 3
đứng vạch song song ngắn,hoa văn chữ V, trang trí đối xứng, thân phân biệt
với đường miệng bởi hai đường vạch chay song song quanh thân. Thân trang
trí hoa văn hình chữ nhật lồng vào nhau.
e, Chum mai táng:
-
+ Chum mai táng tìm thấy ở khu vưc Long Thạnh, thuộc huyện Đức
Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, có thân hình trứng, vai nở, miệng loe, thành
miệng thấp đáy chum tròn hơi nhọn. Từ phần vai đến đáy chum có
trang trí hoa văn thừng hay chỉa. Chum có kích thước lớn, có nắp đậy
hình lồng bàn úp, nắp đậy có núm cầm nhỏ, thấp ở giữa, đều có hoa
văn trang trí, hoa văn khắc vạch kết hợp với ra mép vỏ sò và tô màu
đen ánh chì phủ kín bề mặt, nắp đậy có kích thước lớn. Chum có niên
-
đại cách ngày nay khoảng 3000 năm.
+ Chum mai táng tìm thấy ở An Bang, Hội An, tỉnh Quảng Nam, có
dáng thẳng, miệng loe, có nắp đậy, hình nón cụt hay hơi bằng, hoa văn
khắc vạch, có màu đỏ thổ hoàng. Chum được xác định có niên đại cách
-
ngày nay khoảng 2000 năm.
+ Chum mai táng ở Tam Mĩ, Núi Thành, Quảng Nam, có nắp đậy hình
nón cụt, nắp đậy thường có băng hoa văn khắc vạch trang trí bên dưới
Đồ dùng bằng kim loại dược trưng bày ở đây gồm có công cụ, vũ khí bằng sắt
như dao găm cán tượng voi tìm thấy ở Đại Lãnh, và Tam Mĩ, huyện Núi
Thành, Quảng Nam, dao găm và giáo hình lá lứa rất giống những hiện vật
đồng thau của văn hóa Đông Sơn. Các nhà nghiên cứu cho rằng có thể những
hiện vật đồng thau này có thể do cư dân văn hóa Sa Huỳnh đã trao đổi hay
giao lưu trực tiếp với cư dân văn hóa Đông Sơn. Ngoài ra còn có các hiện vật
bằng kim loai khác như nhạc đồng ở Sa Huỳnh, gốm có đinh sắt ở Phù Lu.
Thông qua những di vật được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử quốc gia về văn
hóa Sa Huỳnh ta nhận biết được một số đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh như
sau:
a.
Về công cụ sản xuất:
Công cụ sản xuất của cư dân văn hóa Sa Huỳnh giai đoạn sơ kỳ chủ
yếu là các loại rìu, cuốc bằng đá. Trong đó tiêu biểu nhất là loại rìu,
cuốc có vai xuôi, và loại rìu, cuốc đốc thu hẹp lưỡi xòe rộng, những
loại công cụ này còn tồn tai đến trung kỳ.
Ở giai đoạn trung kỳ, ngoài những loại công cụ sản xuất kế thừa từ giai
đoạn sơ kì, cư dân văn hóa Sa Huỳnh đã có kỹ nghệ luyện kim đồng thau
và sắt, công cụ sản xuất bằng đồng thau đã xuất hiện, chúng dần dần thay
thế công cụ sản xuât bằng đá.
ở giai đoạn hậu kỳ, công cụ sản xuất của cư dân văn hóa Sa Huỳnh rất
phát triển và chủ yếu là công cụ bằng sắt.
Như vậy, công cụ sản xuất của cư dân văn hóa Sa Huỳnh từ giai đoạn so
kỳ đến giai doạn hậu kỳ là những công cụ sản xuất của cư dân nông
nghiệp trồng lúa nước mà trong đó tiêu biểu nhất là các loại rìu và cuốc.
Hai loại công cụ này có dáng hình ổn định rừ đá sang sắt. Điều này đã
văn hóa sa Huỳnh, đồ gốm văn hóa Sa Huỳnh rất phong phú và đa dạng về
mặt loại hình cũng như là hoa văn trang trí, đặc biệt là gốm tùy táng trong
các mộ chum. Chúng t có thể nhận thấy nét đặc trưng tiêu biểu về mặt loại
hình là sự phổ biến các loại nồi, bình, có gờ gãy góc trên thân hay trên vai
và loại bát sâu lòng có chân đế cao. Chúng ta cũng nhận biết thủ pháp
trang trí gốm của cư dân văn hóa Sa Huỳnh là khắc vạch với nhiều họa tết,
kết hợp với in mép vỏ sò (hay in dấu thừng) và tô màu (màu đỏ hay màu
đen ánh chì) thành các băng ngang trên gốm. Những loại hình và hoa văn
trang trí đặc trưng này đã tồn tại từ giai đoạn Sa Huỳnh sơ kỳ đến giai
đoạn Sa Huỳnh hậu kỳ. Tuy nhiên, đồ gốm trong các di tích thuộc giai
đoạn sớm được tạo dáng mềm mại, thanh thoát. Gốm có hoa văn trang trí
rất phong phú, gồm nhiều họa tiết đường cong uốn lượn mềm mại. Hoa
văn in mép vỏ sò và tô màu đen rất phổ biến. Ngược lại, đồ gốm trong các
di tích thuộc giai đoạn muộn được tạo dáng cứng hơn và góc cạnh hơn. Ở
giai đoạn này đã xuất hiện loại hiện vật mới như “Đèn Sa Huỳnh”. Hoa
văn trang trí trên gốm giai đoạn này đơn điệu hơn, cứng hơn các giai đoạn
trước. Hoa văn trang trí chủ yếu là các hình học hay đường gãy khúc. Hoa
văn in mép vỏ sò và tô màu đen ánh chì cũng ít phổ biến hơn mà thay vào
đó là màu đỏ thổ hoàng.
Như vậy, trong quá trình phát triển, đồ gốm văn hóa Sa Huỳnh đã
đóng vai trò quan trọng, thể hiện trình độ nhận thức cao của người cổ Sa
Huỳnh, họ đã tiếp thu và biến đôi nhuần nhị các yếu tố văn hóa từ bên
ngoài đề phát triển mạnh mẽ các yếu tố nội sinh bên trong. Đồng thời
trong các phương thức sống, bên cạnh nền tảng sản xuất nông nghiệp và
kinh tế chài lưới, người cổ Sa Huỳnh đã dần thiết lập được những trung
tâm sản xuất thủ công mà điển hình là những trung tâm sản xuất đồ gốm,
đồ sắt và đồ trang sức. Đó chính là những tiền đề cho sựu phát triển giao
lưu buôn bán để tiến tới sự ra đời của các cảng thị.
hiện vật có giá trị cao về mặt lịch sử, cũng như một cuốn sử “sống” viết về vă
hóa Sa Huỳnh. Đó là những hiện vật để chứng minh tính phát triển liên tục
của nền văn hóa và đồng thời cũng khẳng định tính bản địa của nền văn hóa
Sa Huỳnh đã tồn tại và phát triển trên đất nước ta trong thời đại kim khí cách
ngày nay khoảng 3000 năm.
Giá trị văn hóa:
Những hiện vật được trưng bày tại bảo tàng là hiện vật gốc của văn hóa
Sa Huỳnh, nó có giá trị và ý nghĩa cho việc nghiên cứu về văn hóa Sa
Huỳnh.Tồn tại như một chỉnh thể văn hóa, Sa Huỳnh đã để lại dấu ấn của
mình ngay từ giai đoạn sớm trong các văn hóa thời đại kim khí ở hải đảo
Đông Nam Á, đặc biệt là Philipin, Đài Loan, Hương Cảng... mà hiện vật Sa
Huỳnh tiêu biểu như khuyên tai hai đầu thú và khuyên tai có mấu đã từng
được phát hiện ở các nơi trên.
Đặc trưng của những di vật này đã cung cấp những nhận thức cụ thể
nhiều mặt về những giai đoạn hội tụ những dòng chảy để hình thành Sa
Huỳnh đỉnh cao. Các cư dân Sa Huỳnh không những phân bố dọc
duyên hải miền Trung mà còn phân bố ở các vùng trung du, hải đảo đến
tận Phú Quốc. Sự phân bố khác nhau này đã tạo trong văn hoa Sa
Huỳnh một sự đa sắc van hóa trong khối nền chung. Săc thái văn hóa
núi đã dần hiện lên như những nét độc đáo của văn hóa Sa Huỳnh bên
cạnh các sắc thái văn hóa biển truyền thống.
Các di tích được phát hiện trước kia chỉ bao gồm các khu mộ
táng, thực ra ở phần lớn các di tích đã biết thường có khu cư trú liền kề,
những do hạn chế về nhận thức và phương pháp của một số người
nghiên cứu trước nên chỉ ghi nhận có hiện tượng mộ táng, hàng loạt các
di tích có các khu cư trú dày đã được phát hiện sau giải phóng miền
đưa vào sáng tạo nghệ thuật. Nó toát lên cho chúng ta thấy những sắc
thái tâm lý riêng của cư dân Sa Huỳnh, họ là những người ưa chuộng
màu sắc của tụ nhiên: màu vàng, trắng, đỏ của đồ gốm, màu xanh của
nước biển của thủy tinh và đồ trang sức, màu đen ánh chì của hoa văn
gốm... tất cả hội tụ lại, toát lên một cuộc sống nội tâm của người Sa
Huỳnh tươi mát, giản dị và yêu tự nhiên.
Kết luận
Trên đất nước ta vào thời đại kim khí có 3 văn hóa song song tồn tai và
phát triển rực rỡ bên nhau, đó là văn hóa Đông Sơn, văn hóa Dốc chùa và
văn hóa Sa Huỳnh. Ba văn hóa này được nảy sinh từ những nền tảng
chung của các văn hóa thời đá mới trong khu vực, chung có con đường
phát triển riêng độc lập. Song trong quá trình phát triển của mình từ sơ kỳ
thời đại đồng thau đến sơ kỳ thời đại sắt, ba văn hóa này không chỉ có mối
liên hệ, giao lưu , trao đổi nhiều chiều với nhau mà chúng còn có mỗi liên
hệ, giao lưu, trao đổi với các thời đại kim khí khác ở Việt Nam và Đông
Nam Á. Trong quá trình đó, cả ba văn hóa đều tiếp nhận nhiều yếu tố văn
hóa ngoại sinh và bản địa hóa các yếu tố văn hóa này làm phong phú di
sản văn hóa của mình, đồng thời cả ba văn hóa trên đều đã phát triển đến
đỉnh cao của sự rực rỡ vào đầu thời đại sắt và lan tỏa ảnh hưởng của mình
ra toàn vùng Đông Nam Á sự dịch chuyển” các mối quan hệ, giao lưu văn
hóa Bắc – Nam. Do vậy, bộ sưu tập về văn hóa Sa Huỳnh ở Bảo tàng lịch
sử quốc gia là cần thiết, bởi vì việc trưng bày nhằm giới thiệu cho các nhà
nhiên cứu, khách tham quan trong và ngoài nước được trực tiếp tiếp xúc
với những hiện vật gốc được trưng bày để hiểu rõ hơn tính bản địa của
văn hóa Sa Huỳnh và khẳng định rằng văn hóa Sa Huỳnh đã phát triển rực
Mâm gốm
Mâm gốm thuộc văn hóa Sa Huỳnh