Mở đầu
1.
Lý do chọn đề tài
Thực chất đồ gốm cổ lưu truyền lại tới ngày nay đã vượt ra ngoài giá trị sử
dụng, nó có giá trị như một chính thể nghệ thuật. Nó vượt qua cả giới hạn thời
gian và ý nghĩa khởi nguyên để tụ lại đó một mảnh tâm hồn. Và trong ý thức của
chúng ta ngày nay, nó mang ý nghĩa là tư liệu lịch sử vô giá.
Gốm không chỉ là tinh thần của dân tộc mà còn là bản sắc văn hóa được giữ
gìn từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó cũng là quá trình bảo tồn sự sống của tổ
tiên ta.
Hiện nay, gốm Việt nói chung và gốm Chu Đậu nói riêng đã được quan tâm
nghiên cứu. Song các đợt khai quật khảo cổ học tại trung tâm gốm Chu Đậu
cũng chỉ giúp các nhà nghiên cứu tìm thấy ở đây phần lớn các hiện vật là dấu vết
của lò nung, các mảnh vỡ. Còn các sản phẩm nguyên lành, cao cấp dùng cho
trao đổi buôn bán thì thấy rất ít. Chính vì thế, cuộc khai quật thành công tàu đắm
cổ Cù Lao Chàm tại Quảng Nam – Đà Nẵng từ năm 1997 - 2000, không những
đã đánh dấu một bước hình thành và phát triển của ngành khảo cổ học dưới
nước hơn 240.000 hiện vật nguyên vẹn và hàng vạn ngàn mảnh vỡ các loại.
Trong số đótheo sự nghiên cứu, đánh giá, nhận xét của các nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước thì hầu hết hiện vật thu được là đồ gốm có nguồn gốc từ Chu Đậu
– Hải Dương – Một trung tâm sản xuất gốm sứ cổ lớn của nước ta thế kỷ XIV XVII, được phát hiện và khai quật năm 1986. Sưu tập gốm Chu Đậu trong tàu
đắm cổ Cù Lao Chàm thực sự không chỉ là những cổ vật có giá trị to lớn về mặt
kinh tế mà nó còn là nguồn tư liệu quan trọng bổ sung vào việc nghiên cứu lịch
sử gốm sứ Việt Nam nói chung và Chu Đậu nói riêng ở tất cả phương diện như:
loại hình hoa văn, màu men, kỹ thuật,… Đồng thời, với kết quả này khi nghiên
cứu về nó, phần nào chúng ta còn được cung cấp những thông tin quan trọng về
tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa nghệ thuật của Việt Nam lúc bấy giờ.
Qua những lần tham quan và học hỏi tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, em
cũng đặc biệt chú ý tới sưu tập gốm độc bản Chu Đậu ở tàu đắm cổ Cù Lao
1
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA
VÀ GỐM CHU ĐẬU
1.1.
Giới thiệu về Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia được thành lập trên cơ sở sáp nhập giữa Bảo
tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Đây là các bảo tàng
thuộc hệ thống bảo tàng quốc gia Việt Nam được ra đời từ rất sớm.
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là một trong những bảo tàng được thành lập
sớm nhất trên cơ sở kế thừa cơ sở vật chất của Bảo tàng Loui Finô (Louis Finot)
- một bảo tàng thuộc Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, xây dựng năm 1926,
khánh thành năm 1932. Năm 1958, Chính phủ Việt Nam chính thức tiếp quản
công trình văn hóa này và xúc tiến nghiên cứu, sưu tầm, bổ sung tài liệu hiện
vật, chuyển đổi nội dung từ bảo tàng nghệ thuật thành bảo tàng lịch sử. Ngày
3/9/1958 BTLSVN chính thức mở cửa đón khách tham quan.
Kiến trúc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam nguyên là Sở Thương chính Đông
Dương do người Pháp xây dựng năm 1917. Hệ thống trưng bày của Bảo tàng
Cách mạng Việt Nam được các cán bộ bảo tàng đầu tiên của Việt Nam xây dựng
và đi vào hoạt động phục vụ công chúng từ ngày 6-1-1959.
- Hệ thống trưng bày chính của bảo tàng - cuốn sử sống của dân tộc Việt
Nam từ thời Tiền sử (cách ngày nay khoảng 30 - 40 vạn năm) đến ngày nay. Với
diện tích trưng bày gần 4.000 m2, với khoảng 10.000 tư liệu hiện vật, hệ thống
trưng bày chính của bảo tàng được thể hiện theo nguyên tắc trưng bày niên biểu,
lấy sự phong phú của sưu tập hiện vật làm ngôn ngữ biểu đạt chính, kết hợp giữa
trưng bày phản ánh giai đoạn và sự kiện lịch sử với trưng bày sưu tập theo
hướng trưng bày mở, tạo điều kiện để có thể cập nhật những tư liệu hiện vật mới
do công tác nghiên cứu sưu tầm đem lại, làm cho "diện mạo" trưng bày luôn mới
mẻ, hấp dẫn người xem. Cùng mục đích ấy, bảo tàng thường xuyên tổ chức các
cuộc trưng bày chuyên đề và với hệ thống màn hình ti vi, màn hình cảm ứng
hiện đại với hình ảnh phong phú, sống động, những dữ liệu khoa học chân xác
một trung tâm sản xuất gốm sứ.
Tuy các hiện vật nguyên lành thu được trong các đợt khai quật không được
nhiều, nhưng với số lượng hiện vật phong phú, đa dạng cộng với các sản phẩm
là dấu vết của lò nung như: bao nung, xỉ than, con kê, đất sét, các chống dính
4
sụn… đã cho phép chúng ta khẳng định Chu Đậu là một trung tâm sản xuất gốm
sứ lớn của Hải Dương nói riêng và Việt Nam nói chung. Đồng thời theo nhận
định của các nhà nghiên cứu thì trung tâm sản xuất gốm sứ Chu Đậu được bắt
đầu từ thế kỷ XIV, phát triển rực rỡ vào thế kỷ XV, XVI và tàn lụi vào thế kỷ
XVII.
Việc nghiên cứu di chỉ Chu Đậu trước đây chưa được quan tâm nhiều, song
từ khi các đợt khai quật được tiến hành tại di chỉ này, cùng với việc đưa lên khỏi
lòng đất Chu Đậu các hiện vật thì các công trình nghiên cứu, các bài viết của các
chuyên gia trong và ngoài nước cũng lần lượt ra đời.
Sự kiện này đã đánh dấu một bước nghiên cứu tương đối tập trung, tổng
hợp và toàn diện về gốm Chu Đậu.
Đồng thời, cuộc khai quật thành công tàu đắm ở Cù Lao Chàm với loại
hình phong phú, hoa văn, màu men đa dạng, được xác định là gốm Chu Đậu thế
kỷ XV, đã bổ sung nhiều nguồn tư liệu quan trọng trong việc nghiên cứu gốm
Chu Đậu nói riêng và gốm Việt nói chung một cách toàn diện hơn và sâu hơn.
Chương 2
SƯU TẬP GỐM ĐỘC BẢN CHU ĐẬU Ở TÀU ĐẮM CỔ CÙ LAO
CHÀM TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA
2.1. Khái quát chung về bộ sưu tập gốm độc bản Chu Đậu ở tàu đắm
cổ
5
Quốc gia. Tuy không phải là đại diện của từng loại hình nhưng cũng đủ thấy sự
phong phú về loại hình, đa dạng về màu men, hoa văn trang trí.
2.2. Cái nhìn chi tiết về một vài hiện vật thuộc bộ sưu tập gốm độc bản
Chu Đậu ở tàu đắm cổ
6
2.2.1. Loại hình
* Đĩa:
Là loại hình có số lượng tương đối đa dạng với nhiều kiểu dáng và hoa
văn phong phú. Có thể kể ra một số loại như sau:
+ Đĩa hoa lam:
Loại này có kiểu dáng chính là miệng loe, gờ miệng dày, phía trong gờ có
rãnh lõm hình lòng máng, thành cong lòng phẳng, chân đế thấp rộng. Hầu hết
các đĩa trang trí theo kiểu vẽ lam, thành ngoài vẽ cánh sen kép, bên trong có
xoắn ốc, trong lòng đĩa thường vẽ 3 tầng hoa văn bao quanh ô chính giữa: Tầng
một vẽ bằng chữ “tỉnh”, tầng 2 vẽ dây hoa lá, tầng 3 vẽ cánh hoa (hoặc mây
cụm). Chính giữa lòng đĩa thường vẽ chim mỏ dài, chân cao, thiên nga với cây
cỏ, cá quả ngửa bụng đớp mồi, cá uốn mình trong đám cỏ nước, lợn và cây cỏ…
miêu tả rất hiện thực. Có chiếc vẽ hình người đội ngũ, ngồi khoanh chân, xoay
lung lại…
Ngoài ra đĩa hoa lam còn có một số loại khá đặc biệt khác, đó là:
Loại 1: Đĩa miệng loe ngang:
Loại đĩa này có miệng loe ngang, thành vát, lòng phẳng, đế thấp và rộng,
đường kính rộng 37,7cm . Thành ngoài đĩa vẽ bằng cánh sen kép, trong lòng vẽ
băng dây hình sin và ba hình rồng mây, men vẽ màu xanh sẫm, men phủ màu
trắng xanh.
Loại 2: Đĩa miệng tròn:
Đĩa có đường kính miệng khoảng 23-24cm, miệng tròn, trong lòng thường
vẽ một băng hoa dây lá giữa hai đường chỉ men lam. Ở chính giữa vẽ một cành
Loại 1: Bình miệng loe
Loại bình này có miệng loe, cổ eo, vai phình, thân thuôn, vai gắn 4 núm,
xung quanh vẽ ô tram, chim và cây, sư tử, ngựa và mây, hoa dây 6 bông hoặc 8
bông, sóng nước, cánh sen kép bên trong có xoắn ốc.
Loại 2: Bình miệng đấu (bình dáng chân đèn)
Bình cao khoảng 19,8cm, là loại hình khá độc đáo với miệng đấu, cổ cao
hình trụ, thân dáng chóe, đế lõm. Từ miệng tới chân vẽ các băng hoa văn cánh
sen, khóm lan, hoa dây, cánh sen kép viền đế tô nâu.
8
Loại 3: Bình tỳ bà (hay còn gọi là bình ngọc hồ xuân)
Loại bình này đều có dáng tương tự nhau là: miệng loe, cổ eo cao, bụng
phình chân đế thấp. Mặt cắt dọc của những bình này giống như cây đàn tỳ bà.
Trên thân bình trang trí vẽ lam thường phân chia thành bốn tầng hoa văn,
theo trình tự từ trên xuống dưới: Lông công, cánh sen kép, chim và cỏ cây, cánh
xen kép. Sự khác nhau thường thấy giữa các loại bình này chính là ở tầng thứ 3:
có thể là 4 chữ Hán: “vinh – hoa – phú – quý” trong ô xen kẽ các mảng hoa
trong hình thoi, trường hợp khác có thể là mảng mây hay cá măng chéo nhau
như hình dấu nhân, hoặc chim, thú bướm và mây… Ngoài loại bình vẽ lam trên
còn có loại bình men nâu bị bong nhiều chỗ, phía ngoài không trang trí hoa văn
hoặc có loại bình miệng loe cổ cao có trang trí hai mặt hổ phù, thân dáng chóe,
nền đế tô nâu.
* Ấm:
Trong sưu tập độc bản này, ấm cũng có nhiều kiểu dáng khác nhau và
thường được trang trí hoa văn vẽ lam kết hợp với nhiều màu. Ấm có một số loại
sau:
Loại 1: Ấm miệng loe có nắp
Ấm cao 28cm (tính cả nắp), miệng loe dáng bình tỳ bà, quai cong, phủ men
xanh không trang trí hoa văn.
nổi, dọc theo chiều cao.
Loại 2: Hộp hình trụ, mặt nắp và đế phẳng, 2 phần thân và nắp gần bằng
nhau.
Đề tài trang trí hoa văn trên nắp hộp rất phong phú và đa dạng gồm: hoa
lá, phong cảnh, sơn thủy, nhà cửa, nhân vật, các loại thú 4 chân như ngựa; hổ;
trâu; voi… Nhiều loại nắp hộp còn thấy vẽ cảnh người đội nón phi ngựa, hươu
ngậm cành lá, người chèo thuyền, mẹ bồng con…
2.2.2. Kỹ thuật
- Chất liệu:
Theo nghiên cứu của một số nhà khảo cổ học trong và ngoài nước thì thành
phần cấu tạo nên gốm độc bản của Chu Đậu gồm: đất sét, tro trấu, một số men
10
đá, cao lanh, trong đó thành phần chính là đất sét trắng và cao lanh vì sản phẩm
chủ yếu là đồ gốm sứ. Theo quan sát cụ thể thì thấy rằng đất sét tạo thành gốm
đã trải qua công đoạn tinh lọc cũng như khử các tạp chất khá kỹ, vì thế xương
gốm rất mịn và tương đối trắng. Tuy nhiên, do ngâm dưới nước biển lâu ngày
nên xương gốm ở đây có màu xám đục…
- Kỹ thuật tạo hình:
Đồ gốm độc bản Chu Đậu trong tàu đắm cổ Cù Lao Chàm được tạo dáng
chủ yếu bằng kỹ thuật bàn xoay để chuốt thành phôi, sau khi chuốt xong phơi
khô rồi mới đem vẽ các họa tiết và tráng men.
- Kỹ thuật trang trí hoa văn:
Ngoài kỹ thuật vẽ lam dưới men và vẽ nhiều màu trên men được coi là
phổ biến, điển hình của kỹ thuật trang trí hoa văn thời Lê Sơ thế kỷ XV, thì
chúng ta còn thấy xuất hiện nhiều kỹ thuật trang trí hoa văn như là: kỹ thuật
khắc chìm, in khuôn, đắp nổi, trên trang trí hoa văn gốm.
2.2.3. Niên đại
Theo nhận xét, đánh giá của một số nhà nghiên cứu về gốm cho biết thì
niên đại vào khoảng thế kỷ XV.
12
Chương 3
NHẬN THỨC VỀ GIÁ TRỊ CỦA BỘ SƯU TẬP GỐM ĐỘC BẢN
Ở TÀU ĐẮM CỔ CÙ LAO CHÀM
3.1.
Sưu tập gốm độc bản Chu Đậu Cù Lao Chàm là bằng chứng của nghề gốm
Việt Nam thế kỷ XV phát triển rực rỡ
Do ưu thế có số lượng lớn và còn giữ được nhiều tiêu bản nguyên vẹn, sưu
tập gốm độc bản của Chu Đậu ở tàu đắm cổ Cù Lao Chàm đã đóng góp nguồn
tư liệu quan trọng vào việc nhận thức đồ gốm men Chu Đậu nói riêng và gốm
men Việt Nam thời Lê Sơ thế kỷ XV nói chung. Đồng thời với loại hình phong
phú, hoa văn, màu men đa dạng, đây cũng là một trong những tư liệu chuẩn để
dựa vào đó chúng ta có thẻ giám định loại hình, hoa văn, màu men và niên đại
cho các sưu tập gốm có ở trong và ngoài nước, mà trước đó không dễ gì xác
định được.
Có thể thấy sưu tập gốm độc bản Chu Đậu ở tàu đắm cổ Cù Lao Chàm
có một vị trí, ý nghĩa quan trọng trong lịch sử nghiên cứu gốm Việt Nam. Nó
thực sự là nguồn tư liệu quý báu để chúng ta có thể hiểu sâu, toàn diện về gốm
Chu Đậu nói riêng và gốm sứ Việt Nam thế kỷ XV nói chung ở tất cả các mặt
như loại hình, hoa văn, màu men, kỹ thuật. Sưu tập đã đánh dấu một mốc về sự
phát triển rực rỡ của gốm Việt Nam thế kỷ XV trong tiến trình lịch sử gốm dân
tộc.
3.2.
Đó là một trong những nhận thức về giá trị của bộ sưu tập gốm độc bản
Chu Đậu ở tàu đắm cổ Cù Lao Chàm.
14
KẾT LUẬN
Gốm là sản phẩm mang tính chất xã hội cao vừa có tính văn hóa lại vừa có
tính kinh tế. Nó không chỉ có khả năng phản ánh nhiều khía cạnh về đời sống
kinh tế, chính trị, văn hóa nghệ thuật của quá khứ, mà còn là vật đánh dấu những
giai đoạn những nền văn hóa, những khu vực địa phương.
Chính vì vậy, việc xác định niên đại cũng như tìm hiểu phong cách, vẻ
đẹp truyền thống của nền nghệ thuật gốm cổ dân tộc còn là công việc lâu dài và
liên tục, không mệt mỏi và đầy hứng thú của các nhà nghiên cứu.
Trong đề tài tìm hiểu này, thông qua những giá trị nghệ thuật, hoa văn,
màu men, kỹ thuật, loại hình… được thể hiện trên sưu tập gốm độc bản của Chu
Đậu, chúng tôi hy vọng: gợi một vài cảm nghĩ tìm hiểu về tài năng, cuộc sống
thiên nhiên còn người quá khứ và mặt nào đó gây cảm hứng, lòng tự hào cho
những người quan tâm đến gốm cổ.
15
PHỤ LỤC
Tên bộ sưu tập
Đĩa
16
Ấm hình rồng
23
24
Ấm hình chim phượng
Chân đèn
25