Mục lục
Lời mở đầu
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình phát triển kinh tế
xã hội, hội nhập với nền kinh tế của thế giới. Vì vậy, các mối quan
hệ xã hội, kinh doanh trong thương trường quốc tế ngày càng
được gia tăng và phát triển. Khi các quan hệ kinh doanh càng
phát triển, những tranh chấp xảy ra là điều không tránh khỏi
những lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp nào vừa đảm bảo
có lợi cho thương nhân vừa duy trì được mối quan hệ làm ăn là
việc mà các thương nhân cần cân nhắc.
Pháp luật hiện hành công nhận các phương thức giải quyết
tranh chấp trong kinh doanh sau: thương lượng, hòa giải, trọng tài
và tòa án. Theo đó, khi xảy ra tranh chấp kinh doanh các bên có
thể giải quyết tranh chấp thông qua việc trực tiếp thương lượng
với nhau. Trong trường hợp không thương lượng được, việc giải
quyết tranh chấp có thể được thực hiện với sự trợ giúp của bên
thứ ba thông qua phương thức hòa giải, trọng tài hoặc tòa án.
Việc giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh dựa trên
nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên. Cơ
quan nhà nước và trọng tài thương mại chỉ can thiệp theo yêu cầu
của các bên tranh chấp.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh
doanh, thương mại ngày càng đa dạng và không ngừng phát triển
trong tất cả mọi lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ, đầu tư…
Vấn đề lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh
doanh, thương mại phải được các bên cân nhắc, lựa chọn phù hợp
dựa trên các yếu tố như mục tiêu đạt được, bản chất của tranh
pháp cũng như các hoạt động để khắc phục và loại trừ các tranh
chấp đã phát sinh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các
chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội.
Các yêu cầu trong giải quyết tranh chấp trong kinh doanh:
- Nhanh chóng, thuận lợi, không hạn chế, cản trở hoạt động
kinh doanh;
- Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa
các bên trong kinh doanh
- Giữ bí mật kinh doanh và uy tín của các bên trên thương
trường;
- Chi phí ít tốn kém nhất
- Phán quyết phải chính xác và có khả năng thi hành cao
1.3. Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp trong kinh
doanh
- Giải tỏa các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các
bên, tạo lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp
nhận được.
3
3
- Đảm bảo về mặt lợi ích giữa các chủ thể trong kinh doanh,
giữa các công nhân trước pháp luật, góp phần thiết lập sự cân
bằng, giữ gìn trật tự kỉ cương, pháp luật.
- Giải quyết nhanh chóng, thuận tiện là điều kiện để tạo
dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, đảm bảo quyền tự do của
công dân.
- Ngoài ra thông qua việc giải quyết tranh chấp còn đánh giá
1.1. Khái niệm:
Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp không cần
đến vai trò tác động của bên thứ ba.
1.2. Đặc điểm:
- Các bên cùng nhau bàn bạc, thoả thuận để tự giải quyết
các bất đồng mà không có sự can dự của bất cứ bên thứ 3 nào,
các bên tự bàn bạc, thoả hiệp và đi đến chấm dứt xung đột.
- Là hình thức mang tính tự phát không bị ràng buộc bởi các
thủ tục pháp lý.
1.3. Ưu điểm
- Tiết kiệm chi phí và thời gian, tiền bạc
- Giữ bí mật được trong hoạt động kinh doanh
5
5
- Giữ uy tín cho các bên
- Đáp ứng cơ hội của các hoạt động kinh doanh
- Không gây phiền hà và không bị ràng buộc bởi các thủ tục
pháp lý
1.4. Nhược điểm
- Kết quả của thương lượng còn phụ thuộc vào mức độ hiểu
biết, thái độ, thiện chí, và hợp tác của các bên tranh chấp;
- Kết thúc thương lượng không phải cuộc thương lượng nào
cũng giải quyết được xung đột;
- Kết quả của thương lượng không được đảm bảo bởi các cơ
chế pháp lý bắt buộc mà phụ thuộc vào sự tự nguyện thi hành của
2.2.1. Hòa giải ngoài thủ tục tố tụng
- Hòa giải ngoài thủ tục tố tụng là việc các bên mời một tổ
chức hoặc cá nhân đứng ra làm trung gian để cùng đàm phán,
thương lượng.
- Cơ sở: các bên tranh chấp cung cấp thông tin cho nhau và
trình bày quan điểm. Người hòa giải hướng các bên tham gia vào
việc tìm kiếm những giải pháp thích hợp và phải được sự nhất trí
của 2 bên.
7
7
- Sự nhất trí của 2 bên được thế hiện bằng văn bản, có xác
nhận của bên đứng ra làm trung gian hòa giải và có giá trị ràng
buộc đối với các bên tham gia.
2.2.2. Hòa giải trong tố tụng
- Hòa giải trong tố tụng là việc hòa giải được tiến hành tại
toà án hoặc trọng tài khi các cơ quan này giải quyết tranh chấp
theo yêu cầu của các bên.
- Đặc điểm:
+ Hòa giải trong tố tụng là thủ tục bắt buộc đối với cả toà án
với trọng tài;
+ Người đứng ra làm trung gian: thẩm phán hoặc trọng tài
viên;
+ Trong quá trình hòa giải, thẩm phán hoặc trọng tài viên
không được ép buộc mà phải tôn trọng tính tự nguyện, thiện chí
giữa các bên.
- Cơ sở:
nguyên tắc công khai.
2.4. Nhược điểm:
- Việc hòa giải có được tiến hành hay không phụ thuộc vào
sự nhất trí của các bên,
- Hòa giải viên không có quyền đưa ra một quyết định ràng
buộc hay áp đặt bất cứ vấn đề gì đối với các bên tranh chấp thỏa
9
9
thuận hòa giải không có tính bắt buộc thi hành như phán quyết
của trọng tài hay của tòa án.
- Ít được sử dụng nếu các bên không có sự tin tưởng với
nhau.
3. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng trọng tài là
hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài
viên, với tư cách là một bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt các
xung đột bằng cách đưa ra một phán quyết buộc các bên tham
gia tranh chấp phải thực hiện.
Đây là hình thức giải quyết tranh chấp rất phổ biến, được áp
dụng rộng rãi do những ưu điểm và lợi thế mà các hình thức giải
quyết tranh chấp khác không có được như:
- Các bên được bảo đảm tối đa quyền tự do định đoạt trên
nhiều phương diện (lựa chọn trọng tài viên, lựa chọn địa điểm, thủ
tục, phương thức giải quyết tranh chấp…)
- Thủ tục đơn giản, ngắn gọn và trong trường hợp cần thiết
thì bảo đảm bí mật hơn so với giải quyết bằng Tòa án.
mại;
+ Tranh chấp thương mại hàng hải;
11
11
+ Tranh chấp phát sinh trong quá trình bảo hộ cạnh tranh và
chống cạnh tranh bất hợp pháp;
+ Tranh chấp liên quan đến hoạt động phát hành cà kinh
doanh chứng khoán.
4.3. Ưu điểm:
- Trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ và độ tin cậy vào hiệu lực
của phán quyết
- Có sức mạnh cưỡng chế nên góp phần vào việc nâng cao ý
thức tôn trọng pháp luật cho các chủ thể kinh doanh
4.4. Nhược điểm
- Không giữ được bí mật kinh doanh
- Thủ tục tại toà thiếu linh hoạt
Tóm lại, mỗi hình thức giải quyết đều mang những đặc điểm
cơ bản riêng, với những ưu nhược điểm nhất định. Sự đa dạng
trong cơ chế giải quyết tranh chấp xét cho cùng cũng là biểu hiện
đặc trưng về tính đa dạng của các quan hệ kinh tế trong điều kiện
nền kinh tế thị trường.
Chương 3
Giải quyết các tranh chấp kinh tế bằng trọng tài thương
mại
12
2.3. Thẩm quyền:
- Giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế
như các hợp đồng mua bán ngoại thương, các hợp đồng đầu tư,
du lịch, vận tải và bảo hiểm quốc tế, chuyển giao công nghệ, tín
dụng và thanh toán quốc tế, khi mà một hay các bên đương sự là
thể nhân hay pháp nhân trong nước hay nước ngoài.
- Giải quyết các tranh chấp phát sinh ở hợp đồng kinh tế
giữa: pháp nhân với pháp nhân, pháp nhân với doanh nghiệp tư
nhân, doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp tư nhân, doanh
nghiệp tư nhân với cá nhân kinh doanh; phát sinh giữa công ty với
các thành viên của công ty và giữa các thành viên của công ty với
nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty;
các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu.
- Thẩm quyền của trọng tài không được xác lập theo vùng
lãnh thổ cho nên về nguyên tắc các bên có quyền lựa chọn bất kỳ
trung tâm nào để giải quyết tranh chấp không phụ thuộc vào nơi
đặt trụ sở hoặc nơi cư trú của các bên.
2.4. Nguyên tắc tố tụng
- Trọng tài chỉ " xét xử" 1 lần
- Tố tụng trọng tài kinh tế không quy định nguyên tắc xét xử
công khai như toà án mà xét xử bí mật chỉ những người được mời
mới được tham dự phiên họp.
14
14
- Tố tụng trọng tài không theo nguyên tắc xét xử tập thể mà
+ Nguyên tắc tự do định đoạt: Nguyên tắc này thể hiện các
bên đương sự có quyền tự do lựa chọn trọng tài viên.
+ Nguyên tắc đảm bảo sự độc lập của trọng tài viên trong
hoạt động xét xử: việc thực hiện nguyên tắc này nhằm đảm bảo
tính khách quan trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp. Nội
dung của nguyên tắc này thể hiện trên 2 khía cạnh: không có bất
cứ ai có quyền can thiệp vào hoạt động của trọng tài viên; các
trọng tài viên hòan toàn bình đẳng với nhau trong hoạt động xét
xử.
2.5. Giải quyết tranh chấp:
- Điều kiện: phải có đơn yêu cầu và văn bản thỏa thuận của
các bên về việc đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại trung tâm
trọng tài kinh tế đó và những tài liệu cần thiết để chứng minh cho
yêu cầu của mình.
- Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu,
Thư ký Trung tâm trọng tài kinh tế phải gửi cho bị đơn bản sao
đơn yêu cầu của nguyên dơn và Danh sách trọng tài viên, đồng
thời ấn định thời hạn bị đơn phải gửi văn bản trả lời cho Trung tâm
trọng tài kinh tế.
- Trọng tài viên có thể nghe các bên trình bày ý kiến và cũng
có thể tìm hiểu sự việc từ những người khác với sự có mặt của các
bên sau khi đã thông báo cho các bên biết. Ngoài ra, trọng tài
16
16
viên có thể trưng cầu giám định và yêu cầu các bên cung cấp
thêm các bằng chứng và tài liệu có liên quan.
- Các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận về thời gian, địa
- Các bên có quyền tìm hiểu nội dung biên bản. Những điểm
thay đổi hoặc bổ sung biên bản theo yêu cầu của một hay các
bên do Chủ tịch Hội đồng trọng tài hoặc Trọng tài viên (duy nhất)
quyết định.
2.6. Quyết định trọng tài:
- Việc giải quyết vụ tranh chấp được kết thúc bằng quyết
định. Nếu việc giải quyết thông qua một Hội đồng thì quyết định
được thông qua bằng biểu quyết theo nguyên tắc đa số.
- Hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên có thể ra quyết định
giải quyết từng phần của vụ tranh chấp, nếu thấy điều đó là hợp
lý. Điều này làm hạn chế những ách tắc trong hoạt động kinh
doanh, nhất là đối với những vụ tranh chấp có tình tiết phức tạp
mà nếu đổi giải quyết dứt điểm một lần thì rất mất thời gian,
thậm chí gây khó khăn trong việc duy trì các hoạt động kinh
doanh bình thường của các bên tham gia.
- Quyết định trọng tài được công bố cho các bên ngay sau
khi kết thúc phiên họp hoặc có thể công bố sau nhưng chậm nhất
là 5 ngày kể từ ngày kết thúc phiên họp và được gửi cho các bên
trong vòng 3 ngày kể từ ngày ra quyết định.
- Quyết định trọng tài phải có chữ ký của tất cả các trọng tài
viên và sau khi được công bố không có ai có quyền sửa chữa, bổ
18
18
sung, trừ trường hợp có sai sót rõ ràng về số liệu tính toán hoặc
về chính tả nhưng phải thông báo cho các bên biết.
2.7. Lệ phí trọng tài:
Bị đơn
: Người mua Cuba
: Người bán Trung Quốc
Tóm tắt vụ việc:
Ngày 25 tháng 12 năm 1986, Nguyên đơn và Bị đơn ký kết
một hợp đồng mua bán theo đó Bị đơn phải cung cấp 19.500 tá
quần áo trẻ em sợi hỗn hợp với số lượng và giá cả khác nhau.
Tổng trị giá hợp đồng là 404.415 USD, FOB cảng Trung Quốc,
đóng vào hộp giấy, gửi hàng đi vào quý 1 và quý 2 năm 1987.
Tháng 6 năm 1987 Bị đơn giao 900 hộp giấy chứa hàng hoá theo
hợp đồng. Số hàng này đã được bốc lên tàu của Cuba và đã rời đi
cảng Havana, Cuba.
Theo Nguyên đơn, khi hàng đến cảng Havana Nguyên đơn đã
xác nhận rằng bề ngoài của số thùng giấy là không có vấn đề gì
nhưng có một số thùng có trọng lượng không đủ. Nguyên đơn đã
vận chuyển số hàng nói trên vào kho. Cơ quan giám định sở tại đã
xác nhận thiếu 606 quần/áo trong 19 thùng hàng được giám định
(trong số 300 thùng) so với NQ 9114, B/L52, hoá đơn SUL 30047
20
20
được giao. Kết quả giám định 61 thùng hàng theo NQIOO58-4,
B/L53, hoá đơn SUL 30048 xác định thiếu 1.845 quần/áo.
Nguyên đơn hy vọng sẽ đạt được một thoả thuận thông qua
và nếu thế thì thuyền trưởng chắc chắn đã không ký vận đơn
sạch. Hơn nữa, Nguyên đơn cũng đã xác nhận rằng khi được
chuyển đến, các thùng hàng vẫn hợp lệ, Nguyên đơn đã
không trình được chứng nhận giám định hàng hoá để chứng
minh hàng bị thiếu về khối lượng và trong thùng có nhiều thứ
khác không phải là hàng hoá. Do đó cần phải bác yêu cầu
của Nguyên đơn liên quan đến việc giao thiếu hàng.
2. Điều 15 Các điều kiện chung về giao hàng qui định: “Đơn vị
khối lượng và đơn vị đo của bản giám định và xác nhận hàng
hoá cung cấp phụ thuộc vào các tài liệu của bên bán”. Xác
nhận về số thùng hàng do Bị đơn cung cấp chứng minh rằng
số hàng được giao phù hợp với các qui định của hợp đồng và
cần phải dựa vào bản xác nhận này để xác định số hàng đã
giao.
3. Hợp đồng được ký theo điều kiện FOB. Theo các qui định
trong INCOTERMS, một khi hàng hoá đã được chuyển qua lan
can tàu tại cảng bốc hàng, mọi rủi ro về mất mát hoặc tổn
thất đối với hàng hoá cũng được chuyển cho bên mua. Vì
vậy, yêu cầu của Nguyên đơn là không có cơ sở.
Phán quyết của trọng tài:
22
22
Theo Điều 14 Các điều kiện chung về giao hàng, số lượng
hàng do Bị đơn giao được xác định theo vận đơn đường biển.
Trong các thùng hàng thuộc vận đơn số 52 và 53, số hàng được
ghi lần lượt là 300 và 600 thùng. Mặc dù trên vận đơn đường biển
http://voer.edu.vn/c/giai-quyet-tranh-chap-trong-kinhdoanh/63800bff/
3. http://www.viac.org.vn/
4. Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam – NXB Đại học Quốc Gia
Hà Nội
5. Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 và các văn bản pháp
luật hướng dẫn có liên quan.
24
24