TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI THUYẾT TRÌNH MÔN: NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA
CHỦ NGHĨA MAC – LÊNIN
CHUYÊN ĐỀ:
HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
GVHD:LƯU THỊ KIM HOA
SVTH: NHÓM 3
1. Nguyễn Thùy Giang
2. Đặng Thị Xuân Hà
3. Hồ Thị Cẩm Hà
4. Phạm Thanh Hà
5. Đoàn Thị Mỹ Hạnh
6. Nguyễn Thị Hạnh
7. Phạm Võ Nguyên Hạnh
8. Đào Thị Kim Hằng
HỒ CHÍ MINH, 2013
- 15
- 17
- 18
- 19
- 20
- 21
- 22
- 23
thức đầu tiên của tư bản. Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số
tiền nhất định. Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản. Tiền chỉ biến thành tư
bản trong những điều kiện nhất định, khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động
của người khác. Sự vận động của đồng tiền thông thường và đồng tiền là tư bản có
sự khác nhau hết sức cơ bản. Trong lưu thông hàng hoá giản đơn, tiền vận động
theo công thức: H−T−H là sự chuyển hóa của hàng hóa thành tiền và ngược lại sự
chuyển hóa của tiền thành hàng hóa hay nói cách khác là bán để mua. Còn trong
tư bản, tiền vận động theo công thức: T−H−T’ là sự chuyển hóa của tiền thành
hàng hóa và sự chuyển hóa ngược lại của hàng hóa thành tiền tức là mua để bán.
So sánh sự vận động của hai công thức trên ta sẽ thấy một số điểm giống và
khác nhau:
- Giống nhau:
+ Đều có 2 nhân tố là tiền và hàng.
+ Đều là sự kết hợp của hai hành động đối lập, nối tiếp nhau (bán và mua)
- Khác nhau:
+ Trình tự các hành vi khác nhau:
* Lưu thông hàng hóa giản đơn bắt đầu bằng bán và kết thúc bằng mua,
* Công thức chung của tư bản bắt đầu bằng mua và kết thúc bằng bán.
+ Điểm xuất phát và kết thúc:
* Lưu thông hàng hóa giản đơn bắt đầu bằng hàng và kết thúc bằng hàng,
* Công thức chung của tư bản bắt đầu bằng tiền và kết thúc cũng bằng tiền
+ Mục đích của vận động:
* Lưu thông hàng hóa giản đơn mục đích là giá trị sử dụng: H-T-H (có giới
hạn).
* Còn công thức chung của tư bản mục đích là giá trị và giá trị lớn hơn. Tư
bản vận động theo công thức: T−H−T', trong đó T' = T + ∆t; ∆t là số tiền trội hơn
gọi là giá trị thặng dư và ký hiệu là m. Như vậy giá trị được ứng ra lúc ban đầu
không những được bảo tồn trong lưu thông mà còn thay đổi đại lượng của nó, còn
thêm.
Nhưng nhà tư bản không thể vận động ngoài lưu thông, có nghĩa là nhà tư bản
phải tìm thấy trên thị trường mua được một thứ hàng hoá (trong lưu thông ) nhưng
nhà tư bản không bán hàng hóa đó, vì nếu bán cũng không thu được gì. Nhà tư bản
tiêu dùng hàng hóa đó (ngoài lưu thông) tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị bản
thân nó - hàng hóa đó là sức lao động.
Vậy thì mâu thuẫn của công thức chung là tư bản vận động vừa trong lưu
thông nhưng đồng thời vừa không trong lưu thông.
1.3 Hàng hóa sức lao động
“Sức lao động là tổng hợp thể lực, trí lực tồn tại trong con người sống mà con
người có thể vận dụng được trong quá trình lao động”.
Cần phân biệt sức lao động và lao động. Sức lao động là tiền đề của lao động,
khi mang sức lao động sử dụng trong quá trình sản xuất thì nó trở thành lao động.
1.3.1 Những điều kiện biến sức lao động thành hàng hóa
Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng đều là yếu tố hàng đầu của quá
trình lao động sản xuất. Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hóa.
Sức lao động chỉ biến thành hàng hóa trong những điều kiện cụ thể sau:
- Một là: người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả năng chi phối
sức lao động của mình. Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là
hàng hóa nếu nó do bản thân người có sức lao động chủ động bán. Những người nô
lệ, nông nô không có quyền tự do về thân thể không thể đem bán sức lao động của
mình. Do đó, muốn biến sức lao động thành hàng hóa phải thủ tiêu chế độ chiếm
hữu nô lệ và chế độ phong kiến.
- Hai là người có sức lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất, ngưởi chủ sức lao
động không còn bất cứ hàng hóa nào để bán ngoài sức lao động của mình. Nếu có
tư liệu sản xuất thì người chủ sức lao động có dùng những tư liệu này để sản xuất
hàng hóa đem bán chứ không phải bán sức lao động của mình.
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu dẫn đến sức lao động biến
Việc nghiên cứu hàng hóa sức lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc xây
dựng thị trường lao động ở Việt Nam. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta đòi hỏi phải có sự phát triển đồng bộ các loại thị trường và
Nghị quyết Đại hội IX cũng đã nhấn mạnh phải tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố
thị trường, thị trường lao động từ chỗ không tồn tại đã bắt đầu hình thành và phát
triển.
Thị trường sức lao động là thị trường mà trong đó các dịch vụ lao động được
mua bán thông qua một quá trình để xác định số lượng lao động được sử dụng
cũng như mức tiền công và tiền lương. Thị trường lao động là một trong những
loại thị trường cơ bản và có một vị trí đặc biệt trong hệ thống các thị trường của
nền kinh tế. Quá trình hình thành và phát triển cũng như sự vận động của thị
trường lao động có những đặc điểm hết sức riêng biệt. Thị trường lao động cũng
như các loại thị trường khác tuân thủ theo những quy luật của thị trường như quy
luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh. Điểm khác biệt lớn nhất ở
đây là do tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động.
Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành hệ thống các
chính sách và cơ chế quản lý cho sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phầ,
tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để các ngành, các hình thức kinh tế, các vùng phát
triển, tạo nhiều việc làm đáp ứng yêu cầu việc làm và đời sống của người lao động,
do đó cơ hội lựa chọn việc làm của người lao động ngày càng được mở rộng. Đại
hội VIII của Đảng nêu rõ: “Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân,
mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc cho người lao động. Mọi công
dân đều được tự do hành nghề, thuê nướn nhân công theo pháp luật. Phát triển dịch
vụ việc làm. Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân
cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh quốc phòng. Mở rộng
kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu. Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị
và thiếu việc làm ở nông thôn” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
trang 114-115), vì vậy người lao động từ chỗ thụ đọng, trông chờ vào sự bố trí
Việt Nam
Như ta đã phân tích ở trên, sức lao động được xem là hàng hóa xuất hiện
trong chế độ tư bản và việc sử dụng hàng hóa sức lao động đã giúp các nhà tư bản
bóc lột giá trị thặng dư của công nhân.Tại Việt Nam, Đảng và nhà nước đã công
nhận sự tồn tại và phát triển của hàng hoá sức lao động và thị trường sức lao động
là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên việc vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động
vào đất nước ta – một đất nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa nhằm đảm bảo
nguồn nhân lực lao động trong thời kỳ hội nhập quốc tế phải đáp ứng một số yêu
cầu cụ thể như sau:
- Vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa: lợi ích của
người sử dụng lao động và người lao động phải có sự hài hòa. Quan hệ lao động
cần phải được pháp luật điều chỉnh, theo đó quan hệ giữa người sử dụng lao động
và người lao động không phải là đối kháng, lợi ích của cả hai đối tượng này phải
hòa hợp, thống nhất vì sự phát triển của xã hội.
- Vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động phải phù hợp với quá trình hội nhập
quốc tế và xu hướng phát triển của nền kinh tế tri thức, do đó đòi hỏi phải chủ
động xây dựng và phát triển nguồn nhân lực về cả số lượng và chất lượng nhất là
về trình độ chuyên môn kỹ thuật và năng lực, phẩm chất.
- Vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động phải gắn liền với việc hình thành đội ngũ
lao động có trình độ và cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều đó có nghĩa là phải xây dựng và phát triển nguồn
nhân lực với những con người biết nắm bắt và sử dụng các phương tiện kỹ thuật
hiện đại, có năng lực sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, quản lý đồng thời phải
ứng xử có văn hóa và đạc đức nghề nghiệp. Đi đôi với đào tạo chuyên môn, nghiệp
vụ cần quan tâm giáo dục đến phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm, lòng yêu
nước, yêu chủ nghĩa xã hội, trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng.
- Cần thúc đẩy giao dịch trên thị trường lao động bằng các hình thức như: phát
10 USD
+ Khấu hao máy móc:
4 USD
+ Tiền công:
3 USD
Tổng cộng: 10 USD +4 USD +3 USD = 17 USD
Lấy thu trừ đi chi, nhà tư bản đã có: 20 USD - 17 USD = 3 USD.
Nhà tư bản bán 2 kg sợi với giá 20 USD, và thu được lượng giá trị thặng dư
bằng: 3USD.
Như vậy, nếu quá trình lao động dừng lại ở điểm mà giá trị mới được tạo ra
chỉ đủ bù đắp giá trị sức lao động thì chỉ có sản xuất giá trị giản đơn, khi quá trình
lao động vượt quá điểm đó mới có sản xuất giá trị thặng dư.
Như vậy, Giá trị thặng dư (m) là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao
động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt, là lao động không công
của công nhân.
2.2 Sự phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến. Bản
chất của tư bản
a. Tư bản bất biến: Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái TLSX mà giá trị
được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không thay đổi về lượng trong
quá trình sản xuất
+ Gồm: * máy móc, nhà xưởng
* nguyên, nhiên, vật liệu
+ Tư bản bất biến ký hiệu là C.(Constant).
sức lao động và năng suất lao động không thay đổi.
Giả sử ngày lao động 10h trong đó 5h thời gian lao động tất yếu, 5h thời gian
lao động thặng dư.
Tỷ suất giá trị thặng dư:
Giả sử ngày lao động kéo dài thêm 3h nữa, thời gian lao động tất yếu không
đổi (5h), thời gian lao động thặng dư tăng lên 8h:
- Để tăng giá trị thặng dư tuyệt đối, nhà tư bản tìm mọi cách để:
+ Tăng thời gian làm việc trong 1 ngày, tháng, năm…
+ Tăng cường độ lao động.
- Giới hạn ngày lao động: về thể chất và tinh thần của người công nhân: co
dãn trong khoảng: Thời gian lao động cần thiết < ngày lao động < 24 h.
- Giới hạn ngày lao động phụ thuộc:
+ Trình độ LLSX;
+ Tính chất QHSX;
+ So sánh lực lượng giữa công nhân và tư bản.
*Sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian
lao động tất yếu, bằng cách tăng năng suất lao động xã hội, qua đó hạ thấp giá trị
sức lao động và làm tăng tương ứng thời gian lao động thặng dư, trong điều kiện
dài ngày lao động và thời gian lao động không đổi.
(ví dụ trên)
Nếu thời gian lao động tất yếu rút ngắn còn 3h, thời gian lao động thặng dư
tăng lên 2h:
Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu thì: hạ thấp giá trị sức lao động,
bằng cách giảm giá trị TLSH của công nhân. Do đó phải tăng năng suất lao động
xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt, các ngành sản xuất TLSX để sản
xuất các TLSH. Nghĩa là tăng năng suất lao động xã hội.
Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, quy luật kinh tế tuyệt đối được C. Mác
xác định là quy luật sản xuất giá trị thặng dư.
Nội dung quy luật: Theo đuổi giá trị thặng dư bằng bất cứ thủ đoạn nào là
mục đích, động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi nhà tư bản cũng như của toàn bộ
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
2.6 Ứng dụng học thuyết giá trị thặng dư
Học thuyết giá trị thặng dư của Mác vẫn là học thuyết kinh tế quan trọng khi
nguyên cứu về chủ nghĩa tư bản. Nó có một ý nghĩa thời đại sâu sắc mà chúng ta
cần biết khai thác, vận dụng để xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Nếu chúng ta gạt bỏ đi tính chất bóc lột của hai phương pháp sản xuất giá trị
thăng dư tuyệt đối và tương đối thì những người xã hội chủ nghĩa của chúng ta
hoàn toàn có quyền ứng dụng nó trong điều kiện đất nước hiện nay. Ví dụ đối với
phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối thì trong hoàn cảnh nhất định
chúng ta vẫn có thể tăng cường lao động, kéo dài ngày lao động để tạo ra nhiều sản
phẩm thặng dư cho xã hội. Hay là phương pháp sản xuất giá trị thăng dư tương đối
tức là phương pháp phải ứng dụng tiến bộ khoa học nâng cao năng suất, để rút
ngắn thời gian tất yếu, do đó thời gian thặng dư sẽ kéo dài ra và sản phẩm thặng dư
sẽ nhiều hơn. Trong tất cả những điều đó, gạt đi tính chất bóc lột chúng ta hoàn
toàn có thể ứng dụng vào tình hình đất nước ta hiện nay.
3. Tiền công trong chủ nghĩa tư bản
Lý luận về tiền công đã được các nhà kinh tế nghiên cứu từ rất lâu bắt đầu là
W.Petty. Tiếp theo sự phát triển lý luận về tiền công của các nhà kinh tế cổ điển
trước đó, lý luận về tiền công của C. Mác đã ra đời.
Lý luận tiền công của C. Mác đã vạch rõ bản chất của tiền công dưới CNTB
đã bị che đậy - tiền công là giá cả của lao động, bác bỏ quan niệm của các nhà
kinh tế tư bản trước đó. Những luận điểm của C. Mác về tiền công vẫn còn giá trị
đến ngày nay.
David Ricardo lại coi lao động là hàng hóa. Tiền lương hay giá cả thị trường
của lao động được xác định trên cơ sở giá cả tự nhiên và xoay quanh nó. Giá cả tự
nhiên của hàng hóa lao động là giá trị những tư liệu sinh hoạt nuôi sống người
công nhân và gia đình anh ta. Ông đã chỉ ra cấu thành tư liệu sinh hoạt cho người
công nhân phụ thuộc yếu tố lịch sử, truyền thống dân tộc, song ông lại chủ trương
những tư liệu sinh hoạt đó chỉ ở mức tối thiểu. Nói một cách khác ông ủng hộ lý
thuyết “qui luật sắt về tiền lương”.
3.2 Tư tưởng của C. Mác về tiền công - Bản chất của tiền công
Tiền công là biểu biện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động, là giá cả
của hàng hóa sức lao động.
Theo C. Mác thì sức lao động của mỗi người gồm cả thể lực và trí lực lao
động là sự vận động của sức lao động đó. Nhưng trong quá trình lao động, sức lao
động đã tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần dôi ra này bị nhà
tư bản chiếm không. Nhưng xã hội lại cho rằng nhà tư bản không bóc lột công
nhân vì nhà tư bản trả tiền cho công nhân sau khi công nhân đã hao phí sức lao
động để sản xuất ra hàng hóa. Mặt khác, tiền công được trả theo thời gian lao động
(ngày, giờ, tuần, tháng) hoặc theo số lượng hàng hóa đã sản xuất được. Như vậy
tiền lương đã che dấu mất thực chất bóc lột của CNTB. Nhưng bề ngoài thì dường
như toàn bộ lao động mà công nhân đã hao phí đều được nhà tư bản trả đầy đủ.
Thực ra, tiền lương mà nhà tư bản trả cho công nhân không phải là trả công lao
động. Nếu lao động bán được thì lao động phải là hàng hóa và phải có giá trị,
nhưng lao động không phải là hàng hóa, chỉ có sức lao động mới là hàng hóa, vì
lao động chỉ xuất hiện trong quá trình sản xuất sau khi đã mua bán giữa công nhân
là người bán với nhà tư bản là người mua. Khi công nhân lao động thì lao động của
công nhân được thực hiện trong xí nghiệp của nhà tư bản. Do đó kết quả lao động
thuộc về nhà tư bản chứ không thuộc về công nhân bởi vì công nhân không thể bán
cái mà anh ta không có. Công nhân chỉ có sức lao động nên chỉ bán sức lao động.
Hay nói cách khác, chỉ có sức lao động mới là hàng hóa. Vậy bản chất của tiền
b. Tiền công tính theo sản phẩm
Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụ
thuộc vào số lượng và chất lượng sản phẩm đã làm ra, hoặc số lượng và chất lượng
công việc đã hoàn thành trong một thời gian nhất định.
Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định gọi là đơn giá tiền
công. Khi quy định đơn giá, người ta lấy tiền lương trung bình của công nhân trong
ngày chia cho số lượng sản phẩm mà công nhân sản xuất ra trong 1 ngày bình
thường. Do đó, về thực chất, đơn giá tiền lương là tiền lương trả cho một thời gian
cần thiết nhất định để sản xuất một sản phẩm. Vì thế, tiền lương tính theo sản phẩm
chỉ là hình thức chuyển hóa của tiền lương tính theo thời gian.
Hình thức tiền lương theo sản phẩm càng che giấu và xuyên tạc bản chất của
tiền lương hơn so với hình thức tiền lương tính theo thời gian. Việc thực hiện hình
thức tiền lương theo sản phẩm một mặt làm cho nhà tư bản dễ dàng kiểm soát công
nhân, mặt khác đẻ ra sự cạnh tranh giữa công nhân, kích thích công nhân phải lao
động tích cực nâng cao cường độ lao động, tạo ra nhiều sản phẩm để nhận được
tiền công cao hơn.
Vì vậy, chế độ tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản thường dẫn đến tình trạng
lao động khẩn trương quá mức, làm kiệt sức người lao động. Về mặt lịch sử, tiền
lương tính theo thời gian được áp dụng rộng rãi trong giai đoạn đầu phát triển của
chủ nghĩa tư bản, còn ở giai đoạn sau thì tiền lương tính theo sản phẩm được áp
dụng rộng rãi hơn. Hiện này, hình thức tiền lương tính theo thời gian ngày càng
được mở rộng.
3.4 Tiền công danh nghĩa, tiền công thực tế và các nhân tố ảnh hưởng đến
tiền công
a. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
Tiền công danh nghĩa là số lượng tiền tệ mà người công nhân nhận được do
bán sức lao động của mình cho nhà tư bản. Nó là giá cả sức lao động. Nó tăng
giảm theo sự biến động trong quan hệ cung – cầu về hàng hóa sức lao động trên thị
Trong nhiều năm qua, nhà nước luôn cố gắng cải cách các chính sách tiền
lương nhằm đáp ứng được nhu cầu của xã hội và phù hợp với nền kinh tế đang
phát triển nhanh. Tuy nhiên, ngoài những thành công đã đạt được vẫn còn những
hạn chế và bất cập.
Theo số liệu từ Bộ Nội vụ, từ năm 2003 đến nay, mức lương tối thiểu chung
cho người lao động trong khu vực hành chính - sự nghiệp đã điều chỉnh 7 lần từ
210.000 đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng, với mức tăng gần 4 lần. Từ ngày
1/7/2013, mức lương tối thiểu đã được quyết định tăng lên mức 1.150.000 nghìn
đồng/tháng. Việc điều chỉnh này được thực hiện trên cơ sở các mức đã dự kiến
trong Đề án tiền lương giai đoạn 2003 - 2007 và 2008 - 2012, có điều chỉnh theo
mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng và khả năng của NSNN. Tuy nhiên
căn cứ thực tế mức sống hiện nay, mức lương tối thiểu này hoàn toàn là không đủ
để người lao động có thể sống được trong một tháng, nhất là ở những thành phố
lớn như Hà Nội hay Tp. Hồ Chí Minh. Khi lạm phát ngày càng đẩy giá cả tiêu
dùng leo thang chóng mặt. Trong báo cáo chính trị của Ban Chấp Hành Trung
ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng chỉ ra
rằng “Chính sách tiền lương, thu nhập chưa động viên được cán bộ, công chức,
người lao động gắn bó, tận tâm với công việc”
Ở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhiều công ty đã trả mức lương
trung bình từ hơn 2 triệu đồng một tháng thì mức này ở phương án tối thiểu của Bộ
Lao động và thương binh xã hội chỉ là 1.65 triệu đồng, điều này cũng gây ra nhiều
thiệt thòi cho các lao động tại các công ty nước ngoài, khi mà phía nước ngoài sẽ
không chấp nhận trả quá cao so với mức lương tối thiểu mà nhà nước quy định.
Các doanh nghiệp đều cho rằng mức lương này là quá thấp, gây khó khăn cho
doanh nghiệp khi muốn tuyển dụng lao động. Mức lương tối thiểu cũng khiến cho
nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn khi khách hàng tính giá thành cũng dựa vào nó.
Hiện tại lương tối thiểu chung và lương tối thiểu vùng đang áp dụng chung cho cả
doanh nghiệp lẫn cả khối hành chính sự nghiệp, cho nên nếu muốn tăng thì sẽ ảnh