Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dầu khí của tổng công ty cổ phần khoan và dịch vụ khoan dầu khí ( 2001 2010) - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------

NGUYỄN MẠNH HÙNG

HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC DẦU KHÍ CỦA
TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN KHOAN VÀ DỊCH VỤ KHOAN
DẦU KHÍ (2001-2010)

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Hà Nội – 2015


ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------

NGUYỄN MẠNH HÙNG

HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC DẦU KHÍ CỦA
TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN KHOAN VÀ DỊCH VỤ KHOAN
DẦU KHÍ (2001-2010)

Chuyên ngành Quan hệ Quốc tế
Mã số: 60 31 02 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

2.1.2 Hợp tác với Vietsovpetro ............................................................................ 33
2.1.3 Hợp tác với JVPC ...................................................................................... 36
2.1.4 Hợp tác với các nhà thầu khoan của Hoa Kỳ .............................................. 38
2.1.5 Hợp tác với các nhà thầu khoan của khối ASEAN ..................................... 40
2.2 Đối với lĩnh vực khoan khai thác ...................................................................... 41
2.2.1 Hợp tác với Biển Đông POC ...................................................................... 41
2.2.2 Hợp tác với các đối tác từ Anh Quốc và Hoa Kỳ ........................................ 42
2.2.3 Chính sách của nhà nước về việc ưu đãi cho ngành khoan khai thác tại
vùng biển Việt Nam .................................................................................................. 46
2.3 Đối với lĩnh vực đào tạo phát triển nguồn nhân lực......................................... 49
2.3.1 Hợp tác với Hoa Kỳ..................................................................................... 49
2.3.2 Hợp tác với Nhật Bản .................................................................................. 51
2.3.3 Hợp tác với các nước trong tổ chức ASEAN ............................................... 52
2.3.4 Hợp tác với các tổ chức quốc tế ................................................................... 55
2.4 Đối với lĩnh vực khoa học công nghệ ................................................................ 56
2.4.1 Chính sách ưu đãi của Việt Nam ................................................................ 56
2.4.2 Chiến lược của PV Drilling ......................................................................... 58
Tiểu kết chương 2 .................................................................................................... 60
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG VÀ TRIỂN VỌNG CỦA QUÁ TRÌNH HỢP TÁC
QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC DẦU KHÍ CỦA PV DRILLING ....................... 61
3.1 Tác động của quá trình hợp tác quốc tế của PV Drilling .................................... 61


3.1.1 Tác động đối với ngành công nghiệp dầu khí nội địa ................................... 61
3.1.2 Tác động đối với ngành công nghiệp dầu khí thế giới .................................. 62
3.2. Triển vọng phát triển ........................................................................................ 63
3.2.1 Triển vọng ................................................................................................... 63
3.2.2 Thời cơ và thách thức .................................................................................. 68
3.3 Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dầu
khí của PV Drilling ............................................................................................... 70


Occupational Health and Safety Assessment Series
Tiêu chuẩn về Hệ thống quản lý an toàn sức khỏe nghề nghiệp

OPITO:

The Offshore Petroleum Industry Training Organisation
Tên gọi của tổ chức đào tạo ngành công nghiệp dầu khí ngoài khơi

BOSIET:

Basic Offshore Safety Induction and Emergency Training
Hướng dẫn cơ bản An toàn ngoài khơi vùng nhiệt đới và huấn
luyện các tình huống khẩn cấp

POC:

Petroleum Operation Company
Công ty điều hành mỏ

JOC:

Joint Operation Company
Công ty Liên doanh điều hành

TAD:

Tender Assist Drilling
Giàn khoan tiếp trợ nửa nổi nửa chìm


Mô hình tháp khoan tại PVD Training

54

2

Bảng 3.1

Bảng ước tính trữ lượng dầu khí đã
xác định và tiềm năng ở Biển Đông

68-69

3

Bảng 3.2

Số lượng người lao động trong PV
Drilling

76

4

Bảng 3.3

Một vài chỉ số về đào tạo của PV
Drilling qua các năm

77-78

khu vực Biển Đông đang diễn ra những tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước –
trong đó có Việt Nam.
Luận văn bước đầu phân tích quá trình hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dầu khí
của Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu Khí (viết tắt là PV Drilling):
lịch sử hình thành, quá trình phát triển, hoạt động triển khai hợp tác trên lĩnh vực dầu
khí của PV Drilling với các đối tác nước ngoài ở các lĩnh vực chuyên môn mà công ty
đảm nhận trong thời gian từ khi thành lập vào năm 2001 đến năm 2010 – thời điểm mà
PV Drilling bắt đầu đóng giàn khoan nửa nổi nửa chìm. Từ đó, đưa ra những khuyến
nghị, đóng góp vào những hoạch định phát triển trong tương lai của PV Drilling nhằm
bảo đảm vai trò, vị trí của ngành năng lượng nói chung và ngành dầu khí nói riêng của
Việt Nam trên bản đồ năng lượng của khu vực và thế giới trong bối cảnh các nguồn tài
nguyên năng lượng đang dần cạn kiệt, và những nguồn năng lượng thay thế vẫn chưa


2

thực sự phát huy được hiệu quả. Đó là lý do tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ
ngành Quan hệ quốc tế tại Khoa Quốc tế học, trường Đại Học Khoa học Xã Hội và
Nhân Văn Hà Nội.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Do tính chất đặc thù của Ngành Dầu khí nên hiện chưa có một công trình
nghiên cứu chính thức nào về đề tài này. Các Báo cáo thường niên của PV Drilling các
năm có phân tích và đánh giá các hoạt động hợp tác quốc tế của công ty ở thị trường
Châu Á - Thái Bình Dương nhưng chỉ đưa ra các đánh giá tổng quát nhất và chưa thật
sự cụ thể.
Ngoài ra, thời gian qua cũng có một vài bài báo viết và đánh giá chung về PV
Drilling trên các báo mạng như Vnexpress.net, Tuổi trẻ Online... Hoặc nhiều bài báo
đánh giá hiệu quả kinh doanh của PV Drilling trên tờ Năng Lượng Mới – cơ quan chủ
quản là Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam.
Tháng 3/2015 vừa qua, trên báo Năng Lượng Mới đã có chuỗi bài phóng sự về

đang là tiên phong trong việc khoan dầu, đánh dấu ý nghĩa chính trị của Việt Nam tại
quốc gia Bắc Phi đầy tiềm năng này. Bài viết có nêu một số điểm mạnh trong chính trị
của Algeria đối với các quốc gia khu vực Địa Trung Hải như Italy, Pháp, khu vực bán
đảo Balkan. Bài viết của tác giả Nguyễn Anh Tuấn, “An ninh dầu lửa: Vấn đề và giải
pháp tại các nước Đông Nam Á”, đăng trên Tạp chí Cộng Sản, mục Những vấn đề
kinh tế thế giới, số 5 (121) năm 2006 có đề cập đến an ninh tại Biển Đông khi mà các
giàn khoan của Hoa Kỳ, Châu Âu đang hiện diện dày đặc, gây ra nhiều ảnh hưởng xấu
đến chính trị an ninh trên biển, cũng như các vấn đề an ninh về nguồn dầu lửa bị khai
thác trộm tại Biển Đông. Vì Việt Nam thời kỳ 2000-2007 chưa phát triển ngành lọc
dầu và chế biến dầu thô, do đó các hợp đồng hợp tác với nước ngoài chủ yếu là chia
sản phẩm, nên gây ra nhiều vấn đề trong công tác quản lý, khi đối tác có thể khai man,
khai dối các sản lượng dầu để làm lợi riêng. Thông tấn xã Việt Nam năm 2006 cũng có
bài viết, “Hợp tác năng lượng Trung Quốc – ASEAN”, mục Tài liệu tham khảo đặc
biệt, số 96, 26/4. Bài viết đã có đề cập đến chiến lược dùng giàn khoan di động để gây


4

ảnh hưởng chính trị tại Biển Đông của Trung Quốc, đồng thời đề nghị chính phủ Việt
Nam quan tâm hơn đến ngành công nghiệp khoan dầu khí, đặc biệt là đóng giàn khoan
của Việt Nam. Đây chính là số ít tài liệu có đề cập đến ngành khoan dầu khí của Việt
Nam thời kỳ 2001-2007.
Các văn kiện Đại Hội Đảng lần thứ VI, lần thứ VII, lần thứ VIII, lần thứ IX, lần
thứ X cũng đóng góp cho tác giả các thông tin về chính sách ngoại giao của Việt Nam
thời kỳ 1990 – 2006, góp phần giúp cho tác giả bám sát đề tài theo ngành quan hệ quốc
tế, tránh việc đi quá sâu về các khía cạnh phân tích Marketing hay Kinh tế. Các văn
kiện này cũng góp phần giúp tác giả khái quát được các chính sách phát triển ngoại
giao của chính phủ Việt Nam thông qua nhiều chính sách như “Việt Nam muốn là bạn
của các quốc gia trên thế giới”- văn kiện Đại Hội Đảng lần thứ VII năm 1991, sang
chính sách “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác đối tác của các nước trên thế giới” –

giả viết về chính trị quốc tế, trong số đó có bài viết của tác giả Richard Giragosian ,
“East Asia tackles energy security”, đăng tên tạp chí Asia Times, số ra ngày 24 tháng
8 năm 2004. Bài viết này đề cập đến tình hình chính trị phức tạp tại Biển Đông, khi
vùng biển này được tìm thấy với trữ lượng dầu khí khổng lồ bên dưới. Các chi tiết này
đã giúp tác giả hiểu rõ hơn về cách nhìn nhận của các quốc gia khác về vị thế của Việt
Nam tại biển Đông, đồng thời cũng đưa ra được ý kiến về việc giàn khoan biển là các
công cụ chiến lược cho việc đảm bảo đường biên giới trên biển giữa các quốc gia.
Sách của tác giả Sonya Fatah, “A Pipeline or a Pipe Dream”, in tại nhà xuất
bản Fortune năm 2005, ấn phẩm số 23 (152), tại trang 24-26 của sách, tác giả có đề cập
đến việc các đường ống dẫn dầu khí chính là các vũ khí để đánh dấu lãnh thổ trên biển.
Đồng thời, tác phẩm này còn đưa ra một số quan điểm về ngoại giao dầu khí, mà trong
đó ngành khoan là một lĩnh vực thể hiện trình độ khoa học kỹ thuật một quốc gia. Tác
giả đã sử dụng quan điểm này để đưa ra các đánh giá về ngành khoan dầu khí Việt
Nam đã phát triển đến đâu và đã góp phần đẩy mạnh hình ảnh chính trị của Việt Nam
trên trường quốc tế như thế nào.
Trong sự hạn chế của tài liệu về đề tài, tác giả đã cố gắng tổng hợp những tài
liệu, số liệu, dữ kiện quan trọng để hoàn thành luận văn với những ý kiến khách quan
và chủ quan.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài


6

Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Tổng Công ty Cổ phần Khoan và
Dịch vụ Khoan Dầu khí trong giai đoạn 2001-2010, đồng thời phân tích, đánh giá quá
trình hợp tác quốc tế của đơn vị này đối với các đối tác nước ngoài trong lĩnh vực
khoan dầu khí – một lĩnh vực quan trọng của ngành năng lượng Việt Nam; luận văn
cũng bước đầu đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác
quốc tế trong lĩnh vực này đối với Tổng Công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan
Dầu khí nói riêng và ngành dầu khí Việt Nam nói chung.

Bình Dương, khu vực Bắc Phi, khu vực Bắc Mỹ, Khu vực Tây Âu .
Về thời gian: Đề tài tập trung phân tích thực trạng hợp tác quốc tế của dịch vụ
cung cấp giàn khoan biển của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch Vụ Khoan Dầu
khí ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, khu vực Bắc Phi, khu vực Bắc Mỹ, Khu vực
Tây Âu trong giai đoạn 2001-2010 và đưa ra giải pháp cho giai đoạn 2011-2020.
Về không gian: Đề tài phân tích năng lực hợp tác quốc tế của dịch vụ cung cấp
giàn khoan biển của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch Vụ Khoan Dầu khí ở khu
vực Châu Á Thái Bình Dương, khu vực Bắc Phi, khu vực Bắc Mỹ, Khu vực Tây Âu
trên cơ sở so sánh với các đối thủ cạnh tranh như Transocean, Seadrill.
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài là
phương pháp nghiên cứu tại bàn: thông qua việc tìm kiếm, tập hợp, phân tích các
thông tin, dữ liệu từ các báo cáo, tài liệu của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch
Vụ Khoan Dầu khí; trang web của Hiệp hội các nhà thầu khoan thế giới, các tổ chức có
liên quan, các ấn phẩm, báo chí, bài viết, sách xuất bản, công trình nghiên cứu của các
tác giả trong và ngoài nước.
Phương pháp nghiên cứu lịch sử cũng được sử dụng trong quá trình thực hiện
đề tài, thông qua việc tìm hiểu quá trình hình thành ngành dầu khí; quá trình hình
thành PV Drilling; các sự kiện lịch sử nổi bật, có khả năng ảnh hưởng đến quá trình
hợp tác quốc tế của PV Drilling và chính sách đối ngoại Việt Nam qua các thời kỳ, từ
đó dẫn luận đến các đánh giá, phân tích và đưa ra kết quả của luận văn.


8

7. Kết cấu đề tài
Đề tài có kết cấu gồm 3 chương với 85 trang nội dung
Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của Tổng Công ty Cổ phần khoan và
dịch vụ khoan dầu khí (PV Drilling)
Chương 2: Hoạt động triển khai hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dầu khí của PV


Tập đoàn dầu khí Việt Nam (2011), Lịch sử ngành Dầu Khí Việt Nam (đến năm 2010), Tập 1, Nhà Xuất Bản
Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật, Hà Nội – trang 38.
2
Tập đoàn dầu khí Việt Nam (2011), Lịch sử ngành Dầu Khí Việt Nam (đến năm 2010), Tập 1, Nhà Xuất Bản
Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật, Hà Nội – trang 44.
3
Tập đoàn dầu khí Việt Nam (2011), Lịch sử ngành Dầu Khí Việt Nam (đến năm 2010), Tập 1, Nhà Xuất Bản
Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật, Hà Nội – trang 50.


10

cho thuê các thiết bị khoan, dịch vụ ứng cứu sự cố tràn dầu và xưởng cơ khí sửa chữa,
bảo dưỡng các thiết bị khoan. Với việc Vietsovpetro cùng hàng loạt các nhà thầu
khoan nước ngoài đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam thời kỳ sau Đổi Mới, PTSC Offshore
đã phát triển mạnh mẽ khi các giàn khoan nước ngoài lần lượt tiến vào Việt Nam, một
số giàn khoan lớn nổi tiếng thời bấy giờ là Maersk Convincer, Topaz Driller… của các
nhà thầu khoan lớn của thế giới như Idemitsu, BP, Transoceans, Sea Drill, Baker
Hughes… đã xuất hiện tại Việt Nam thời kỳ này.
Tuy nhiên, việc các giàn khoan nước ngoài lần lượt tiến vào vùng biển Việt
Nam theo các hợp đồng khoan với Vietsopetro và các nhà đầu tư lớn như BP,
Gazrom…có hợp tác với Tổng Công ty Dầu Khí Việt Nam, nay là Tập đoàn Dầu khí
Việt Nam (Vietnam Oil and Gas Group, gọi tắt là PetroVietnam), vùng biển nước ta
bấy giờ tràn ngập các giàn khoan và các tàu hỗ trợ từ nước ngoài, gây khó khăn cho
công tác đảm bảo quốc phòng và an ninh trên biển. Chính vì thế, ngoài việc tạo điều
kiện cho việc ổn định an ninh trên biển theo yêu cầu của Bộ Quốc Phòng, đồng thời
nhận thấy một tiềm năng to lớn cho một ngành dịch vụ kỹ thuật cao – ngành khoan dầu
khí - Chính phủ đã yêu cầu Tổng Công ty Dầu Khí Việt Nam thành lập một công ty
chuyên trách cho lĩnh vực khoan và các dịch vụ khoan. Trên cơ sở đó, với việc đã có

các hoạt động giàn khoan nước ngoài tại Việt Nam, mà trong đó cụ thể là PTSC
Offshore là công ty trực tiếp điều hành và cung cấp các dịch vụ này.
Năm 2001, do nhu cầu cung cấp dịch vụ khoan thăm dò và khai thác dầu khí
cho các Công ty dầu khí trong nước và nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam ngày
càng tăng, bên cạnh PTSC Offshore vốn có truyền thống và năng lực cung cấp các dịch
vụ về khoan và cho thuê thiết bị khoan phát triển mạnh; Vì vậy, trên cơ sở năng lực
hiện có của PTSC Offshore, ngày 26 tháng 11 năm 2001, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn
phòng Chính phủ đã ban hành quyết định số 647/QĐ-VPCP thành lập Công ty Khoan
và Dịch vụ khoan dầu khí (PetroVietnam Drilling and Well Services Company, viết tắt


12

là PV Drilling), đơn vị thành viên của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, dựa trên cơ sở
nguồn lực và cơ sở vật chất từ PTSC Offshore4.
Tháng 12 năm 2001, chỉ một tháng sau khi thành lập, PV Drilling đã hoàn thành
hơn 80% công đoạn chuyển giao tất cả các cơ sở vật chất, máy móc và sắp xếp lại
nhân lực. Đồng thời, đảm bảo công suất 100% cho các dịch vụ mà PTSC Offshore
đang cung cấp cho Idemitsu và Shell Corporation. Ngoài ra, thời gian này, PV Drilling
đã có kế hoạch mở rộng sang các dịch vụ công nghệ cao như chống tràn dầu, cung cấp
các dịch vụ nhân lực cho giàn khoan…tạo những nền móng vững chắc cho các kế
hoạch dài hạn trong tương lai.
Với việc chính thức thành công ty trực thuộc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam,
PV Drilling đã trở thành một trong những công ty tiên phong, là mũi nhọn chiến lược
của chính phủ trong việc hiện đại hóa ngành dầu khí còn non trẻ và lạc hậu so với thế
giới bấy giờ. Những năm tiếp theo, PV Drilling đã không ngừng tiến bộ, từ một Xí
Nghiệp nhỏ với nhiều hạn chế về nhân lực, công nghệ kỹ thuật, máy móc nhà xưởng,
PV Drilling đã dần hình thành thành một công ty có trình độ khá, nguồn nhân lực ổn
định, với những định hướng chắc chắn và kế hoạch dài hạn khả thi. Tuy nhiên, để trở
thành một ông lớn trong tương lai, PV Drilling giai đoạn này cần nhiều thứ hơn nữa,

lệ 23% các cán bộ biên chế hiện hành của PV Drilling, góp phần nâng cao chất lượng
nhân sự tại công ty, tạo thêm uy tín và năng lực dự thầu của PV Drilling cho các dự án
lớn hơn trong tương lai.
Tháng 6 năm 2002, khi hợp đồng giữa PetroVietnam và Liên Hiệp các nhà điều
hành mỏ lớn nhất của Nga gồm tập đoàn Gazrom, tập đoàn Zarubezhneftgas cho hợp
tác khai thác tại lô 112 mỏ Bạch Trĩ chính thức có hiệu lực, PV Drilling đã thành công
trong việc cung cấp dịch vụ sửa chữa ống khoan, cần khoan, dịch vụ đo karota và cung
cấp công nhân lao động cho các vị trí thấp trên các giàn khoan của Nga (chẳng hạn
như vị trí painter, roustabout…), góp phần nâng cao kinh nghiệm và năng lực hợp tác
quốc tế của PV Drilling. Giai đoạn khoan tại lô 112 kéo dài hai năm, từ 2002 đến 2004
đã giúp cho PV Drilling có điều kiện học hỏi nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong
việc hợp tác với một quốc gia có nền công nghiệp dầu mỏ phát triển mạnh của thế giới.
Đồng thời cũng tạo một sức bật cho sự phát triển mạnh mẽ hơn cho giai đoạn tiếp theo.


14

1.1.2.2 Giai đoạn phát triển xây dựng nền tảng mạnh mẽ từ năm 2003 đến năm
2007
Năm 2003, Lam Sơn JOC được thành lập dựa trên sự hợp tác giữa Tổng Công
Ty Dầu Khí Việt Nam và Tập đoàn Petronas Carigali của Malaysia nhằm điều hành
việc khai thác tại khu vực lô 01/97 và 02/975. Trong số các mỏ lớn của khu vực này,
PV Drilling đã giành được quyền cung cấp giàn khoan đầu tiên tại khu vực hai mỏ là
Đông Đô và Diamond. Đây chính là bước ngoặc lớn, đánh dấu sự trưởng thành vượt
bậc của PV Drilling chỉ sau 2 năm thành lập.
Giàn khoan mà PV Drilling cung cấp không phải là giàn của Việt Nam mà là
giàn được PV Drilling thuê lại từ các nhà thầu khoan lớn của nước ngoài, chính phát
kiến táo bạo này đánh dấu một con đường mới đầy thách thức nhưng cũng nhiều vinh
quang cho ngành khoan Việt Nam. Giàn Topaz Driller thuê từ nhà thầu khoan Vantage
Drilling Company của Hoa Kỳ chính là một trong những giàn khoan lớn nhất bấy giờ

triển khai quá trình huy động vốn và lựa chọn nhà thầu đóng giàn khoan mới. PV
Drilling đã trở thành người tiên phong trong ngành khoan Dầu Khí của Việt Nam khi
mà một năm trước đó, vẫn chưa nhiều người nghĩ rằng Việt Nam có thể đóng và vận
hành giàn khoan dầu khí sớm như vậy.
Quá trình hợp tác quốc tế giai đoạn này cũng được hình thành và xây dựng quy
trình rất mạnh mẽ. Các cán bộ chuyên môn liên tục được cử đi tu nghiệp và học tập
liên tục. Quy trình ISO-9000 được áp dụng toàn bộ hệ thống quản lý của PV Drilling,
Hệ thống mua sắm hàng hóa được hiện đại hóa với việc áp dụng thí điểm tại phòng Hỗ
trợ sản xuất hệ thống Maximo được mua từ Hoa Kỳ, hệ thống quản lý và vận hành
doanh nghiệp Oracle cũng được triển khai cho các hoạt động quản lý tại PV Drilling.
Hợp tác quốc tế còn thể hiện ở việc PV Drilling đã thuê hơn 20 chuyên gia nước ngoài,
chiếm tổng số 1/5 nhân sự của công ty lúc bấy giờ, nhằm vừa làm vừa đào tạo, cũng
vừa tạo một sự gắn kết hợp tác với các đối tác nước ngoài có nhân sự đang cho thuê tại
PV Drilling.7
Hình ảnh môt công ty trẻ và đang phát triển mạnh mẽ được Chính Phủ chú ý và
đặc biệt quan tâm. Một tiềm năng lớn lao đang được thể hiện tại công ty này với ngành
công nghiệp mũi nhọn là ngành khoan dầu, một ngành mới mẻ nhưng có một tiềm
7

Báo cáo thường niên PV Drilling năm 2006 – trang 82


16

năng lợi nhuận to lớn trong tương lai. Chính vì thế, để đưa PV Drilling lên một vị thế
mới, đồng thời đáp ứng theo Quyết định số 80/2000/QĐ-TTg với yêu cầu cổ phần hóa
06 doanh nghiệp của Tổng công ty Dầu Khí Việt Nam, Tổng Công ty Dầu Khí Việt
Nam đã có công văn số 543/CV-HĐQT trình “Báo cáo bổ sung Đề án tổng thể sắp xếp
doanh nghiệp nhà nước thuộc Tổng Công ty Dầu Khí Việt Nam”, trong đó, PV
Drilling sẽ trở thành công ty cổ phần vào năm 2005. Sau khi xem xét, Bộ trưởng Bộ

ra một quy trình toàn diện cho dịch vụ cung cấp giàn khoan và các dịch vụ khoan đi
kèm, thể hiện sự lớn mạnh và chuẩn bị toàn diện cho các hợp đồng thầu khoan chính
cho các dự án lớn trong và ngoài nước.
Cuối năm 2006, PV Drilling chính thức ký hợp đồng trị giá 300 triệu USD với
Tập đoàn Keppel Fels đóng mới giàn khoan Jack-up thế hệ mới nhất với tên gọi “PVD
1”, mở ra một kỷ nguyên mới cho PV Drilling nói riêng, và ngành khoan Việt Nam nói
chung10. Sau khi hoàn thành, giàn PVD 1 sẽ trở thành giàn khoan đầu tiên thuộc sở
hữu của Việt Nam và sẽ thực hiện các hợp đồng khoan với Cửu Long JOC tại khu vực
mỏ Sư Tử Trắng, với trữ lượng dầu dự kiến lên tới 300 triệu thùng và trữ lượng khí đốt
dự kiến từ 3 đến 4 tỷ m3.
1.1.2.3 Giai đoạn phát triển bền vững 2007 - 2010
Năm 2007, giàn khoan PVD 1 chính thức được khánh thành, trở thành giàn
khoan đầu tiên người Việt sở hữu 100% vốn. Đây là giàn khoan biển tự nâng đa năng
(Jack-up) thế hệ mới nhất của Keppel Fels, đánh dấu một bước phát triển mạnh trong
việc hợp tác quốc tế chặt chẽ và mạnh mẽ, đưa PV Drilling trở thành một nhà thầu
khoan trẻ nhưng đầy uy tín trên thị trường khoan quốc tế.
Không dừng lại với giàn PVD 1, ngay trong cùng năm 2007, PV Drilling đã cho
khánh thành giàn khoan đất liền đầu tiên của Việt Nam, Giàn khoan PVD 11. Giàn
khoan này là kết quả của sự hợp tác giữa PV Drilling và tập đoàn Honghua, Trung
Quốc, một trong những Tập Đoàn đóng giàn khoan lớn nhất thế giới hiện nay.
Hai sự kiện liên tiếp, hai thành công liên tiếp đã đưa PV Drilling trở thành một
trong những công ty lớn nhất của Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam (tiền thân là Tổng công
ty Dầu Khí Việt Nam). Từ giữa năm 2007, sau khi tiếp tục thành lập thêm đơn vị trực
thuộc Xí Nghiệp Điều hành Khoan (Drilling Division) và hai công ty con gồm: Công
ty Cổ Phần Đào Tạo Kỹ Thuật PVD (PVD Training) chuyên phụ trách mảng đào tạo
huấn luyện và cung ứng dịch vụ tư vấn kỹ thuật liên quan đến các lĩnh vực hoạt động
10

Thư giới thiệu hợp tác khoan thăm dò của PV Drilling gửi Cửu Long JOC ngày 5 tháng 11 năm 2009, trang 02


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status