Giải pháp thúc đẩy đào tạo khoa học và công nghệ thông qua hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ ở việt nam - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
–––––––––––––––––––

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
––––––––––––––––––––––

LÊ THU HIỀN

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐÀO TẠO NHÂN LỰC
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG QUA
HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC
CÔNG NGHỆ VŨ TRỤ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.04.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. Mai Hà

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Mai Hà. Các số
liệu sử dụng trong luận văn có trích dẫn nguồn rõ ràng, không sao chép của

NHÂN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC CÔNG
NGHỆ VŨ TRỤ ....................................................................................................65
3.1. Những định hướng ưu tiên về hợp tác đào tạo trong lĩnh vực Công nghệ
vũ trụ................................................................................................................ 65
3.2. Một số giải pháp ....................................................................................... 70
3.3. Nhiệm vụ của các Bộ, ngành ................................................................... 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................81


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CNVT

: Công nghệ vũ trụ

KH&CN

: Khoa học và công nghệ

OECD

: Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế

ĐH

: Đại học




ĐH KHTN- ĐHQG

: Đại học khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng cán bộ phục vụ công nghệ vũ trụ tại Việt Nam ............... 34
Bảng 2.2. Đào tạo nhân lực Công nghệ vũ trụ tại khoa địa lý, ĐH KHTNĐHQG Hà Nội................................................................................................. 36
Bảng 2.3. Đào tạo nhân lực CNVT tại Đại học Mỏ -Địa chất ....................... 37
Bảng 2.4. Tình hình cử cán bộ CNVT nước ta đi đào tạo tại nước ngoài ...... 40
Bảng 2.5. Kinh phí dùng cho hoạt động đào tạo nguồn nhân lực CNVT ....... 41
Bảng 2.6. Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ CNVT của nước ta ....... 43
Bảng 2.7. Các văn bản pháp luật và quyết định liên quan đến Công nghệ Vũ
trụ và phát triển nhân lực ................................................................................ 45
Bảng 2.8. Trình độ học vấn của nhân lực công nghệ vũ trụ nước ta ............. 46


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với sự phát triển của KH&CN, nguồn nhân lực có một vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Toàn cầu hoá là quá trình
hội nhập của các quốc gia trên thế giới thông qua thương mại, các dòng vốn,
việc phổ biến thông tin, di chuyển nhân lực, liên kết hợp tác giữa các doanh
nghiệp và các tổ chức. Sự di chuyển của nhân lực, hàng hoá, dịch vụ và các ý
tưởng đã vượt ra khỏi biên giới các quốc gia trên một quy mô lớn. Tác động
của KH&CN và cách thức mà KH&CN đóng góp vào kinh tế của các quốc
gia hiện nay cũng như trong tương lai là vấn đề cần được ghi nhận.
Tuy nhiên, trên thực tế nhân lực Công nghệ Vũ trụ của Việt Nam hiện
nay đang tồn tại nhiều hạn chế, Công nghệ vũ trụ có thể chuyển giao từ nước
ngoài nhưng đội ngũ nhân lực chưa đủ trình độ để làm chủ công nghệ, ứng

Các bài báo, diễn đàn, các đề tài nghiên cứu… đề cập đến sự bất hợp lý
trong việc quản lý, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực KH&CN.
Một số kinh nghiệm trong quản lý nhân lực khoa học và công nghệ ở
một số nước như: Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc… Họ luôn có các biện
pháp chuyển đổi chế độ nhân sự trong cơ chế quản lý nhân lực KH&CN thích
ứng với từng thời kỳ phát triển.
Các văn bản quy phạm pháp luật quy định, cho phép các tổ chức, cá
nhân hoạt động KH&CN được thành lập các tổ chức KH&CN, đồng thời từng
bước chuyển từ chế độ biên chế Nhà nước sang chế độ hợp đồng lao động.
Đây là khâu đột phá nhằm sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực KH&CN,
nhưng đáng tiếc là những vấn đề này chưa được triển khai thực hiện hoặc
thực hiện chưa rộng rãi.
Bên cạnh đó, trên thế giới cũng có một vài nghiên cứu liên quan đến
nguồn nhân lực KH&CN như: Nghiên cứu Developing human resources of
the Solar Systerm của Michael Duke và Jeffrey Taylor (2012), nghiên cứu
Developing human resources in UAE’s emerging space industry is important

2


của tác giả Thamer Al Subaihi (2014) hay nghiên cứu của Trung tâm khoa
học vũ trụ và Giáo dục Công nghệ trực thuộc Liên Hiệp Quốc (2013) về
Capacity-building in space science and technology....
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của Luận văn là:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về đào tạo và phát triển nguồn nhân
lực cũng như những vấn đề liên quan đến hợp tác quốc tế trong hoạt động
khoa học và công nghệ;
- Đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân thành công và những vấn
đề còn tồn tại trong chính sách hợp tác quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả đào

7. Cơ cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nhân lực trong lĩnh vực khoa học
công nghệ và hợp tác quốc tế trong điều kiện hội nhập quốc tế
Chương 2: Thực trạng đào tạo nhân lực về công nghệ vũ trụ ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực CNVT thông qua chính sách hợp tác
quốc tế ở Việt Nam

4


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC
TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ VÀ HỢP TÁC QUỐC TẾ
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1. Nhân lực Khoa học công nghệ và đào tạo, phát triển nhân lực Khoa
học và công nghệ
1.1.1. Khái niệm về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực
Nhân lực khoa học và công nghệ được phát triển trên nền tảng của nguồn
nhân lực. Tuy nhiên, nhân lực Khoa học và công nghệ góp phần quyết định
nâng cao chất lượng và số lượng của nguồn nhân lực. Để cắt nghĩa điều đó,
trước khi đi sâu nghiên cứu nhân lực Khoa học và công nghệ, chúng ta cần
xem xét những định nghĩa hoặc khái niệm chung nhất về nguồn nhân lực và
phát triển nguồn nhân lực nói chung.
- Khái niệm nguồn nhân lực:
Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành
nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực
tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng (Trịnh
Xuân Định, 1997)
Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá được trong công

hiểu là sự huy động tối đa toàn bộ kỹ năng, tri thức và tiềm năng của dân số
vào các hoạt động sản xuất vật chất và phi vật chất, vì mục tiêu phát triển của
mỗi cộng đồng”.
1.1.2. Khái niệm nhân lực Khoa học và công nghệ
Hiện nay trên thế giới có khá nhiều công trình nghiên cứu về nhân lực
KH&CN. Tuy nhiên, một số nghiên cứu, bài viết trên báo/tạp chí đề cập đến
nhân lực KH&CN, trong khi một số khác lại đề cập đến nhân lực R&D hay
nhân lực mang tính chất “tiềm năng”. Vậy nên hiểu như thế nào về nhân lực
KH&CN?

6


Từ các tài liệu chính thức của Bộ KH&CN, định nghĩa được dựa theo
cuốn “Cẩm nang về đo lường nguồn nhân lực KH&CN”, xuất bản năm 1995
tại Paris của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Nhân lực
KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau
đây:
1) Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng về một lĩnh vực KH&CN;
2) Tuy chưa đạt được điều kiện trên nhưng làm việc trong một lĩnh vực
KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tương đương (Bộ KH&CN, 2003)
Theo định nghĩa trên, nhân lực KH&CN được diễn giải gồm những
người:
1) Đã tốt nghiệp ĐH-CĐ và làm việc trong một ngành KH&CN;
2) Đã tốt nghiệp ĐH-CĐ, nhưng không làm việc trong một ngành
KH&CN nào;
3) Chưa tốt nghiệp ĐH-CĐ, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực
KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương.
Khái niệm này dường như quá rộng để thể hiện hoạt động KH&CN của
một quốc gia. Do vậy, các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên

hai khái niệm này là: “Tổng số nhân lực có trình độ” cần phải được xem xét
như một đại lượng đo, qua đó có thể biết được tổng số những người được đào
tạo để có năng lực trở thành nhà khoa học và kỹ sư bất kể hiện tại họ có làm
việc theo năng lực này hay không. Nói một cách khác, đại lượng này thể hiện
cho tiềm năng của một quốc gia về nhân lực KH&CN. Trong khi đó, thống kê
về “Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác” phản ánh số lượng cán bộ
thực sự đang làm việc theo năng lực của họ (không chắc là làm trong lĩnh vực
KH&CN hay không) và đang đóng góp cho các hoạt động kinh tế-xã hội của
một đất nước.
Trên cơ sở phân biệt như vậy, UNESCO đã đưa ra sự phân biệt tương
đối giữa các khái niệm nhân lực trong lĩnh vực KH&CN nói chung như sau:
Hiểu về nội hàm các khái niệm liên quan đến nhân lực trong lĩnh vực
KH&CN là như vậy nhưng để đo lường được thì không chỉ đơn giản là phép
tính cộng tổng đầu người. Theo khuyến nghị của OECD và UNESCO (được

8


nhiều nước áp dụng), bên cạnh việc đếm đầu người cần phải tính đến yếu tố
khác như: Quy đổi tương đương thời gian làm việc đầy đủ (Full-Time
Equivalent, FTE) và các đặc trưng của họ. Việc đưa ra thông số nhân lực theo
FTE sẽ giúp các nhà nghiên cứu và phân tích có được cái nhìn xác thực hơn
về thực trạng và năng lực KH&CN hay R&D của một quốc gia, một ngành,
qua đó có được những tư vấn hay đối sách thích hợp để thúc đẩy phát triển
(OECD, 2002)
Hệ thống số liệu về nhân lực KH&CN chính thức của nước ta hiện nay
mới chỉ là phương thức “đếm đầu người” gồm những người có trình độ ĐHCĐ trở lên (Bộ KH&CN, 2003). Các lực lượng tham gia hoạt động KH&CN
nước ta, gồm 5 thành phần chủ yếu sau đây:
1. Cán bộ nghiên cứu trong các viện, trường đại học.
2. Cán bộ kỹ thuật, công nghệ (kỹ thuật viên, kỹ sư, kỹ sư trưởng, tổng

bao gồm tất cả các lĩnh vực như nâng cao chất lượng dân số, giáo dục, đào
tạo, nâng cao sức khỏe, dạy nghề, tạo việc làm, quản lý và sử dụng có hiệu
quả nguồn nhân lực KH&CN. Do đó để phát triển nguồn nhân lực KH&CN,
phải tiến hành đồng bộ các nội dung như đào tạo, dạy nghề, tái đào tạo, hỗ trợ
vốn, công nghệ, tín dụng, tạo điều kiện cho nhân lực.
Từ những phân tích trên, đào tạo phát triển nguồn nhân lực KH&CN
chính là quá trình biến đổi nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm lực KH&CN;
là phát triển nhân cách và cấu trúc nhân cách; phát triển cả năng lực vật chất
về nghiên cứu, ứng dụng KH&CN và năng lực tinh thần, ngày càng nâng cao
cả về đạo đức, nghề nghiệp, hoàn thiện từng bước cao hơn cả về tinh thần và
hành vi của mỗi con người trong phát triển KT-XH của mỗi quốc gia.
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực KH&CN bao gồm những nội dung
cơ bản là phát triển quy mô và cơ cấu hợp lý; đào tạo nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực KH&CN đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH.
1.1.3.2. Đặc điểm của chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Mọi chủ thể kinh tế - xã hội đều có những chính sách của mình. Có
chính sách của cá nhân, chính sách của doanh nghiệp, chính sách của Đảng,
chính sách của một quốc gia, chính sách của một liên minh các nước hay tổ
chức quốc tế…Nó là phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và
thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại.

10


Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là hệ thống các quan
điểm, mục tiêu về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cùng những phương
thức hành động được ban lãnh đạo trong một tổ chức khẳng định và thực hiện
nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại trong một giai đoạn phát triển
nhất định của mỗi tổ chức. Nó có những đặc điểm như sau:
- Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nhằm mục tiêu thúc

vực công nghệ vũ trụ
Công nghệ vũ trụ là một ngành công nghệ cao, được tích hợp từ nhiều
ngành khoa học công nghệ khác nhau nhằm chế tạo và ứng dụng các phương
tiện như vệ tinh, tàu vũ trụ, tên lửa đẩy, trạm mặt đất, v.v… để khám phá,
chinh phục và sử dụng khoảng không vũ trụ vì lợi ích con người. Khoa học
công nghệ vũ trụ ngày nay được ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả thiết thực
trong phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, … tại
hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các nước đang phát triển (Tạ Bá
Hưng và Phùng Minh Lai, 2010).
Trong giai đoạn hiện nay, để phát triển ngành công nghệ vũ trụ thì đào
tạo nguồn nhân lực về KH&CN trong lĩnh vực công nghệ là công tác có vai
trò quan trọng nhất.
Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực về KH&CN trong lĩnh vực công nghệ
là quá trình học tập lâu dài, cung cấp kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ cho
đội ngũ cán bộ nhằm phát triển một đội ngũ cán bộ đủ mạnh để làm chủ công
nghệ chế tạo các trạm mặt đất, tự chế tạo các trạm mặt đất có giá cạnh tranh;
làm chủ công nghệ vệ tinh nhỏ, tự thiết kế và chế tạo vệ tinh nhỏ quan sát trái
đất…, đáp ứng rộng rãi và thường xuyên nhu cầu của các ngành sản xuất,
dịch vụ, giáo dục, y tế, mở rộng và thương mại hoá các sản phẩm ứng dụng
công nghệ hàng không vũ trụ (Tạ Bá Hưng và Phùng Minh Lai, 2010).
1.2.2. Đặc thù của chính sách đào tạo và phát triển nhân lực về Khoa học
và công nghệ trong lĩnh vực Công nghệ vũ trụ
Ngành công nghệ vũ trụ là một ngành tương đối đặc thù, do vậy chính
sách đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực này cùng có những đặc thù như
sau:
- Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực về KH&CN trong lĩnh
vực CNVT được điều chỉnh ở phạm vi quốc gia.

12


nghệ vũ trụ bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

13


* Chính sách điều tra, phân tích nhu cầu thực tế về đào tạo nguồn
nhân lực công nghệ vũ trụ
Đào tạo nguồn nhân lực phải đảm bảo mục tiêu nâng cao kỹ năng, trình
độ chuyên môn cho nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu thực tiễn trong lĩnh
vực công nghệ vũ trụ và đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Do đó, nhà nước cần
có những chính sách cụ thể để xác định đúng nhu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ
này:
- Điều tra, phân tích môi trường thường xuyên để kịp thời cập nhật
những yêu cầu, đòi hỏi mới của ngành công nghệ vũ trụ nước ta.
- Chính sách định hướng sự phát triển của ngành công nghệ vũ trụ,
những dự án có dự định triển khai trong tương lai để tiến hành đào tạo các
kiến thức đón đầu cho nguồn nhân lực.
* Chính sách quy định tiêu chuẩn, yêu cầu để lựa chọn những đối
tượng đi đào tạo
Chính sách đào tạo nguồn nhân lực về KH&CN trong lĩnh vực CNVT là
chính sách mang tính chiến lược, lâu dài của nước ta và nguồn kinh phí dùng
cho quá trình đào tạo rất lớn. Do đó, khi cử các cán bộ đi đào tạo, Nhà nước
phải đưa ra những yêu cầu về thâm niên công tác, cống hiến với cơ sở và
những điều kiện cống hiến sau đào tạo…đòi hỏi đối tượng được cử đi đào tạo
phải có trách nhiệm với những quyền lợi được hưởng. Nhờ đó có những chính
sách thích hợp với từng đối tượng và đảm bảo hiệu quả của công tác đào tạo,
lợi ích thu về bù đắp được chi phí đào tạo.
* Chính sách liên kết với các cơ sở đào tạo nước ngoài để cử cán bộ đi
đào tạo
Hiện nay, nhu cầu nguồn nhân lực công nghệ vũ trụ chất lượng cao, trình

đào tạo
“Một trong những phần việc đáng làm nhất trong vai trò của một nhà
lãnh đạo là giúp người khác bật lên những thế mạnh của họ và làm cho những
điểm yếu trở nên không đáng kể” [Peter Drucker]. Không thể phủ nhận rằng
con người có thể học kỹ năng mới, kiến thức mới để nâng cao khả năng sẵn
có của mình. Điều này vượt qua khả năng tự nhiên của con người, do đó đào
tạo là việc cần thiết phải làm. Nhưng mục đích của đào tạo không phải là tìm
cách để “ sửa chữa” con người. Nhiều người lãnh đạo đã tiêu tốn không biết
bao nhiêu thời gian, tiền của và công sức để dạy bay cho những người sẽ

15


không bao giờ bay nổi. Những nhà quản lý phải chấp nhận một thực tế rằng
có những việc mà một số người không bao giờ có thể làm cho tốt được. Vì
vậy một nhà lãnh đạo giỏi phải biết được điểm mạnh của từng cán bộ là gì?
Anh ta đã được đào tạo thích hợp chưa? Anh ta có hiểu được nhiệm vụ của
mình không? Và Anh ta đã được đặt đúng vị trí chưa?. Chừng nào đội ngũ
cán bộ đều đã được đặt đúng vị trí thích hợp thì các chính sách đào tạo nguồn
nhân lực công nghệ vũ trụ mới thực sự có ý nghĩa. Muốn vậy, các nhà quản lý
nước ta phải quan tâm đến hai chính sách:
- Tiến hành phân tích tình trạng nguồn nhân lực công nghệ vũ trụ thường
xuyên để xem xét sự phù hợp của công việc, từ đó cơ cấu lại hoạt động trong
từng giai đoạn nhằm đảm bảo hệ thống luôn trong trạng thái hoạt động hiệu
quả nhất.
- Tiến hành đánh giá năng lực của từng cán bộ công nghệ vũ trụ theo
định kỳ và khả năng của từng người để lên kế hoạch đào tạo hoặc tái đào tạo
với mục đích nâng cao hơn nữa hiệu quả công việc của từng cán bộ.
- Quy hoạch các nguồn lãnh đạo kế cận trong tương lai để có chiến lược
đào tạo hợp lý để bổ sung vào hàng ngũ lãnh đạo của cơ sở công nghệ vũ trụ

chính sách xã hội của mỗi quốc gia.
Xem xét chất lượng nhân lực nói chung, nhân lực KH&CN nói riêng
trước hết phải xem xét chất lượng cuộc sống của dân cư nói chung. Chỉ số
GDP bình quân đầu người là chỉ số liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng cuộc sống của nhân lực, đến mặt thể lực của nhân lực… Nó phụ thuộc
vào quy mô và tốc độ phát triển GDP cũng như quy mô và tốc độ gia tăng dân
số. Quan hệ giữa chỉ số này với nhân lực được cụ thể hóa trong các chỉ tiêu
như: điều kiện sức khỏe, dinh dưỡng, chăm sóc y tế, chất lượng nhà ở, mức
tiêu thụ các hàng hóa dịch vụ… Vì có phát triển kinh tế mới có điều kiện cải
thiện cuộc sống con người, có điều kiện chăm sóc sức khỏe, có điều kiện để
phát triển giáo dục và đào tạo. Ở các nước có nền kinh tế phát triển, GDP bình
quân/đầu người/năm và tuổi thọ thường cao.
Trình độ phát triển kinh tế góp phần quan trọng vào việc nâng cao mức
sống, cải thiện tình hình sức khỏe và dinh dưỡng của con người. Tuy nhiên,
không thể khẳng định điều ngược lại, một đất nước có trình độ dân trí cao là
nước có nền kinh tế phát triển, vì trong thực tế có rất nhiều quốc gia có trình
độ văn hóa cao, nhưng phát triển kinh tế lại có phần hạn chế, ví dụ nước Nga.

17


Điều đó chứng tỏ rằng, một quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao,
nhưng nếu không có chính sách sử dụng và khai thác đúng đắn nguồn nhân
lực đó thì cũng không phát triển được.
Sự phát triển KT-XH bao giờ cũng kéo theo quá trình đô thị hóa, thường
thì các nước công nghiệp, dân số sống ở thành thị chiếm tỷ lệ cao. Tỷ lệ dân
thành thị cao sẽ tạo điều kiện phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp
phần trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN, nâng cao ý thức
tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp cho lực lượng này. Dân số thành thị
cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao

toàn cầu hóa là quá trình tri thức hóa nền kinh tế thế giới.
Thực tế cho thấy, quốc gia nào quan tâm đến GD&ĐT thì quốc gia đó có
nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo điều kiện cơ bản cho sự phát triển KT-XH
của đất nước. Chúng ta biết rằng, nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân
lực KH&CN không phải tự nhiên mà có được, muốn có phải thông qua quá
trình GD&ĐT lâu dài và luôn đổi mới phù hợp với yêu cầu của tiến bộ
KH&CN. GD&ĐT giúp cho mỗi người lao động thực hiện và vận động, cải
thiện sức khỏe và dinh dưỡng, làm giảm quy mô gia đình.
Để thúc đẩy sự nghiệp GD&ĐT phát triển, chính phủ các nước đã không
ngừng tăng ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Thông thường các nước
đều dành cho GD&ĐT khoảng 18 – 23% từ ngân sách nhà nước. Bên cạnh
đó, các quốc gia rất coi trọng việc huy động các vốn, cơ sở vật chất từ mọi
nguồn cho GD&ĐT, đặc biệt là huy động nguồn vốn trong mọi tầng lớp nhân
dân. Bởi, đầu tư cho GD&ĐT là đầu tư cho phát triển, đầu tư mang lại lợi
nhuận cao hơn rất nhiều so với đầu tư vật chất.
Ngày nay, khi tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì chất
lượng nhân lực KH&CN trở thành tài nguyên, và do đó muốn phát triển và sử
dụng nó một cách hiệu quả, không có con đường nào khác ngoài con đường
học tập, đào tạo và tự đào tạo. Chính vì thế mỗi quốc gia cần phải có một hệ
thống GD&ĐT phù hợp để tạo điều kiện cho mọi người dân có thể học ở bất
cứ đâu và bất cứ lúc nào, coi trọng mọi cấp học, đặc biệt chú trọng tới các bậc
đào tạo cao như cao đẳng, đại học. Phát triển con người, trong đó có nhân lực
KH&CN là nhiệm vụ trung tâm của xã hội, vì đó là yếu tố then chốt nhất tạo
ra giá trị cho nền kinh tế, ở đây GD&ĐT đóng vai trò quyết định. Đối với
nước ta, để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp
thì việc cải cách GD&ĐT đang là một yêu cầu cấp bách.

19



20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status